Điểm báo điện tử ngày 18/7/2014
19/07/2014
0

Chưa tìm thấy chất gây ung thư trong khoai tây chiên KFC và bim bim
Cục An toàn Thực phẩm – Bộ Y tế vừa có công bố kết quả kiểm kiểm nghiệm các mẫu khoai tây chiên và bim bim trên địa bàn Hà Nội. Theo kết quả này, các mẫu được kiểm tra đều an toàn.
Gần đây, cơ quan An toàn thực châu Âu (EFSA) vừa phát hiện một hóa chất có tên là acrylamide gây ung thư được tìm thấy trong bim bim, cà phê, khoai tây chiên, bánh mì nướng bị cháy, khoai tây chiên giòn và một số loại thức ăn nhanh của trẻ em gây ảnh hưởng tới sức khỏe cộng đồng.
Ngay khi có thông tin cảnh báo, Cục An toàn thực phẩm – Bộ Y tế đã chỉ đạo Viện Kiểm nghiệm An toàn vệ sinh thực phẩm nhanh chóng triển khai giám sát, lấy mẫu để kiểm nghiệm acrylamide và PAHs (các chất gây ung thư) trong các sản phẩm có nguy cơ cao, phổ biến trên địa bàn Hà Nội.
Kết quả đã giám sát các sản phẩm là Bim bim bò bít tết Mahatan – Poca, Bim bim khoai tây tươi cắt lát – Poca, Bim bim O’sta – vị kim chi Hàn Quốc ORION, khoai tây chiên KFC, khoai tây chiên BBQ, khoai tây chiên Lotteria… đang kinh doanh tại chợ Nguyễn Cao, phố Bà Triệu, Lò Đúc – Hà Nội. Tất cả các sản phẩm trên đều không phát hiện chất Acrylamide và PAHs (Polycyclic Aromatic Hydrocarbons - một nhóm các hợp chất hữu cơ có khả năng gây ung thư tiềm tàng, gây đột biến và là chất gây ô nhiễm môi trường)
Như vậy, để giảm thiểu nguy cơ phát sinh Acrylamide trong các sản phẩm chiên, nướng, các cơ sở chế biến, kinh doanh thực phẩm và các hộ gia đình trong quá trình chế biến thức ăn cần lưu ý: Sơ chế, xử lý nguyên liệu thực phẩm trước khi chế biến: gọt vỏ, thái lát khoai tây và ngâm trong nước sạch ít nhất 30 phút trước khi chiên… Chia bánh mỳ thành nhiều lát nhỏ trước khi nướng. Thực phẩm không nên rán hoặc nướng lại nhiều lần. Không chế biến thức ăn từ tinh bột và đường với nhiệt độ chiên, nướng quá cao trong thời gian dài.
http://giadinh.net.vn/y-te/chua-tim-thay-chat-gay-ung-thu-trong-khoai-tay-chien-kfc-va-bim-bim-20140717101647990.htm
Ăn gan cá nóc, một cụ ông tử vong
Chiều tối 17.7, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Phú Yên xác nhận, bệnh nhân Lê Bắp đã tử vong lúc hơn 14 giờ cùng ngày, do ngộ độc cá nóc quá nặng.
Trước đó, ông Lê Bắp (66 tuổi, trú ở xã An Ninh Tây, huyện Tuy An) nhập viện trong tình trạng chân tay tê cứng, hôn mê sâu, trụy mạch.
Theo người nhà nạn nhân cho biết, vào trưa 16.7, ông Bắp cùng vợ chồng con trai tên Lê Quốc Hòa ăn cơm với cá nóc.
Tuy nhiên, ông Bắp ăn luôn phần gan cá nên bị trúng độc sau đó vài phút. Gia đình đã đưa ông Bắp đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa huyện Tuy An, sau đó chuyển đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh Phú Yên để điều trị nhưng không qua khỏi.
http://laodong.com.vn/xa-hoi/an-gan-ca-noc-mot-cu-ong-tu-vong-226002.bld
Cơ sở sản xuất nem chua bẩn bị đình chỉ hoạt động
Cơ sở sản xuất nem chua Hoa Cải tại địa chỉ tổ 1, khu 2, phường Ba Đình, thị xã Bỉm Sơn (Thanh Hóa) phải nộp phạt hành chính 14 triệu đồng và ngừng hoạt động sau khi bị phát hiện sản xuất nem chua không bảo đảm an toàn thực phẩm.
Hôm nay 17-7, Cục trưởng Cục An toàn thực phẩm (Bộ Y tế) Trần Quang Trung cho biết như trên về kết quả kiểm tra, xử lý cơ sở sản xuất nem chua tại thị xã Bỉm Sơn, Thanh Hóa sau khi trên một số trang báo mạng có đưa thông tin, hình ảnh về cơ sở sản xuất nem chua Hoa Cải không bảo đảm an toàn thực phẩm gây hoang mang trong dư luận vào tháng 6 vừa qua.
Theo đó, phòng Y tế, công an thị xã Bỉm Sơn đã phối hợp với Đội Quản lý thị trường số 5 tiến hành kiểm tra tại cơ sở sản xuất nem chua Hoa Cải tại địa chỉ: tổ 1, khu 2, phường Ba Đình, thị xã Bỉm Sơn. Qua quá trình kiểm tra, cơ sở đã vi phạm: không có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, không có giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện ATTP, không có giấy khám sức khỏe định kỳ và giấy xác nhận tập huấn kiến thức ATTP theo quy định.
Đoàn đã tiến hành lập biên bản và xử phạt vi phạm hành chính các hành vi nêu trên với số tiền xử phạt là 14 triệu đồng. Cơ sở đã chấp hành xử phạt và ngừng hoạt động.
Qua sự việc trên, Cục ATTP đề nghị Sở Y tế các tỉnh, thành phố tiếp tục chỉ đạo sát sao các các cơ quan chức năng địa phương duy trì kiểm tra, kiểm soát các cơ sở kinh doanh, sản xuất thực phẩm trên địa bàn; đôn đốc, nhắc nhở các cơ sở chấp hành nghiêm chỉnh các quy định để các sản phẩm sản xuất ra, đặc biệt là các sản phẩm đặc sản của mỗi địa phương, bảo đảm chất lượng ATTP, giữ gìn uy tín và thương hiệu của mỗi sản vật.
http://www.nhandan.org.vn/suckhoe/tin-tuc/item/23801002-co-so-san-xuat-nem-chua-ban-bi-dinh-chi-hoat-dong.html
Dịch truyền HES còn thiếu thông tin về độ an toàn
Cục Quản lý Dược (Bộ Y tế) vừa có văn bản khuyến cáo không sử dụng dịch truyền hydroxyethyl starch (HES) cho bệnh nhân nhiễm trùng huyết, tổn thương do bỏng hoặc bệnh nhân nặng do nguy cơ tổn thương thận và tử vong liên quan đến việc sử dụng dịch truyền HES.
Hiện còn thiếu các thông tin về độ an toàn dài hạn của dịch truyền HES sử dụng trên bệnh nhân chấn thương và phẫu thuật. Do đó, cán bộ y tế cần cân nhắc những lựa chọn điều trị sẵn có khác khi sử dụng dịch truyền HES trên các đối tượng bệnh nhân này. Dịch truyền HES chống chỉ định sử dụng cho các đối tượng bệnh nhân: Suy thận hoặc bệnh nhân sử dụng các liệu pháp thay thế thận. Ngừng dịch truyền HES ngay khi có các dấu hiệu tổn thương thận đầu tiên.
Các bệnh nhân đã được điều trị bằng dịch truyền HES cần được theo dõi chức năng thận trong thời gian ít nhất 90 ngày sau khi dùng thuốc. Ngừng sử dụng dịch truyền HES ngay khi có dấu hiệu rối loạn đông máu. Trong trường hợp vẫn tiếp tục sử dụng dịch truyền này, cần theo dõi chặt chẽ các chỉ số đông máu của bệnh nhân.
http://laodong.com.vn/suc-khoe/dich-truyen-hes-con-thieu-thong-tin-ve-do-an-toan-225897.bld
Bệnh nhân cấp cứu bị “cắt” quyền lợi bảo hiểm: Bệnh cấp cứu do bác sĩ bệnh viện quyết định
Để bảo vệ quyền lợi bệnh nhân cấp cứu, việc xác định bệnh nào nguy hiểm tính mạng, bệnh nào không là rất quan trọng.
Như báo Pháp Luật TP.HCM ngày 17-7 đã đặt vấn đề (xem bài “Bệnh nhân cấp cứu bị “cắt” quyền lợi”), bệnh nhân cấp cứu cùng một loại bệnh như đau đầu, chóng mặt, sốt, ói…, đặc biệt là trong tình huống đêm khuya, có bệnh viện chấp thuận cấp cứu và cho hưởng chế độ BHYT 100% (dù trái tuyến) nhưng cũng có bệnh viện chỉ cho hưởng BHYT 30%; trong khi Luật BHYT quy định bệnh nhân có BHYT đi cấp cứu ở bất cứ tuyến nào cũng được hưởng đầy đủ quyền lợi. Nhằm làm rõ hơn tại sao có sự khác biệt này, PV báo Pháp Luật TP.HCM đã gặp trực tiếp những người có trách nhiệm của một số bệnh viện lớn để tìm câu trả lời.
Hạn chế bệnh nhân vượt tuyến: Một lãnh đạo bệnh viện (không muốn nêu tên) thú nhận: “Do phía BHYT xuất toán nhiều quá nên bệnh viện sợ thâm quỹ. Khi xuất toán, BHYT thường dựa lý do tại sao người dân cấp cứu không vào bệnh viện quận/huyện mà đến tuyến trên, trong khi bệnh này bệnh viện quận/huyện trị được?”. Vị lãnh đạo này nêu ví dụ mới đây có bệnh nhân ở tỉnh Long An đi cấp cứu cố tình vượt tuyến, thuê xe lên thẳng bệnh viện tuyến trên ở TP.HCM. Theo quy định thì bệnh nhân cấp cứu có quyền đến bất kỳ bệnh viện nào nhưng trong trường hợp này bệnh viện tuyến tỉnh xử lý được mà bệnh nhân cứ đổ lên tuyến trên thì bệnh viện tuyến trên chịu thêm nhiều áp lực không đáng có.
Theo BS Nguyễn Thành Dũng, Trưởng phòng Kế hoạch-Tổng hợp BV Bệnh nhiệt đới TP.HCM, khi tiếp bệnh nhân cấp cứu, nhiệm vụ của bệnh viện là xác định bệnh nhân thuộc một trong hai dạng bệnh: Bệnh cấp cứu đe dọa đến tính mạng (được hưởng 100% BHYT) và bệnh người dân nghĩ là cần cấp cứu (chỉ hưởng 30% BHYT). BS Dũng cũng khẳng định bác sĩ bệnh viện là người quyết định việc này. “Phía BHYT không quá khắt khe chuyện này, có trường hợp không rõ ràng có thể bốc điện thoại hỏi BHYT” - BS Dũng nói.
Cũng theo BS Dũng, trên thực tế có khá nhiều bệnh nhân cấp cứu vượt tuyến với các triệu chứng thông thường như sốt hay chóng mặt, nôn ói nhiều, đau bụng… nên chỉ được thanh toán 30% BHYT. “Chúng tôi cũng rất trăn trở vấn đề này. Nếu cấp cứu ở cơ sở thì được thanh toán hết” - BS Dũng tâm sự và cho rằng cần phát triển hệ thống y tế cơ sở ngày càng chất lượng hơn để người dân yên tâm đến điều trị, thay vì bệnh nhẹ cũng đổ lên tuyến trên.
Bác sĩ nhận định phải khách quan: Như vậy để bảo vệ quyền lợi bệnh nhân cấp cứu, việc xác định bệnh nào nguy hiểm tính mạng, bệnh nào không là rất quan trọng. Tuy nhiên, theo BS Nguyễn Minh Quân, Giám đốc BV quận Thủ Đức, thì việc đánh giá bệnh nào cấp cứu hay không cấp cứu rất phức tạp và đau đầu. BS Quân nêu ví dụ cùng một loại bệnh viêm dạ dày nhưng một bệnh nhân vào bệnh viện trong tình trạng đau đớn, rên la, được bác sĩ xử lý ngay thì thuộc diện cấp cứu; trong khi bệnh nhân khác chỉ đau âm ỉ, bác sĩ đánh giá thấy ổn thì chuyển họ sang phòng khám.
TS-BS Nguyễn Đình Phú, Phó Giám đốc BV Nhân dân 115, giải thích việc xác định này đòi hỏi yếu tố chuyên môn cao nên nhận định của bác sĩ phải khách quan, chính xác chứ không phụ thuộc vào quy định nào của BHYT. “Tuy nhiên, theo quy định của BHYT, bệnh nhân bắt buộc phải đi đúng tuyến đầu tiên, nếu cố tình đến BV 115 thì chỉ được hưởng 30%, trừ bệnh nhân vùng sâu, vùng xa như Cần Giờ” - TS Phú nhấn mạnh.
http://plo.vn/suc-khoe/benh-cap-cuu-do-bac-si-benh-vien-quyet-dinh-483171.html
TP.HCM: Trung bình 90.000 ca nạo phá thai mỗi năm
BS Nguyễn Ngọc Thông, Giám đốc Trung tâm Chăm sóc sức khỏe sinh sản TP.HCM, cho biết như trên.
Tại buổi làm việc giữa ngành y tế TP với đoàn khảo sát Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội về thực hiện chính sách pháp luật về sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục trong thanh niên tại TP.HCM ngày 17-7.
Theo BS Thông, từ năm 2010 đến nay, bình quân mỗi năm TP có khoảng 90.000 ca nạo phá thai, trong đó trẻ vị thành niên chiếm khoảng 3.000 ca. Nguyên nhân của việc nạo phá thai còn cao, BS Thông cho rằng do còn khó khăn trong công tác quản lý dân số và chăm sóc sức khỏe sinh sản nói chung, nhất là đối tượng nhập cư. Bên cạnh đó, sự quan tâm của gia đình, phụ huynh đối với sức khỏe sinh sản, tình dục của trẻ vị thành niên, thiếu niên còn rất hạn chế; đầu tư nguồn lực của Nhà nước cho công tác này chưa đáp ứng nhu cầu thực tiễn… BS Thông kiến nghị sớm có luật dân số, trong đó có nội dung sức khỏe sinh sản đối với thanh niên.
http://plo.vn/suc-khoe/tphcm-trung-binh-90000-ca-nao-pha-thai-moi-nam-483149.html
Mỗi năm ở Việt Nam có 14.000 phụ nữ mắc ung thư vú
Phó giáo sư Trần Văn Thuấn - Phó giám đốc Bệnh viện K, Viện trưởng Viện nghiên cứu phòng chống ung thư cho biết, ung thư vú là bệnh phổ biến hàng đầu đối với phụ nữ ở Việt Nam, năm có khoảng 14.000 phụ nữ mắc ung thư vú.
Phó giáo sư Thuấn đã cho biết như vậy tại hội thảo đào tạo nâng cao cho bác sỹ tuyến Trung ương về cập nhật điều trị ung thư vú do Quỹ hỗ trợ bệnh nhân ung thư Ngày mai tươi sáng (Bộ Y tế) đã tổ chức chiều 17/7, tại Hà Nội.
Đây là một trong những hoạt động cụ thể nhằm nâng cao năng lực cho các bác sỹ tuyến Trung ương và tuyến quận, huyện về chẩn đoán và điều trị ung thư vú.
Hiện nay, ung thư vú là bệnh phổ biến hàng đầu đối với phụ nữ ở Việt Nam. Nghiên cứu năm 2.000 của Bệnh viện K cho thấy, tỷ lệ mắc ung thư vú chuẩn theo tuổi là 17,4/100.000 dân nhưng đến năm 2011 tỷ lệ này đã tăng lên mức 29,9/100.000 dân.
Tại Việt Nam, mỗi năm có khoảng 14.000 phụ nữ mắc ung thư vú. Hiện nay, có một khó khăn là hiểu biết của người dân về phòng chống bệnh ung thư vú vẫn còn thấp. Vì vậy, người bệnh thường đến bệnh viện khi đã ở giai đoạn muộn, làm cho hiệu quả điều trị còn nhiều hạn chế.
Phó giáo sư Trần Văn Thuấn cho hay, hiện nay trình độ khám, phát hiện và điều trị ung thư vú ở Việt Nam nói riêng và ung thư nói chung tương đương với các nước trong khu vực.
Theo nghiên cứu năm 2010 của Viện nghiên cứu phòng chống ung thư cho thấy có trên 70% bệnh nhân ung thư vú tại Bệnh viện K được chữa khỏi trong vòng 5 năm bệnh không tái phát, không di căn. Tỷ lệ này tương đương với tỷ lệ tại Singapore.
Vì vậy, đây sẽ là dịp để các chuyên gia giỏi trong lĩnh vực phòng chống ung thư phổ biến kiến thức nhằm nâng cao năng lực cho các bác sỹ về chẩn đoán và điều trị ung thư vú nhằm giảm tỷ lệ tử vong, kéo dài thời gian sống cũng như cải thiện chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân ung thư vú.
Cùng với việc triển khai tuyên truyền về kiến thức, Quỹ hỗ trợ bệnh nhân ung thư Ngày mai tươi sáng sẽ phối hợp với các hệ thống bệnh viện chuyên về ung thư trên toàn quốc tiến hành việc khám và tầm soát miễn phí bệnh này cho phụ nữ ở năm thành phố lớn trên toàn quốc trong công cuộc phòng chống và kiểm soát bệnh ung thư vú tại Việt Nam./.
http://www.vietnamplus.vn/moi-nam-o-viet-nam-co-14000-phu-nu-mac-ung-thu-vu/271486.vnp
Cần sớm loại bỏ amiăng
Sau gần 40 năm nghiên cứu amiăng, Tổ chức Ung thư quốc tế khẳng định tất cả loại amiăng, bao gồm cả amiăng trắng đều gây ung thư. Vì vậy cần sớm loại bỏ amiăng.
Đây là khuyến nghị được các đại biểu đưa ra tại hội thảo khoa học Amiăng với sức khỏe do Bộ Y tế, Bộ Khoa học và Công nghệ cùng Tổ chức Y tế thế giới (WHO) tổ chức ngày 17-7 tại Hà Nội.
Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thanh Long cho biết amiăng là chất có hại cho sức khỏe; gánh nặng bệnh tật do amiăng gây ra rất nghiêm trọng. Amiăng xâm nhập vào cơ thể chủ yếu qua đường hô hấp, đường tiêu hóa và đâm xuyên qua da gây nên một số bệnh như bụi phổi amiăng, ung thư phổi, ung thư trung biểu mô, ung thư thực quản, buồng trứng… Theo WHO, amiăng là chất gây ung thư nghề nghiệp nghiêm trọng nhất, ước tính gây ra 1/2 số ca tử vong do ung thư nghề nghiệp.
Việt Nam trong 10 năm nay luôn đứng trong tốp 10 nước tiêu thụ amiăng nhiều nhất thế giới. Có khoảng 3.000 sản phẩm có sử dụng amiăng, chủ yếu là tấm lợp, tấm cách âm, cách nhiệt, má phanh… 55 quốc gia đã cấm sử dụng amiăng.
http://plo.vn/suc-khoe/can-som-loai-bo-amiang-483147.html
Tiến tới cấm sử dụng hoàn toàn amiăng tại Việt Nam.
Bộ Y tế và Bộ KHCN cùng đề xuất đưa amiăng vào danh mục hóa chất độc hại và tiến tới cấm sử dụng amiăng tại Việt Nam, bởi hiện nay không có ngưỡng an toàn nào trong việc sử dụng amiăng.
Sử dụng amiăng top đầu thế giới: Amiăng là một nhóm sợi khoáng chất tự nhiên với độ bền cao. Việt Nam là 1 trong 10 nước sử dụng amiăng nhiều nhất thế giới. Mỗi năm chúng ta nhập khoảng 60.000 tấn, chủ yếu để sản xuất tấm lợp… Cả nước hiện có 36 cơ sở sản xuất tấm lợp amiăng trắng với tổng công suất đạt gần 100 triệu m2 tấm lợp/năm.
Tuy nhiên, đây là chất nguy hiểm với sức khỏe con người. Theo WHO, tất cả các dạng amiăng đều gây u trung biểu mô, ung thư phổi, ung thư thanh quản, ung thư buồng trứng cho con người... Hiện nay, mỗi năm toàn cầu có tới 107.000 người chết và hơn 1,5 triệu người phải sống với khuyết tật vì các bệnh có liên quan đến amiăng như ung thư phổi, bụi phổi, ung thư biểu mô ác tính.
Tại Việt Nam, PGS.TS Trần Văn Thuấn, Phó Giám đốc bệnh viện K cho biết, mỗi năm Việt Nam có trên 150.000 trường hợp ung thư mới mắc và trên 75.000 trường hợp tử vong do ung thư, chi phí thuốc điều trị của 5 bệnh viện trung ương năm 2010 là 1.621 tỷ đồng.
Theo kết quả nghiên cứu khoa học của Bộ Y tế, Việt Nam đã có tới 80% ca ung thư trung biểu mô có liên quan đến amiăng.
Chính vì các gánh nặng bệnh tật do các bệnh liên quan đến amiăng, đến nay cả tổ chức WHO và tổ chức ILO đều khuyến nghị cấm hoàn toàn mọi dạng amiăng là cách hiệu quả nhất để loại bỏ các bệnh liên quan đến amiăng.
Đưa amiăng vào danh mục chất độc hại: Theo TS Trần Tuấn, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và phát triển cộng đồng (Hội Liên hiệp khoa học kỹ thuật Việt Nam), nguyên nhân Việt Nam sử dụng amiăng nhiều nhất thế giới là do người dân không thể nhận biết amiăng tồn tại trong những vật liệu gì nên vẫn sử dụng và tiếp xúc mà không biết rằng, mình đang tiếp xúc với nguồn bệnh gây ung thư.
Một nghiên cứu của Viện khoa học kỹ thuật-bảo hộ lao động thực hiện cũng chỉ ra rằng, mức độ hiểu biết của người lao động về amiăng còn rất hạn chế, hầu hết không ai biết về các vật liệu thay thế amiăng và họ cũng không quan tâm. Mặt khác, các sản phẩm từ amiăng hiện nay có giá thành thấp và người dân có thói quen sử dụng nhiều.
Để ngăn chặn tác hại của loại chất nguy hiểm này, tại hội thảo "Amiăng và Sức khỏe” do Bộ Y tế, Bộ KHCN tổ chức ngày 17/7, ông Mai Văn Chính, Phó Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đề xuất các đơn vị liên quan cần đẩy mạnh tuyên truyền nâng cao nhận thức về tác hại của amiăng tới người dân, đặc biệt chú trọng đối tượng người lao động và người tiêu dùng.
“Thậm chí chúng ta có thể tuyên truyền tới người dân thông điệp sử dụng tấm lợp amiăng-xi măng có thể gây ung thư để người dân lựa chọn”, ông Chính nói.
Một nội dung quan trọng được đưa ra trong Hội thảo này là Bộ Y tế và Bộ KHCN cùng đề xuất đưa amiăng vào danh mục hóa chất độc hại và tiến tới cấm sử dụng amiăng tại Việt Nam, bởi hiện nay không có ngưỡng an toàn nào trong việc sử dụng amiăng.
Theo Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thanh Long, sau hội thảo này, Bộ sẽ có văn bản báo cáo Thủ tướng Chính phủ để sớm đưa amiăng vào danh mục hóa chất độc hại, tiến tới cấm sử dụng hoàn toàn amiăng tại Việt Nam.
http://baodientu.chinhphu.vn/khoa-hoc-cong-nghe/tien-toi-cam-su-dung-hoan-toan-amiang-tai-viet-nam/203904.vgp
http://doisong.vnexpress.net/tin-tuc/suc-khoe/tu-van/amiang-trang-lam-tam-lop-cung-gay-ung-thu-3019028.html
http://sggp.org.vn/ytesuckhoe/2014/7/355417/
http://vietnamnet.vn/vn/khoa-hoc/186576/amiang-trang-gay-ung-thu--khong-can-nghien-cuu-nua-.html
http://www.vietnamplus.vn/tien-toi-cam-su-dung-hoan-toan-amiang-tai-viet-nam/271398.vnp
http://khampha.vn/khoa-hoc-cong-nghe/de-xuat-dua-amiang-vao-danh-muc-chat-doc-hai-c7a208749.html
http://vov.vn/xa-hoi/chat-amiang-co-kha-nang-gay-ung-thu-viet-nam-can-cam-su-dung-339517.vov
Phẫu thuật bệnh nhi não úng thủy nhỏ tuổi nhất
Ngày 17-7, tin từ BV Nhi Trung ương (Hà Nội) cho biết các bác sĩ bệnh viện vừa phẫu thuật thành công cho cháu NĐK (18 ngày tuổi, ở Hải Phòng) bị não úng thủy.
Cháu K. cũng là trường hợp bệnh nhi sơ sinh nhỏ tuổi nhất ở Việt Nam mắc bệnh này được cứu sống bằng kỹ thuật vi phẫu thần kinh tại BV Nhi Trung ương.
ThS-BS Lê Nam Thắng, Phó Trưởng khoa Thần kinh BV Nhi Trung ương, cho biết đây là một ca bệnh phức tạp vì bệnh nhi sơ sinh rất nhỏ tuổi, nhẹ cân trong khi đó khối u quá lớn. Việc bóc tách để lấy toàn bộ khối u kéo dài sáu tiếng đồng hồ. Các bác sĩ phải rất cẩn trọng để tránh gây tổn thương mô não nhằm hạn chế tối đa khả năng bệnh nhi tử vong hay chịu những di chứng sau phẫu thuật.
BS Thắng cho biết u não là khối u đặc, phổ biến nhất ở trẻ em, trong đó u vùng hố sau chiếm khoảng 70% số ca bệnh. Nhờ phát hiện bệnh sớm, can thiệp bằng kỹ thuật hiện đại nên bệnh nhi bình phục nhanh. Trước kia, khi kỹ thuật vi phẫu thần kinh chưa ra đời, khoảng 50% bệnh nhi tử vong do sinh thiết hoặc phẫu thuật lấy u vùng hố sau.
http://plo.vn/suc-khoe/phau-thuat-benh-nhi-nao-ung-thuy-nho-tuoi-nhat-483146.html
Bệnh nhân gửi thơ tặng Bộ trưởng Nguyễn Thị Kim Tiến
Bệnh nhân Võ Công Anh, 76 tuổi (quê tại Đà Nẵng, sđt: 0948873586) từng là bệnh nhân điều trị tại khoa Nội Hô hấp, BV C Đà Nẵng đã viết thư bày tỏ tình cảm của mình đối với ngành y và cá nhân Bộ trưởng Nguyễn Thị Kim Tiến.
Trong thư, bệnh nhân Võ Công Anh viết: “Theo dõi công việc của Bộ trưởng, tôi rất khâm phục tài năng làm việc và tinh thần đầy trách nhiệm của một người phụ nữ với tầm vóc và sức khoẻ như bà.
Ở công việc nào, ngành nào cũng có những khó khăn, thách thức xảy ra ngoài ý muốn như: giao thông, xây dựng, tài chính ngân hàng… chẳng riêng gì ngành y. Càng năng nổ, càng hăng say tích cực thì càng không thể tránh khỏi va chạm, mất lòng người khác…
Tôi xin kính chúc Bộ trưởng đầy sức khoẻ, đủ nghị lực để vượt qua những khó khăn, thách thức nếu có. Tôi hoàn toàn tin tưởng mọi điều tốt đẹp sẽ đến với Bộ trưởng”.
Bệnh nhân gửi thơ tặng Bộ trưởng Nguyễn Thị Kim Tiến
Không chỉ có vậy, bệnh nhân Võ Công Anh còn dành tặng cá nhân Bộ trưởng Nguyễn Thị Kim Tiến và toàn ngành y bài thơ “Bàn tay áo trắng”. Báo Sức khoẻ&Đời sống xin đăng nguyên văn:
“Bàn tay mang lại mùa xuân
Bàn tay áo trắng thiên thần nơi nơi…
Bàn tay xoa dịu cuộc đời
Bàn tay không quản tiết trời nắng mưa
Bên giường sinh tử đong đưa giựt giành
Ươm mầm gieo hạt mùa xanh
Cho đời hương sắc – Cho ngành nở hoa!”.
Võ Công Anh
http://suckhoedoisong.vn/dien-dan/benh-nhan-gui-tho-tang-bo-truong-nguyen-thi-kim-tien-20140717171211071.htm
Bị bệnh tim vẫn “vượt cạn”
Những người có bệnh tim cần đi khám bác sĩ chuyên khoa tim mạch khi dự định mang thai để được đánh giá tình trạng bệnh
Với thực tế điều trị hiện nay, quan điểm phụ nữ bị bệnh tim không nên lấy chồng và nếu lấy chồng thì không nên sinh con đã trở nên lạc hậu. Nhiều phụ nữ sinh con khỏe mạnh sau khi thay van tim, thậm chí sinh con bình thường sau mỗi lần mổ tim.
Sinh con bình thường sau phẫu thuật tim: Có bầu hơn 3 tháng, chị Phạm Thị T. (26 tuổi, ở tỉnh Vĩnh Phúc) đi khám thì nhận được lời khuyên nên bỏ thai nhi để bảo đảm sức khỏe cho mẹ bởi chị mắc bệnh tim khá nặng. Thế nhưng với khao khát được làm mẹ, chị T. tìm đến bác sĩ chuyên khoa tim mạch. Tại Trung tâm Tim mạch - Bệnh viện (BV) E, các bác sĩ chẩn đoán chị bị thông liên nhĩ lỗ lớn. Hiện chị mang bầu tháng thứ 5, được nhập viện theo dõi sức khỏe và điều trị chờ ngày sinh nở an toàn.
Trước đó, sản phụ Nguyễn Thị Thanh H. (28 tuổi, ở tỉnh Phú Thọ) đã sinh con tại BV này sau lần mổ tách van hai lá và thay van tim. Tháng 7-2010, khi có chỉ định thay van tim, các bác sĩ đã tư vấn chị H. thay van tim sinh học để có cơ hội sinh con. Theo chị H., vào thời điểm thay van tim, chồng chị động viên cứ mổ thay van tim, sống được là mừng rồi mà chẳng cần sinh con nhưng được bác sĩ giải thích, động viên nên khi quyết định có con, hai vợ chồng đã tìm đến bác sĩ để được tư vấn. Sau những ngày tháng lo lắng, cuối năm 2012, chị H. sinh hạ được một bé trai khỏe mạnh. Sau thời gian theo dõi hậu phẫu, sức khỏe chị H. diễn biến bình thường nên được xuất viện như các sản phụ khác.
Cách đó không lâu, một sản phụ ở quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội bị bệnh hẹp van hai lá từ năm 19 tuổi và đã được mổ tách van tim. Sau 4 năm, chị này lấy chồng và sinh con trai đầu lòng. Mười năm sau ca mổ lần đầu, chị được mổ lần hai để thay van và sau đó lại sinh cháu thứ hai khỏe mạnh.
Nhiều quan niệm sai lầm: PGS-TS Lê Ngọc Thành, Giám đốc Trung tâm Tim mạch - BV E, cho rằng quan điểm phụ nữ bị bệnh tim không nên lấy chồng và nếu lấy chồng thì không nên sinh con đã trở nên lạc hậu và không đúng với thực tế điều trị tim mạch hiện đại. Tại trung tâm đã điều trị thành công nhiều trường hợp phụ nữ bị bệnh tim khá nặng “vượt cạn” an toàn. Tuy nhiên, ông Thành cũng cho rằng bệnh tim mạch nói chung và van tim nói riêng là những bệnh lý rất nguy hiểm bởi trong thai kỳ, những thay đổi sinh lý (tăng nhịp tim, giảm huyết áp…) ảnh hưởng đến hệ tim mạch, bắt tim phải tăng cường hoạt động. Với người bình thường, tim có thể thích nghi với thay đổi này trong khi tim mắc bệnh có thể bị quá tải. Sự thay đổi có thể khiến người mẹ cảm thấy mệt mỏi, khó thở, nhức đầu nhẹ trong suốt thai kỳ. Vì vậy, có một số người mẹ không biết mình mắc bệnh tim mạch cho đến khi có thai, do vậy những thay đổi này có thể gây ra biến chứng nguy hiểm cho mẹ và thai nhi. “Thế nhưng trên thực tế, những phát hiện và điều trị hiện nay cho phép người bị bệnh tim có quyền làm vợ và làm mẹ mà không ảnh hưởng tới tính mạng. Điều quan trọng là những bệnh nhân này cần được khám chuyên khoa tim mạch sâu trước và trong quá trình mang thai, khi sinh nở và ngay sau khi sinh” - ông Thành nhấn mạnh.
Bác sĩ Nghiêm Thị Hồng Thanh, Khoa Sản BV E, cho biết vào những tháng cuối của thai kỳ, sản phụ Nguyễn Thị Thanh H. (ở Phú Thọ) đã được theo dõi tại BV vì tới lúc gần sinh, lưu lượng tuần hoàn tim tăng gấp đôi bình thường. Đây là gánh nặng cho tim, nhất là với van tim sinh học. Bệnh nhân đã được chỉ định mổ sinh vì với tình trạng sức khỏe của sản phụ H. nếu sinh thường dễ bị phù phổi cấp, suy tim cấp… Tuy vậy, không phải mọi sản phụ có bệnh tim cần được sinh mổ. Đa số sản phụ có thể sinh thường một cách an toàn nếu không có chỉ định sinh mổ của sản khoa.
Giới chuyên môn cũng khuyến cáo những phụ nữ bị bệnh tim bẩm sinh phức tạp mà chưa được chữa trị hoặc đã có tăng áp lực động mạch phổi thì không nên mang thai vì điều đó sẽ làm tăng nguy cơ tử vong của mẹ. Ngoài ra, các bác sĩ cũng lưu ý với những người có bệnh tim cần đi khám bác sĩ chuyên khoa tim mạch khi dự định mang thai để đánh giá tình trạng bệnh, mức độ an toàn khi mang thai, nguy cơ đối với mẹ và thai nhi, có cần điều trị bệnh ổn trước khi có thai không… bởi những gia đình mà bố hoặc mẹ có bệnh tim bẩm sinh thì con sẽ có nguy cơ mắc tim bẩm sinh cao hơn những gia đình khác.
Đừng để tăng cân quá nhiều: Giới chuyên môn khuyến cáo trong thai kỳ, người mẹ phải khám thai theo đúng lịch để theo dõi và xử trí kịp thời các sự cố, uống thuốc theo đúng toa bác sĩ. Với thai phụ, việc theo dõi cân nặng là cần thiết bởi người mẹ tăng cân theo sự phát triển của thai nhi nhưng tăng cân quá nhiều là một gánh nặng cho tim. Ngoài ra, để ngừa tình trạng huyết khối, thai phụ nên tránh thói quen bắt chéo chân, nên thay đổi tư thế thường xuyên, luân phiên co duỗi 2 chân, thỉnh thoảng đi lại để máu dễ hồi lưu về tim. Cố gắng kiềm chế các cảm xúc như lo lắng, xúc động… Việc sinh con của người mẹ mắc bệnh tim mạch thường có nguy cơ cao nên cần sinh con tại một cơ sở y tế đủ điều kiện theo dõi và xử trí trong quá trình chuyển dạ.
http://nld.com.vn/suc-khoe/bi-benh-tim-van-vuot-can-20140717222458842.htm
Bốn trẻ hôn mê do “ăn” nhầm… thuốc
Ngày 17-7, bác sĩ Nguyễn Minh Tiến, Trưởng khoa Hồi sức – Tích cực và Chống độc, BV Nhi đồng 1, cho biết nơi này vừa cấp cứu bốn bệnh nhi trong một mái ấm ở Bình Dương do ăn nhầm thuốc động kinh vì tưởng đó là kẹo. Hiện bốn em đều đã hồi phục và đã xuất viện.
Trước đó, thấy một vỉ thuốc lẫn trong đống quần áo từ thiện, nhóm bốn trẻ trong mái ấm gồm hai nam và hai nữ (hai em 5 tuổi, một em 6 tuổi và một em 7 tuổi) nghĩ là kẹo nên chia nhau ăn, ngay sau đó, các bé có biểu hiện lơ mơ.
Mái ấm đã đưa các em cấp cứu tại BV địa phương, sau đó chuyển lên BV Nhi đồng 1 trong tình trạng mê man. Các bác sĩ tiến hành súc ruột, cho các bé thở máy và dùng thuốc vận mạch. Sau 36 giờ điều trị tích cực, bốn bé mới tỉnh táo. Theo bác sĩ Tiến, khả năng là mỗi bé đã “ăn” hai viên thuốc.
http://plo.vn/suc-khoe/bon-tre-hon-me-do-an-nham-thuoc-483124.html
Traphaco đồng hành cùng ‘Con đường thuốc Việt’
Hưởng ứng cuộc vận động người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam do Bộ Chính trị phát động, Bộ Y tế đã xây dựng và ban hành đề án “Người Việt ưu tiên dùng thuốc Việt”.
Chương trình truyền thông “Con đường thuốc Việt” ra đời chính là một nội dung quan trọng trong việc thực hiện đề án này. Traphaco vinh dự được lựa chọn là nhà tài trợ chính thức đồng hành cùng chương trình.
Chương trình truyền thông “Con đường thuốc Việt” là một trong các giải pháp quan trọng nhằm hỗ trợ cho ngành dược Việt Nam phát triển bền vững, đảm bảo nguồn cung ứng thuốc phòng và chữa bệnh cho nhân dân, không lệ thuộc quá nhiều vào các nguồn cung ứng từ nước ngoài. Chương trình sẽ giúp nâng cao vai trò trách nhiệm của đội ngũ thầy thuốc trong việc chỉ định sử dụng thuốc an toàn, hiệu quả, nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, giảm chi phí trong điều trị.
“Con đường thuốc Việt” còn thúc đẩy các doanh nghiệp (DN) sản xuất thuốc trong nước nâng cao chất lượng, giảm giá thành, nâng cao vị thế ngành công nghiệp dược Việt Nam trong nước và quốc tế, đưa các sản phẩm dược sản xuất trong nước đến gần hơn với người tiêu dùng. Chương trình tạo điều kiện cho các DN sản xuất dược tiếp tục nghiên cứu khoa học, cho ra đời những sản phẩm dược chất lượng cao dần thay thế thuốc ngoại nhập.
Vinh dự đồng hành cùng chương trình “Con đường thuốc Việt”, Traphaco với vị thế là DN sản xuất đông dược lớn hàng đầu Việt Nam là một điển hình trong việc đưa thuốc Việt tới gần hơn với người dân. Công ty phát triển theo chiến lược hiện đại hóa nền y học cổ truyền, nghiên cứu tạo ra các sản phẩm mới từ nguồn dược liệu Việt Nam, độc đáo trong công thức, có hiệu quả điều trị cao, an toàn cho người sử dụng, cạnh tranh được với các sản phẩm nhập ngoại, được người bệnh và bác sĩ tin dùng.
http://www.thanhnien.com.vn/pages/20140718/traphaco-dong-hanh-cung-con-duong-thuoc-viet.aspx
Kỷ luật Trưởng khoa khám bệnh Bệnh viện huyện Phú Bình
Liên quan đến vụ bệnh nhân tử vong tại Bệnh viện đa khoa huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên, ông Nguyễn Vy Hồng, Giám đốc Sở Y tế Thái Nguyên cho biết Hội đồng kỷ luật của ngành đã quyết định hình thức kỷ luật cảnh cáo đối với bác sỹ Nguyễn Văn Vỹ, Trưởng khoa khám bệnh Bệnh viện đa khoa huyện Phú Bình - Trưởng ca trực cấp cứu cho bệnh nhân Đặng Thị Liễu.
Trước đó, khoảng 21 giờ 25 phút ngày 23/6, bệnh nhân Đặng Thị Liễu, 60 tuổi, trú tại xã Kha Sơn, huyện Phú Bình được người nhà đưa đến Bệnh viện đa khoa huyện Phú Bình trong tình trạng đau tức ngực trái nhiều, khó thở, có biểu hiện của bệnh nhồi máu cơ tim.
Tuy đã thực hiện các biện pháp cấp cứu nhưng bệnh nhân không có biểu hiện tiến triển, đến khoảng 23 giờ 40 phút cùng ngày, bệnh nhân đã tử vong.
Đáng lưu ý, sau khi bệnh nhân tử vong, cho rằng kíp trực chưa làm hết trách nhiệm, người nhà bệnh nhân đã bức xúc và gây xô xát với kíp trực. Thấy tình hình căng thẳng, bác sỹ Nguyễn Văn Vỹ đã gọi người thân đến hỗ trợ nhưng không kiểm soát được, gây mất trật tự an toàn trong bệnh viện, buộc các cơ quan chức năng phải vào cuộc..
Ngay sau khi vụ việc xảy ra, Sở Y tế Thái Nguyên đã thành lập đoàn kiểm tra, chỉ đạo lãnh đạo Bệnh viện đa khoa huyện Phú Bình tạm đình chỉ việc khám chữa bệnh của kíp trực đã trực tiếp điều trị cho bệnh nhân Đặng Thị Liễu; đình chỉ công tác và chức vụ Trưởng khoa khám bệnh đối với bác sỹ Nguyễn Văn Vỹ, phối hợp với các cơ quan chức năng xác định rõ nguyên nhân tử vong của bệnh nhân.
Ngoài việc gọi người nhà đến tự vệ nhưng không kiểm soát được, trong ca trực tối 23/6, bác sỹ Nguyễn Văn Vỹ thực hiện chức trách nhiệm vụ còn chậm, không thực hiện đúng quy định của ngành về trang phục trong khi thi hành nhiệm vụ.
Thời gian tới, Sở Y tế tỉnh Thái Nguyên tiếp tục chỉ đạo Bệnh viện đa khoa huyện Phú Bình rút kinh nghiệm về chuyên môn, quy chế bệnh viện, tinh thần thái độ phục vụ người bệnh; đồng thời yêu cầu các đơn vị khám chữa bệnh trong toàn ngành thực hiện nghiêm túc quy trình chuyên môn, quy tắc ứng xử trong khám chữa bệnh, không để xảy ra các trường hợp tương tự./.
http://www.vietnamplus.vn/ky-luat-truong-khoa-kham-benh-benh-vien-huyen-phu-binh/271464.vnp
Đắc Nông thu hút và đãi ngộ bác sĩ, dược sĩ về tỉnh công tác
Ngày 17-7, kỳ họp thứ 9, HĐND tỉnh Đác Nông khóa II nhiệm kỳ 2011-2016 kết thúc và đã thông qua Nghị quyết quy định chính sách thu hút, đãi ngộ đối với bác sĩ, dược sĩ đại học và sau đại học về công tác tại các cơ quan, đơn vị y tế công lập trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2015-2020.
Theo đó, các bác sĩ y khoa, dược sĩ đại học, bác sĩ có trình độ sau đại học như: tiến sĩ, thạc sĩ, chuyên khoa cấp II, chuyên khoa cấp I, bác sĩ nội trú và định hướng chuyên khoa… khi tự nguyện về công tác tại các cơ sở y tế công lập của tỉnh Đác Nông, ngoài lương và các chế độ, chính sách theo quy định hiện hành của Nhà nước còn được hưởng nhiều chính sách đãi ngộ khác của tỉnh.
Cụ thể, đối với tiến sĩ y khoa, bác sĩ chuyên khoa II sẽ được trợ cấp thu hút một lần là 300 triệu đồng/người; đối với thạc sĩ y khoa, bác sĩ chuyên khoa I, bác sĩ nội trú là 250 triệu đồng/người; bác sĩ, dược sĩ đại học tốt nghiệp loại giỏi là 220 triệu đồng/người, tốt nghiệp loại khá là 200 triệu đồng/người và tốt nghiệp loại trung bình khá, trung bình được trợ cấp 180 triệu đồng/người.
Ngoài ra, các bác sĩ, dược sĩ còn được ưu tiên trong xét tuyển, thi tuyển công chức, viên chức; được ưu tiên mua đất làm nhà ở với giá sàn không qua đấu giá theo quy định của tỉnh; được ưu tiên vay vốn ưu đãi để mua đất và làm nhà ở…
Ngoài lương và các chế độ, chính sách theo quy định hiện hành của Nhà nước, các bác sĩ về công tác tại các trạm y tế thuộc khu vực III, các cơ quan, đơn vị y tế của huyện Tuy Đức, Đác Glong và các huyện mới thành lập… sẽ được hưởng mức trợ cấp đãi ngộ 1,5 lần mức lương cơ sở/tháng; các trạm y tế thuộc khu vực II, các cơ quan, đơn vị y tế tại huyện Krông Nô, Đác Song, các đơn vị sự nghiệp thuộc lĩnh vực y tế cộng đồng được hưởng 1,0 lần mức lương cơ sở/tháng; các trạm y tế thuộc các phường, thị trấn, cơ quan, đơn vị y tế tại huyện Cư Giút, Đác Mil, Đác R’lấp và thị xã Gia Nghĩa… được hưởng 0,7 lần mức lương cơ sở/tháng…
Bác sĩ Ngô Minh Trực, Giám đốc Sở Y tế tỉnh Đác Nông cho biết: Những năm qua, mặc dù ngành Y tế tỉnh đã thực hiện nhiều giải pháp nhằm thu hút y, bác sĩ về công tác tại địa phương. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau nên đến nay, ngành Y tế tỉnh vẫn thiếu trầm trọng đội ngũ bác sĩ, dược sĩ, nhất là các bác sĩ có trình độ chuyên môn cao ở tất cả các tuyến từ tỉnh đến cơ sở.
Theo thống kê của Sở Y tế Đác Nông, hiện toàn ngành có 2.032 cán bộ, nhân viên y tế, trong đó tỷ lệ cán bộ có trình độ đại học và sau đại học chỉ chiếm 16,2%. Số bác sĩ chỉ đạt 6 bác sĩ/vạn dân. Dược sĩ đại học đạt 0,23 dược sĩ/vạn dân.
So với nhu cầu thực tế, số lượng y, bác sĩ còn quá ít, chưa đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe cho người dân cũng như việc triển khai các dịch vụ y tế chất lượng cao.
Chẳng hạn như tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh, một bệnh viện tuyến tỉnh đến năm 2013 có hơn 380 cán bộ, viên chức, nhưng chỉ có 76 bác sĩ. So với chỉ tiêu biên chế, bệnh viện hiện còn thiếu khoảng 40 bác sĩ. Để đáp ứng nhu cầu khám, chữa bệnh cho người dân, bệnh viện phải huy động đội ngũ y, bác sĩ hiện có làm việc ngoài giờ để bù đắp cho việc thiếu hụt nguồn nhân lực…
Không chỉ gặp khó khăn trong việc tuyển dụng bác sĩ và dược sĩ đại học vào công tác tại các cơ sở y tế công lập mà tỉnh Đác Nông còn khó “giữ chân” các bác sĩ ở lại công tác lâu dài tại các đơn vị. Thời gian qua, không ít trường hợp bác sĩ có trình độ chuyên môn cao đã chuyển công tác đến các địa phương khác. Cụ thể, trong giai đoạn từ năm 2004-2012, toàn ngành Y tế tỉnh tuyển dụng được 30 bác sĩ và một dược sĩ đại học, nhưng cũng trong thời gian ấy có đến 18 bác sĩ và một dược sĩ xin nghỉ việc hoặc chuyển công tác tới địa phương khác.
Theo bác sĩ Ngô Minh Trực, nguyên nhân chính không “giữ chân” được các bác sĩ có trình độ chuyên môn cao là do điều kiện sinh hoạt, môi trường công tác, cơ hội phát triển… tại địa phương chưa đáp ứng được nhu cầu, nguyện vọng của đội ngũ bác sĩ, dược sĩ. Một bác sĩ sau khi tốt nghiệp về công tác tại bệnh viện công lập chỉ được hưởng các chế độ lương, phụ cấp theo Nhà nước quy định, trong khi đó nếu làm việc ở các thành phố lớn, nơi có nhiều bệnh viện tư nhân thì mức thu nhập có thể lên tới hàng chục triệu đồng/tháng…
Bên cạnh đó, năm 2008, UBND tỉnh Đác Nông cũng đã thực hiện chính sách thu hút, đãi ngộ cán bộ, viên chức về công tác tại tỉnh nhưng do mức đãi ngộ thu hút còn thấp so với thực tế sinh hoạt và các chi phí khác nên khó thu hút được bác sĩ có trình độ chuyên môn cao về công tác tại tỉnh.
Vì vậy, với các chính sách thu hút, đãi ngộ lần này, tỉnh Đác Nông hy vọng trong thời gian tới sẽ thu hút được các bác sĩ, dược sĩ về tỉnh công tác, góp phần nâng cao công tác chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân trên địa bàn.
http://www.nhandan.org.vn/suckhoe/tin-tuc/item/23801802-dac-nong-thu-hut-va-dai-ngo-bac-si-duoc-si-ve-tinh-cong-tac.html
Tháo gỡ khó khăn cho y tế tuyến xã
Tăng cường năng lực cho y tế tuyến cơ sở, nhất là ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo là một chủ trương đúng đắn và cần thiết, nhằm hướng tới công bằng, hiệu quả và phát triển trong chăm sóc sức khỏe nhân dân. Ðể giúp y tế tuyến xã, nơi thực hiện nhiều nhiệm vụ quan trọng của y tế cơ sở cần sớm tháo gỡ những vướng mắc từ chế độ, chính sách cho nhân viên y tế đến mô hình tổ chức và đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất.
Chăm sóc sức khỏe ban đầu (CSSKBÐ) là những dịch vụ chăm sóc sức khỏe thiết yếu, dựa trên những phương pháp và kỹ thuật thực hành phổ cập. Những phương pháp và kỹ thuật này được áp dụng cho mọi người dân và mọi gia đình trong cộng đồng. CSSKBÐ nhấn mạnh đến những vấn đề sức khỏe chủ yếu của cộng đồng như phòng bệnh, chữa bệnh và phục hồi sức khỏe... Trên cơ sở nguyên tắc của CSSKBÐ, Việt Nam áp dụng mô hình y tế cơ sở. Thực tế thời gian qua, y tế cơ sở đã góp phần quan trọng trong phục vụ lao động sản xuất, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhiều bệnh, dịch được khống chế hoặc loại trừ, tỷ lệ tử vong giảm, tuổi thọ của người dân ngày càng tăng...
Mô hình y tế tuyến xã của nước ta có nhiều đặc thù riêng, là đơn vị y tế đầu tiên tiếp xúc và cung cấp các dịch vụ y tế ban đầu cho người dân. Tuy vậy, một số quy định liên quan đến y tế xã, phường, thị trấn theo Quyết định 58/TTg năm 1994 đến nay đã có nhiều nội dung không còn phù hợp vì tổ chức trạm y tế xã là đơn vị chuyên môn, kỹ thuật, nhân lực công tác tại trạm được hưởng lương theo ngạch bậc giống như viên chức cùng trình độ chuyên môn; nhân viên y tế thôn, bản là chức danh y tế được hưởng phụ cấp. Cụm từ y tế cơ sở dễ bị nhầm, chưa rõ về tổ chức và còn nhiều cách hiểu khác nhau. Hiện nay, các trạm y tế tuyến xã được giao nhiệm vụ khám ban đầu cho các đối tượng tham gia BHYT, thực hiện công tác DS - KHHGÐ, nhưng đến nay, 11 nhiệm vụ của trạm y tế theo hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 08/TT-LB do liên Bộ ban hành từ năm 1995 đến nay chưa được bổ sung, sửa đổi, điều chỉnh. Trong khi đó, định mức biên chế (số lượng người làm việc) đối với trạm y tế tuy đã được điều chỉnh thấp nhất là năm và cao nhất là mười nhân viên y tế nhưng chưa thật sự phù hợp với những nơi có địa bàn rộng, điều kiện địa lý khó khăn; cũng như áp dụng cứng đối với trạm y tế tại phường, hoặc trạm y tế sát gần các bệnh viện; chưa có hướng dẫn chức danh dược sĩ ở trạm y tế.
Hiện nay, việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý có sự khác nhau giữa hai đối tượng lao động là viên chức và hợp đồng theo Quyết định 58. Các địa phương áp dụng không thống nhất, có nhiều cách làm khác nhau gây khó khăn và ảnh hưởng đến tâm lý, chất lượng công tác của nhân viên y tế đang công tác tại trạm y tế tuyến xã. Ngoài viên chức (số tuyển dụng trước khi có Quyết định 58 và cán bộ chuyên trách dân số tuyển dụng theo Thông tư 05) được tuyển dụng, quản lý sử dụng theo theo quy định của Chính phủ thì còn số lượng không nhỏ nhân viên y tế tuyến xã vẫn hợp đồng theo Quyết định 58 được hưởng mọi chế độ chính sách như viên chức nhà nước, nhưng không được chính thức công nhận là viên chức. Ðáng chú ý, một số văn bản quy phạm pháp luật mới ban hành, cũng như văn bản quy định quá lâu, có nội dung không phù hợp nhưng đến nay chưa có văn bản thay thế hoặc sửa đổi cho nên rất khó thực hiện. Phần lớn các văn bản hiện hành chỉ quy định đối tượng là viên chức, không có văn bản nào đề cập đến đối tượng hợp đồng theo Quyết định số 58 nên đa số các chức danh chuyên môn (kể cả bác sĩ, trưởng trạm) đều thực hiện tuyển dụng, quản lý như lao động hợp đồng. Vì vậy, việc áp dụng thực hiện các chế độ chính sách cho cán bộ y tế xã gặp nhiều khó khăn, không thống nhất, thiếu công bằng; việc điều động, luân chuyển giữa các đơn vị tuyến huyện và tuyến xã đối với số lao động hợp đồng gặp rất nhiều khó khăn. Số bác sĩ là những cán bộ chuyên môn có trình độ đại học chưa thật sự yên tâm công tác tại xã vì chưa có chính sách thu hút, đãi ngộ phù hợp.
Ðối với y tế thôn, bản, cánh tay nối dài của y tế xã thì mức phụ cấp được quy định tại Quyết định số 75/2009/QÐ-TTg ngày 11-5-2009 của Thủ tướng Chính phủ không áp dụng đối với nhân viên y tế thôn, bản tại các tổ dân phố thuộc các phường, thị trấn. Ðiều đó dẫn đến tình trạng nhân viên y tế ở các tổ dân phố thuộc phường, thị trấn một số địa phương không tham gia hoạt động vì không thuộc phạm vi, đối tượng áp dụng mà do địa phương tự cân đối và vận dụng chi trả phụ cấp. Ðội ngũ cô đỡ thôn, bản là những người sống tại cộng đồng ở những vùng địa lý đi lại khó khăn, thông tin liên lạc hạn chế, dịch vụ y tế lại thiếu... Ở một số địa phương, đội ngũ cô đỡ đã được quản lý, sử dụng như nhân viên y tế thôn, bản thì đã phát huy được hiệu quả cụ thể bằng việc sử dụng ngôn ngữ của dân tộc mình để truyền đạt cho người dân thôn, bản những thông tin quan trọng về chăm sóc sức khỏe và cung cấp dịch vụ làm mẹ an toàn ngay tại thôn, bản mình, qua đó tăng cường cung cấp dịch vụ làm mẹ an toàn tại các vùng khó khăn, có nhiều người dân tộc sinh sống. Thời gian qua, đội ngũ các cô đỡ thôn, bản được công nhận là chức danh nhân viên y tế thôn, bản, được hưởng phụ cấp theo Quyết định 75 của Thủ tướng Chính phủ. Tuy nhiên, phần lớn các tỉnh mới chỉ quan tâm tới việc cử đi đào tạo nhưng chưa quan tâm trong việc quản lý, sử dụng, đào tạo lại nên đã có nhiều cô đỡ sau khi được đào tạo đã không tham gia hoạt động hoặc hoạt động kém hiệu quả.
Từ những bất cập trên, cần có những thay đổi về quản lý đội ngũ nhân viên y tế công tác tại trạm y tế tuyến xã thành viên chức được tuyển dụng theo Luật Viên chức và đội ngũ nhân viên y tế thôn, bản công tác tại tổ dân phố các phường, thị trấn được hưởng phụ cấp theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ để đội ngũ này yên tâm công tác và phát huy vai trò chăm sóc sức khỏe nhân dân trong cộng đồng.
http://www.nhandan.org.vn/suckhoe/tin-tuc/item/23797102-thao-go-kho-khan-cho-y-te-tuyen-xa.html
Fanpage
Youtube


















