Điểm báo điện tử ngày 22/9/2017
25/09/2017
0
"Siêu vi khuẩn" kháng thuốc kháng sinh - nỗi đau xót của các bác sĩ
PGS.TS Trần Minh Điển, Phó Giám đốc Bệnh viện Nhi Trung ương cho biết, có tới 30% trẻ vào điều trị tại bệnh viện này có vi khuẩn kháng thuốc kháng sinh.
Lãnh đạo nhiều bệnh viện thừa nhận, vi khuẩn kháng thuốc kháng sinh đang xuất hiện tại tất cả bệnh viện, thậm chí đã ghi nhận nhiều “siêu vi khuẩn” kháng hầu hết các loại kháng sinh hiện có. Điều này khiến cho việc điều trị rất khó khăn.
Tuyến dưới lạm dụng kháng sinh
Ngày 21-9, Bộ Y tế cho biết, tình trạng gia tăng các loại vi khuẩn gây bệnh kháng thuốc kháng sinh đang trở lên rất báo động. Theo đó, càng ở bệnh viện tuyến dưới tỷ lệ sử dụng thuốc kháng sinh càng cao. Bệnh viện bộ, ngành và bệnh viện thuộc các trường Đại học có tỷ lệ sử dụng thuốc kháng sinh thấp nhất. Tại các bệnh viện tuyến trên, đại diện Bệnh viện Nhi Trung ương, Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương… đều thừa nhận bệnh viện mình đã có các loại vi khuẩn kháng thuốc kháng sinh.
PGS.TS Trần Minh Điển, Phó Giám đốc Bệnh viện Nhi Trung ương cho biết, trung bình mỗi ngày, bệnh viện tiếp nhận khoảng 3.000-4.000 trẻ nhỏ, đa phần là bệnh nhi rất nặng và được chuyển từ nhiều bệnh viện tuyến dưới lên, do đó tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện ở mức cao, kéo theo tình trạng kháng thuốc cao. “Có tới 30% bệnh nhi nhập viện có vi khuẩn kháng thuốc” - ông Trần Minh Điển cho biết.
PGS.TS Nguyễn Văn Kính, Giám đốc Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương cũng cho biết, bệnh viện đã có những bệnh nhân bị nhiễm vi khuẩn kháng thuốc đến mức bác sĩ cho dùng loại kháng sinh thế hệ mới nhất cũng không hiệu quả. Thậm chí đã xuất hiện những “siêu vi khuẩn” kháng hầu hết các loại thuốc kháng sinh hiện có nên bác sĩ phải kết hợp nhiều loại thuốc kháng sinh khác nhau.
Cục trưởng Cục Quản lý khám chữa bệnh Lương Ngọc Khuê lý giải, việc bệnh viện tuyến huyện có tỷ lệ sử dụng kháng sinh cao nhất chủ yếu vì ở tuyến này chưa có kháng sinh đồ, bác sĩ thường điều trị bao vây bằng nhiều loại thuốc, nhiều loại kháng sinh khác nhau.
Tuy vậy, theo TS Nguyễn Văn Kính, thực trạng này còn có nguyên nhân do chất lượng thuốc kháng sinh chưa tốt, do kinh nghiệm của bác sĩ, do tâm lý và cả lợi ích nhóm khi kê đơn. Thực tế vẫn có những bác sĩ còn lạm dụng việc kê đơn kháng sinh, thậm chí chỉ định sử dụng kháng sinh theo yêu cầu của... người bệnh.
Thí điểm dùng camera giám sát nhà thuốc
Phân tích về hậu quả do tình trạng kháng thuốc kháng sinh gia tăng, PGS.TS Trần Minh Điển cho biết, hậu quả nhãn tiền là hiệu quả điều trị giảm, người bệnh phải kéo dài thời gian nằm viện, phải sử dụng nhiều loại thuốc khác nhau, thậm chí tử vong. Với các bác sĩ, việc xử lý bệnh nhân có tình trạng kháng thuốc cũng rất khó khăn.
“Ở bệnh viện chúng tôi, khi có các ca kháng thuốc kháng sinh nặng, chúng tôi phải họp bàn phối hợp giữa các bác sĩ để đưa ra phác đồ điều trị kháng sinh hiệu quả nhất; đồng thời phải kết hợp theo dõi kháng sinh trong điều trị, xác định nồng độ thuốc kháng sinh trong máu của bệnh nhân thì mới có thể đạt được hiệu quả” - Phó Giám đốc Bệnh viện Nhi Trung ương chia sẻ.
PGS. TS Lương Ngọc Khuê cũng cho biết, với tốc độ lan rộng các vi khuẩn kháng nhiều loại kháng sinh, có những bệnh mà trước đây chỉ cần một liều kháng sinh nhẹ đã đủ điều trị khỏi thì nay dù bác sĩ đã tăng liều cao nhất mà vẫn bất lực. “Nhìn người bệnh đau đớn mà không có thuốc chữa do các loại thuốc kháng sinh đều đã bị vi khuẩn kháng hết, đó là nỗi đau xót của các bác sĩ” - PGS. TS Lương Ngọc Khuê bình luận.
Tổ chức Y tế thế giới (WHO) cảnh báo, nếu không có giải pháp ngăn chặn hiệu quả, với sự gia tăng tình trạng kháng thuốc kháng sinh như hiện nay, có thể trong 10 đến 20 năm nữa chúng ta sẽ không còn loại thuốc kháng sinh nào hiệu quả để chữa các bệnh nhiễm trùng.
Đáng chú ý, hiện nay, phần lớn kháng sinh được bán ở các hiệu thuốc nước ta không có đơn của bác sĩ, tỷ lệ này ở thành thị là 88% và 91% ở nông thôn. Mặc dù Bộ Y tế đã có thông tư quy định về bắt buộc mua thuốc kháng sinh phải có kê đơn nhưng việc xử phạt không khả thi.
Để khắc phục tình trạng này, Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến cho biết, tới đây, Bộ sẽ thí điểm giám sát bằng hệ thống camera tại nhà thuốc và đưa tiêu chí bán thuốc kháng sinh theo đơn vào tiêu chuẩn nhà thuốc đạt Thực hành tốt (GPP). “Cần thí điểm việc ứng dụng camera, công nghệ thông tin để giám sát việc bán kháng sinh theo đơn của các nhà thuốc tại một số nơi, đặc biệt là tại thành phố lớn” - Bộ trưởng Bộ Y tế nói.
Trẻ em Việt Nam lứa tuổi từ 12-13 có tỷ lệ hen suyễn cao nhất châu Á
Ngoài ra, tỷ lệ bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính ở dân số 40 tuổi được thống kê chiếm 4,2% dân số, trong đó ở nam là 7,1% và nữ 1,9%
Chiều 21-9, tại Đà Nẵng, Tổng hội Y học Việt Nam (MSA), Hội Hô hấp Việt Nam (VNRS) và Hội Lao và Bệnh phổi Việt Nam (VATLD) công bố chương trình "Vì một lá phổi khỏe" để đồng hành và cùng đạt được những mục tiêu của “Chương trình quốc gia về bệnh suyễn và bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính” do Bộ Y tế đề ra.
Tại buổi họp báo, GS. TS Ngô Quý Châu, Chủ tịch Hội Hô hấp Việt Nam cho biết: “Tại Việt Nam, tỷ lệ bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính ở dân số 40 tuổi được thống kê chiếm 4,2% dân số, trong đó ở nam là 7,1% và nữ 1,9%.
Ngoài thuốc lá và nhiên liệu sinh học, ô nhiễm môi trường và đặc biệt là bệnh lao phổi góp phần làm tăng các yếu tố nguy cơ mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính.
Hiện nay trẻ em lứa tuổi từ 12-13 có tỷ lệ hen suyễn cao nhất châu Á, tỷ lệ mắc bệnh bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính mức trung bình đến nặng ở bệnh nhân trên 35 tuổi cũng đang cao nhất khu vực và con số này đang có xu hướng gia tăng.
Chương trình "Vì một lá phổi khỏe" đóng vai trò như công tác tập trung vào bệnh nhân và nhắm đến mục tiêu tăng sự nhận thức và cung cấp điều trị cho các bệnh nhân suyễn và bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính”.
Vắcxin phòng bệnh sâu răng sắp có trong tương lai gần
Các nhà khoa học về y tế ở Trung Quốc đã công bố công trình nghiên cứu loại vắcxin phòng sâu răng.
Theo trang SA, mới đây, Viện nghiên cứu Virus thuộc Viện hàn lâm Khoa học Trung Quốc đã công bố một báo cáo về công trình nghiên cứu vắc xin phòng sâu răng của mình trên tạp chí Scientific Report.
Tại báo cáo này, một loại hỗn hợp protein có khả năng ngăn chặn sự hình thành và phát triển của bệnh mục răng - bệnh sâu răng do vi khuẩn Streptococcus mutans (S. mutans) gây ra đã được các nhà khoa học công bố cụ thể tính năng.
Trong những nghiên cứu trước đây, các nhà khoa học Trung Quốc đã cố giữ không để hình thành các lỗ sâu răng bằng việc sử dụng hỗn hợp protein rPAc của vi khuẩn S. mutans với protein KF trong vi khuẩn E.Coli. Tuy hỗn hợp có thể ngăn chặn được sâu răng nhưng nó lại gây ra nhiều tác dụng phụ không mong muốn, chẳng hạn như bị sưng viêm. Để hạn chế những ảnh hưởng phụ này, họ đã phát triển hỗn hợp protein đời thứ 2 có tên KFD2-rPAc.
Vào năm ngoái, một nhóm các nhà khoa học công tác tại Khoa Y tế Răng – Hàm - Mặt trực thuộc Đại học Melbourn ở Australia cũng đã phát triển thành công một loại vắcxin phòng ngừa bệnh nướu ở giai đoạn cuối, hoặc nha chu mãn tính, sau 15 năm hợp tác với Tập đoàn CSL.
Điều này có nghĩa, bệnh nhân chủng ngừa vắcxin mới sẽ ít đau hơn những người không được tiêm, và do đó, sẽ cần rất ít sự can thiệp từ nha sĩ trong quá trình chữa bệnh sau này.
Tuy nhiên, mọi công trình y khoa nói trên mới chỉ đang bước vào giai đoạn cuối của cuộc thử nghiệm.
http://www.baogiaothong.vn/vacxin-phong-benh-sau-rang-sap-co-trong-tuong-lai-gan-d225861.html
Đi bộ: Liệu pháp ngăn ngừa 4 bệnh ung thư nguy hiểm miễn phí Đi bộ chính là môn thể thao tốt nhất bởi nó giúp tăng cường hệ miễn dịch và ngăn ngừa, giảm nguy cơ mắc 4 bệnh ung thư nguy hiểm.
"Đi bộ là môn thể thao tốt nhất!" Đây là câu nói đúc kết của tiến sĩ White, người sáng lập Hiệp hội Tim Mạch Hoa Kỳ đã tổng kết nghiên cứu cuộc đời của mình. Cách đây 22 năm, Tổ chức Y tế Thế giới cũng đã coi "đi bộ là một trong những môn thể thao tốt nhất thế giới" và kêu gọi mọi người hãy chăm chỉ đi bộ vì sức khỏe.
Theo kết quả nghiên cứu mới nhất ở Anh cho thấy, nếu mỗi ngày mỗi người đi bộ khoảng 1.6km sẽ giảm được 50% nguy cơ tử vong vì ung thư. Hiệp hội những người đi bộ của tổ chức từ thiện nước Anh và Tổ chức cứu trợ ung thư Macmillan đã cùng chỉ ra rằng, nếu mỗi ngày bạn đều đặn đi bộ trong vòng 20 phút có thể ngăn ngừa và giảm đáng kể nguy cơ tử vong vì mắc 4 loại ung thư nguy hiểm sau:
Phòng ngừa ung thư vú
Một nghiên cứu được thực hiện trên 4 triệu phụ nữ ở Pháp và cho kết quả bất ngờ, bất cứ phụ nữ ở lứa tuổi nào chỉ cần mỗi ngày đi bộ khoảng 1giờ có thể giảm được 12% nguy cơ mắc ung thư vú. Một nghiên cứu khác cũng cho thấy, phụ nữ đi bộ 7 giờ/ tuần sẽ giảm được 14% nguy cơ mắc ung thư vú so với phụ nữ chỉ đi bộ 3 giờ/ tuần.
Giảm nguy cơ ung thư đại trực tràng
Học viện y cộng đồng thuộc đại học Harvard đã làm một nghiên cứu dài hạn với 70.000 người và phát hiện rằng, mỗi ngày đi bộ 1 giờ có thể làm giảm nguy cơ ung thư đại trực tràng. Điều này được các chuyên gia giải thích rằng, do việc đi bộ đã tăng cường cải thiện khả năng miễn dịch của con người.
Phòng ngừa ung thư tuyến tụy
Nghiên cứu đăng trên Tạp chí Reader's Digest của Mỹ cũng cho biết, đi bộ 30 phútsau bữa ăn có thể làm giảm 50% nguy cơ mắc ung thư tuyến tụy. Theo các nhà nghiên cứu, ung thư tuyến tụy có liên quan mật thiết đến lượng calo dư thừa và đi bộ tiêu thụ calo dư thừa tốt nhất.
Giảm nguy cơ mắc ung thư tuyến tiền liệt
Trường đại học California đã làm một khảo sát trong thời gian dài đối với 1.455 bệnh nhân ung thư tuyến tiền liệt và thấy rằng, nếu đi bộ nhanh có thể làm chậm đáng kể quá trình di căn của ung thư tuyến tiền liệt. Chỉ cần đi bộ nhanh 3 giờ/ tuần, có thể giảm 57%mức độ di căn của ung thư tuyến tiền liệt so với những người bệnh không đi bộ. Nguyên nhân là do đi bộ có thể cải thiện nội tiết, ổn định lượng hormone trong cơ thể.
http://phununews.vn/suc-khoe/di-bo-lieu-phap-ngan-ngua-4-benh-ung-thu-nguy-hiem-mien-phi-231075/
Trên 11.000 ca mắc ung thư vú mỗi năm
Tầm soát, sàng lọc là biện pháp nhằm phát hiện ung thư sớm để điều trị có hiệu quả, đặc biệt với các bệnh ung thư khá phổ biến tại Việt Nam như ung thư vú, ung thư cổ tử cung, ung thư đại tràng.
Theo TS BS. Trần Đặng Ngọc Linh – Trưởng Bộ môn Ung thư Đại học Y Dược TPHCM, ung thư vú là loại ung thư phổ biến hàng đầu ở phụ nữ Việt Nam và có xu hướng gia tăng trong những năm gần đây. Ước tính mỗi năm cả nước có trên 11.000 ca mới mắc và khoảng 4.500 ca tử vong do ung thư vú.
Tầm soát ung thư vú bằng nhũ ảnh bắt đầu từ sau 40-45 tuổi giúp phát hiện các tổn thương tiền ung thư hay ung thư vú ở giai đoạn rất sớm khi chưa có biểu hiện lâm sàng, tỉ lệ điều trị khỏi cao. Tự khám vú và khám vú định kỳ giúp phụ nữ có cơ hội nhận thức về bệnh tuyến vú của mình.
Với những tiến bộ y học và kĩ thuật điều trị mới, người bệnh ung thư vú có rất nhiều cơ may điều trị khỏi lâu dài, ngay cả các trường hợp phát hiện vào giai đoạn tiến xa, di căn vẫn có cơ hội kiểm soát được bệnh. TS BS. Trần Đặng Ngọc Linh khuyến cáo phụ nữ sau 40-45 tuổi nên tham gia khám tầm soát ung thư vú mỗi 1- 2 năm/lần.
Đối với ung thư cổ tử cung, ThS BS. Lê Thị Kiều Dung – Trưởng khoa Phụ sản Bệnh viện ĐH Y dược cho biết, đây là loại ung thư ở nữ giới phổ biến thứ 3 trên thế giới với số lượng ca tử vong mỗi năm là 270.000 ca, tương đương 2 - 3 phút có một người chết vì ung thư cổ tử cung.
Ở Việt Nam, ung thư cổ tử cung đứng hàng thứ 2 về mức độ phổ biến, chỉ sau ung thư vú, với khoảng 5.100 ca mắc mới và 2.400 ca tử vong hằng năm. Ung thư cổ tử cung nếu được phát hiện sớm, đặc biệt là tầm soát ở giai đoạn tiền ung thư thì cơ hội chữa khỏi là 100%, tầm soát càng trễ thì tỉ lệ này giảm dần.
Thêm vào đó, việc tầm soát sớm ở giai đoạn tiền ung thư sẽ giúp người bệnh giảm chi phí và thời gian điều trị do phương pháp điều trị đơn giản nhẹ nhàng, tỉ lệ tái phát thấp, đảm bảo duy trì khả năng sinh sản và chất lượng cuộc sống như ban đầu của người bệnh.
Theo ThS BS. Phạm Công Khánh - Phó trưởng khoa Nội soi Bệnh viện ĐH Y dược, tại Việt Nam, ung thư đại trực tràng là một trong 10 loại ung thư thường gặp với tỉ lệ tử vong đứng hàng thứ 5 ở cả hai giới.
Tuy nhiên, tỉ lệ phát hiện ung thư đại trực tràng ở giai đoạn sớm rất thấp chỉ từ 5,3% - 17,2%. Đa số người bệnh đến khám khi ung thư đã tiến triển, di căn đến hạch hay di căn xa, nên tiên lượng thường xấu, thời gian gian sống còn trên 5 năm chỉ đạt 18% - 85%.
Với ung thư tiến triển, người bệnh phải điều trị bằng các phẫu thuật phức tạp và có thể phải hóa và xạ trị, nằm viện lâu dài, tốn kém chi phí và tỉ lệ tái phát cao 5 – 10%.
Nếu được phát hiện sớm, người bệnh sẽ được điều trị bằng những phương pháp ít xâm lấn có thể bảo tồn được đại trực tràng, tỉ lệ sống còn cao trên 90%, tiết kiệm được thời gian và chi phí điều trị, phục hồi nhanh và tỉ lệ tái phát thường dưới 1%.
Nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng về phòng chống và phát hiện sớm bệnh ung thư, Bệnh viện Đại học Y Dược TPHCM phối hợp Quỹ Hỗ trợ bệnh nhân ung thư – Ngày mai tươi sáng thuộc Bộ Y Tế tổ chức chương trình “Sàng lọc và phát hiện sớm một số bệnh ung thư” nhằm khám, tư vấn, xét nghiệm tầm soát miễn phí các bệnh ung thư vú, ung thư cổ tử cung và ung thư đại trực tràng cho người dân vào các ngày 23/9, 30/9 và 7/10 tại bệnh viện.
http://infonet.vn/tren-11000-ca-mac-ung-thu-vu-moi-nam-post237541.info
Ca sinh hiếm có: Mẹ sinh con gái sau 7 năm mãn kinh
Bà Tess Morten ở Anh đã khiến các bác sĩ kinh ngạc và ngay cả chính bà cũng kinh ngạc khi mang thai sau 7 năm mãn kinh.
Đứa bé chào đời khỏe mạnh vào tháng 1.2017. Đây được xem là một ca sinh hiếm có trên thế giới.
Mặc dù đứa bé chào đời vào tháng 1.2017, tuy nhiên ngày 20.9.2017, nhiều báo ở Anh mới đồng loạt đăng thông tin này.
Ban đầu, bà Morten cảm thấy không khỏe và tình trạng này kéo dài suốt hàng tháng trời. Bà tìm đến bệnh viện khám. Các bác sĩ nghi ngờ có thể Morten bị mắc ung thư buồng trứng theo The Independent.
Tuy nhiên, họ sau đó phát hiện thật ra bà đang mang thai. Thai nhi đã được 3 tháng tuổi. Vài tháng sau, Morten đã sinh con tại Bệnh viện Hoàng gia Berkshire ở thị trấn Reading, hạt Berkshire của Anh. Đó là một bé gái nặng 3,5 kg. Em được bố mẹ đặt tên là Molly.
Trước đó, hai vợ chồng bà Morten (47 tuổi), và ông Neil (52 tuổi) kết hôn vào năm 2003 ở Jamaica. Kể từ đó, họ luôn tìm mọi cách để có con nhưng bất thành, đến năm 2010 thì bà Morten mãn kinh. Trong gần 14 năm chung sống, họ đã 3 lần đi thụ tinh trong ống nghiệm (IVF).
Tổng cộng, cặp vợ chồng đã chi hơn 27.000 USD (khoảng 620 triệu đồng) cho mơ ước có con. Cuối cùng, khi đã từ bỏ hy vọng và chấp nhận tìm con nuôi thì mọi thứ bỗng lóe sáng.
Sau nhiều tháng bị chuột rút thường xuyên và bị co thắt dạ dày, bà Morten đến khám bác sĩ. Bác sĩ cảnh báo trước rằng tình trạng bệnh có thể sẽ khá tồi tệ, theo The Sun.
Tuy nhiên, khi khám bệnh hoàn tất, bác sĩ khẳng định Morten không bị ung thư buồng trứng mà trái lại còn đang mang thai. “Bác sĩ nhìn vào màn hình siêu âm bụng của tôi và nói buồng trứng vẫn ổn nhưng yêu cầu tôi hãy nhìn vào điều này. Tôi nhìn vào màn hình và thấy một đứa trẻ. Tôi kinh ngạc và tự hỏi đây có phải là bụng của mình”, bà Morten kể lại.
Niềm vui này đã khiến ông Neil vỡ òa. Ông dẫn vợ trở lại bệnh viện khám một lần nữa vào ngày hôm sau. Kết quả xác định được giới tính của đứa trẻ, đó là một bé gái.
Các bác sĩ cho rằng bà Morten thụ thai được là nhờ tác dụng của HRT, một loại thuốc giúp giảm các triệu chứng của mãn kinh. Điều này có nghĩa là bà Morten mang thai một cách tự nhiên chứ không phải là nhờ các biện pháp giúp thụ thai như thụ tinh nhân tạo hay thụ tinh trong ống nghiệm. Đây được xem là hiện tượng rất hiếm khi xuất hiện ở những phụ nữ từ 50 tuổi trở lên, theo The Independent.
http://thanhnien.vn/suc-khoe/ca-sinh-hiem-co-me-sinh-con-gai-sau-7-nam-man-kinh-877952.html
Fanpage
Youtube


















