Điểm báo điện tử ngày 28/4/2017
28/04/2017
0
Tại sao càng nóng càng không nên uống nước lạnh?
Vào mùa nóng, thói quen của nhiều người là để nước vào tủ lạnh hoặc dùng đá làm lạnh cho vào nước uống. Tuy nhiên, cách này sẽ gây ra nhiều hậu quả xấu cho sức khỏe của bạn.
1. Hạn chế tiêu hóa
Nước lạnh hay thức uống lạnh nói chung đều làm co mạch máu, vì thế làm hạn chế quá trình tiêu hóa và ngăn cản quá trình hấp thu các chất dinh dưỡng khi tiêu hóa do thay vì tập trung cho tiêu hóa, cơ thể lại phải chuyển sang điều chỉnh nhiệt độ cơ thể cho phù hợp.
Nhiệt độ bình thường của cơ thể khoảng 37 độ C, khi uống nước quá lạnh, cơ thể buộc phải dùng năng lượng để tự điều chỉnh nhiệt độ chênh lệch này thay vì sử dụng năng lượng ấy cho việc tiêu hóa, hấp thu dinh dưỡng.
2. Đau cổ họng
Uống nước lạnh sẽ làm tăng nguy cơ bị đau họng, sổ mũi. Uống nước lạnh, đặc biệt là sau bữa ăn, sẽ làm tăng tích tụ chất nhầy trên niêm mạc hệ hô hấp nhằm tạo lớp bảo vệ đường hô hấp. Tuy nhiên, khi đường hô hấp bị tắc nghẽn, nó sẽ dễ bị rất nhiều chứng viêm nhiễm.
3. Ức chế tiêu hóa chất béo
Nếu uống nước lạnh ngay sau bữa ăn, nhiệt độ lạnh sẽ củng cố các chất béo trong thực phẩm bạn vừa ăn, khiến cơ thể bạn rất khó phân hủy các chất béo không mong muốn này. Bạn chỉ nên uống nước lạnh chừng hơn 30 phút sau bữa ăn.
4. Làm giảm nhịp tim
Vài nghiên cứu cho thấy uống nước lạnh có thể liên quan đến làm giảm nhịp tim. Nước lạnh kích thích dây thần kinh số 10. Dây thần kinh phế vị này là phần quan trọng trong hệ thống thần kinh tự trị của cơ thể, làm trung gian làm giảm nhịp tim.
5. Sốc nhiệt
Sau khi tập thể thao, hoạt động mạnh, bạn nhất thiết không nên uống nước lạnh, thay vì thế chỉ nên dùng nước ấm.
Khi tập luyện, rất nhiều nhiệt lượng được tạo ra, nếu uống nước lạnh ngay tức thì, sự chênh lệch nhiệt độ có thể tác động thẳng vào hệ tiêu hóa của bạn. Ngoài ra, cơ thể bạn không thể hấp thu nước lạnh, vì thế uống nước này sẽ chẳng có tác dụng. Vài người đã bị đau bao tử mãn tính vì uống nước lạnh sau khi hoạt động vì nước lạnh đã gây sốc nhiệt cho cơ thể.
Uống nước ở nhiệt độ bình thường không chỉ cấp nước và làm tiêu hóa nhanh hơn mà còn kích thích sản xuất enzyme tự nhiên tốt cho tiêu hóa. Nước ấm phân hủy thức ăn dễ hơn, giúp ruột hoạt động tốt hơn. Nó còn giúp thanh lọc máu, tăng giải độc tự nhiên cho cơ thể.
http://plo.vn/suc-khoe/dinh-duong/tai-sao-cang-nong-cang-khong-nen-uong-nuoc-lanh-698585.html
Sữa mẹ có thể giúp phát hiện sớm nguy cơ ung thư
Một nghiên cứu mới chỉ ra rằng các chỉ dấu protein có trong sữa mẹ có thể giúp phát hiện ung thư vú trong giai đoạn sớm và thậm chí dự đoán được người đó có nguy cơ mắc bệnh gây chết người hay không.
Phát hiện ung thư vú ở phụ nữ trẻ trong giai đoạn sớm gặp nhiều thử thách vì chụp nhũ ảnh và các kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh ít hiệu quả vì phụ nữ trẻ có mô vú dày và có mối liên quan tiềm ẩn giữa mang thai và nguy cơ ung thư vú.
Một trong những lựa chọn tiềm năng để phát hiện ung thư vú là giám sát chỉ dấu sinh học protein trong các loại chất dịch cơ thể như huyết thanh, dịch trong ống sữa, nước mắt, nước tiểu và sữa mẹ.
Các nhà nghiên cứu Mỹ đã điều tra các dấu hiệu hóa sinh của ung thư vú có thể phát hiện trong sữa mẹ. Họ so sánh các mẫu sữa mẹ từ phụ nữ bị ung thư vú, phụ nữ không bị ung thư vú và phụ nữ sau đó được chẩn đoán bị ung thư vú. Nhóm nghiên cứu sau đó xác định những thay đổi về biểu hiện protein trong sữa mẹ khi một phụ nữ bị hoặc sẽ sớm bị ung thư vú, có thể là do nguy cơ hoặc phát triển ung thư. Sữa mẹ cho phép tiếp cận mô vú ở dạng tế bào biểu mô đã chết, đây là nguồn gốc của hầu hết các loại ung thư vú, các nhà nghiên cứu cho biết.
Phân tích sữa mẹ là một phương pháp không xâm lấn có thể được dùng để chẩn đoán ung thư. Sau khi được nghiên cứu thêm, phương pháp này có thể cung cấp cách tiếp cận mới, không xâm lấn để kiểm tra ung thư vú cho phụ nữ độ tuổi sinh đẻ.
http://suckhoedoisong.vn/sua-me-co-the-giup-phat-hien-som-nguy-co-ung-thu-n130915.html
Lần đầu tiên Việt Nam ‘bóc’ nang thận không cần mổ
Chỉ với 1 mũi kim nhỏ chích vào nang thận sẽ hút sạch toàn bộ dịch trong nang, xử lý triệt để bệnh nhân mắc nang thận mà không cần phải mổ hở hay mổ nội soi… Đây là kỹ thuật chọc hút dẫn lưu ra khoang sau phúc mạc trong điều trị nang thận lần đầu tiên được ứng dụng tại Việt Nam.
Ngày 27.4, thông tin từ Bệnh viện Nhân dân 115 (TP.HCM) cho hay, bệnh viện này đã đưa ra kỹ thuật chọc hút dẫn lưu ra khoang sau phúc mạc và đã ứng dụng thành công kỹ thuật này trong điều trị nang thận mà không cần phẫu thuật.
Bác sĩ Trương Hoàng Minh, Trưởng khoa Ngoại niệu – Ghép thận, Bệnh viện Nhân dân 115 cho biết, đây là kỹ thuật được các bác sĩ của bệnh viện cải tiến từ kỹ thuật chọc hút nang thận siêu âm. Với kỹ thuật này cho phép dẫn lưu dịch liên tục ra khoang sau phúc mạc (ổ bụng) bằng ống thông JJ chuyên biệt trong kỹ thuật chọc hút nang thận siêu âm.
Khi đó, dịch sẽ được hệ thống mao mạch ở lớp mỡ Getora quanh thận hấp thu hết. Phần bao quanh nang sẽ xẹp xuống và dính sát đáy nang, còn ống JJ sẽ được vùi dưới da. Mỗi ca điều trị chỉ kéo dài từ 20 đến 25 phút và bệnh nhân có thể xuất viện ngay trong ngày.
Đặc biệt tỷ lệ tái phát giảm xuống chỉ còn 5 - 10%, hạn chế các biến chứng, nhất là nhiễm trùng và nguy cơ chảy máu, ít xâm lấn và chi phí thấp. Chi phí điều trị ước tính 2 triệu đồng, nếu bệnh nhân có bảo hiểm y tế còn thấp hơn nhiều.
Trong khi đó việc điều trị nang thận hiện nay là chọc hút nang thận siêu âm, theo bác sĩ Minh tỷ lệ tái phát rất cao lên đến 70% sau 3 tháng, bệnh nhân lại bị nóng rát. Điều này là do khi điều trị bằng kỹ thuật này, bệnh nhân phải bơm một lượng lớn chất xơ hóa nang (betadine, ethanoil…), chiếm khoảng 30% đến 40% so với kích thước của nang.
Riêng 2 phương pháp điều trị nang thận truyền thống lâu nay là mổ hở và mổ nội soi thường dễ gây biến chứng, tốn kém về thời gian và tiền bạc của bệnh nhân, nhân viên y tế. Chi phí cho một ca điều trị nang thận bằng mổ hở hay mổ nội soi lên đến hơn 10 triệu đồng.
“Như vậy với phương pháp chọc hút dẫn lưu ra khoang sau phúc mạc, bệnh nhân không cần phải phẫu thuật, dễ thực hiện, giá thành thấp, tỷ lệ tái phát thấp, xuất viện ngay”, bác sĩ Minh nhấn mạnh.
Cũng theo bác sĩ Minh người mắc nang thận có 3 dạng gồm: nang thận đơn thuần, nang thận đa nang và nang thận mắc phải.
Nang thận đơn thuần là tổn thương thận dạng nang, hình thành từ nhu mô thận; còn nang thận đa nang là do bẩm sinh; nang thận mắc phải chủ yếu phát sinh từ những bệnh nhân chạy thận nhân tạo.
Tỷ lệ người mắc nang thận tăng dần theo độ tuổi. Ở trẻ em, tỷ lệ mắc nang thận chiếm khoảng 0,22 đến 0,55%, dưới 40 tuổi chiếm khoảng 20%, dưới 60 tuổi chiếm khoảng 33%, dưới 80 tuổi chiếm khoảng 40%.
“Nang thận khi nhỏ thường không có triệu chứng, nhưng khi nang to sẽ gây đau ở vùng hông lưng có nang, tiểu máu, tăng huyết áp, thận ứ nước do nang chèn ép vào hệ thống đài bể thận. Những bệnh nhân bị nang có kích thước trên 6cm, hoặc bị đau, nhiễm trùng và có gây chèn ép bế tắc đường niệu, thường được chỉ định phẫu thuật để điều trị”, bác sĩ Minh chia sẻ.
http://motthegioi.vn/suc-khoe-c-84/lan-dau-tien-viet-nam-boc-nang-than-khong-can-mo-61626.html
Ung thư phổi giết chết 90% người mắc bệnh này ở Việt Nam
Ung thư phổi là loại ung thư phổ biến nhất ở đàn ông Việt Nam, tỷ lệ mắc mới và tử vong gần như ngang nhau và đến 90% người bệnh không qua khỏi.
Trên thế giới cứ một phút có 3 người chết vì ung thư phổi. Nó là nguyên nhân của gần 1,6 triệu ca tử vong mỗi năm, nhiều hơn tổng số ca chết do ung thư vú, đại trực tràng, tiền liệt tuyến.
Theo phó giáo sư Rafael Molina Porto, Chủ tịch Hội Ung thư và Dấu ấn Sinh học Quốc tế, ung thư phổi là loại ung thư phổ biến trên thế giới, đang có xu hướng tăng, tỷ lệ tử vong rất cao. Trong số 5 bệnh nhân tử vong do ung thư thì có một người ung thư phổi.
Xu hướng này cũng tương tự tại Việt Nam. Mỗi năm nước ta có khoảng 22.000 ca mắc mới ung thư phổi thì có đến 19.500 người tử vong vì căn bệnh này. Bệnh được chẩn đoán muộn là rào cản lớn nhất cho quá trình điều trị, dẫn đến tỷ lệ tử vong cao.
Biểu hiện sớm của bệnh thường không rõ ràng như tức ngực, ho ra máu, thở gấp, khó thở, ho kéo dài. Những biểu hiện này có thể gặp ở nhiều bệnh thông thường khác. Hậu quả là có đến 70% bệnh nhân ung thư phổi được phát hiện muộn dẫn đến việc điều trị rất khó khăn. Khả năng sống sau 5 năm của bệnh nhân ung thư phổi rất thấp, chỉ 18% so với 91% đối với bệnh nhân ung thư vú.
Với ung thư phổi, phòng bệnh là quan trọng nhất. Bên cạnh đó cần phải chẩn đoán sớm. Biện pháp chẩn đoán tốt nhất hiện nay là chụp CT song nhiều kết quả dương tính giả, chi phí lớn, sàng lọc chụp hàng năm rất tốn kém. Người bệnh có thể sàng lọc bằng cách xét nghiệm tìm các chất chỉ điểm khối u giúp chẩn đoán bệnh từ giai đoạn sớm. Đây là những chất do tế bào sản sinh ra, bình thường nồng độ thấp nhưng khi xuất hiện khối u các chất này có lượng rất lớn trong máu.
“Kết hợp nhiều chỉ dấu trong sàng lọc ung thư phổi, độ đặc hiệu có thể lên đến 80%, chỉ bỏ sót 20%. Vì thế để tránh chẩn đoán nhầm, những trường hợp nghi ngờ sẽ làm thêm xét nghiệm lần 2, độ đặc hiệu lên đến 99%”, giáo sư Rafael Molina phân tích.
Giáo sư Mai Trọng Khoa, Giám đốc Trung tâm Y học Hạt nhân và Ung bướu, Phó Giám đốc Bệnh viện Bạch Mai (Hà Nội) cũng nhấn mạnh, định lượng các chất chỉ điểm khối u có thể là một lựa chọn sàng lọc ung thư phổi với giá thành thấp, kết quả cao. Tuy nhiên cần lưu ý không phải cứ có chất chỉ điểm khối u là bạn bị ung thư.
Theo giáo sư Khoa, ung thư phổi có các dấu ấn gồm: CEA, CYFRA21, NSE, ProGRP, SCC. Đây là các xét nghiệm máu hầu hết bệnh viện trung ương và tỉnh đều có thể làm được. Những người trong nhóm nguy cơ cao có thể xét nghiệm tìm các dấu ấn trên kết hợp với chẩn đoán hình ảnh (chụp X-quang, CT) định kỳ. Sau xét nghiệm, để chẩn đoán chính xác có bị ung thư không thì cần phải làm sinh thiết.
Nhóm nguy cơ cao gồm người hút thuốc, hút thuốc thụ động, gia đình có người bị ung thư phổi, làm việc trong môi trường có nguy cơ tiếp xúc với các chất gây ung thư, ô nhiễm không khí ở thành thị… Các dấu ấn ung thư phổi này cũng giúp theo dõi tái phát sau điều trị, đánh giá hiệu quả điều trị.
http://ngaynay.vn/suc-khoe/ung-thu-phoi-giet-chet-90-nguoi-mac-benh-nay-o-viet-nam-45411.html
3 nước châu Phi sẽ thử nghiệm loại vắc-xin ngừa sốt rét đầu tiên trên thế giới
Ghana, Kenya và Malawi là 3 nước được lựa chọn để thử nghiệm loại vắc-xin ngừa sốt rét đầu tiên trên thế giới kể từ năm sau.
200 triệu là số người bị nhiễm sốt rét hàng năm trên toàn thế giới, trong số đó có nửa triệu người thiệt mạng vì căn bệnh này. Trước tình hình này, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) tuyên bố 3 nước châu Phi đã được chọn để thử nghiệm loại vắc-xin ngừa sốt rét đầu tiên trên thế giới. 3 nước: Ghana, Kenya và Malawi sẽ thử nghiệm để tiêm vắc-xin này vào năm sau cho trẻ em có nguy cơ cao tử vong.
Vắc-xin sẽ được thử nghiệm trên trẻ em từ 5-17 tháng tuổi để xem liệu hiệu quả bảo vệ trong thử nghiệm lâm sàng có đáp ứng điều kiện thực tế hay không. Vắc-xin trên đã phải trải qua hàng chục thập kỷ nghiên cứu và hàng trăm triệu đôla để phát triển. WHO hy vọng sẽ xóa sổ sốt rét vào năm 2040.
Loại vắc-xin ngừa sốt rét trên do hãng dược phẩm GlaxoSmithKline phát triển nên, và 49 triệu USD cho giai đoạn đầu tiên của đợt thí điểm đang được Liên minh Vắc-xin toàn cầu GAVI, UNITAID và Quỹ Toàn cầu phòng chống AIDS, Lao và Sốt rét tài trợ.
Phẫu thuật cột sống bằng robot đạt tỉ lệ thành công 100%
Đó là số liệu được công bố tại hội thảo cập nhật những tiến bộ trong phẫu thuật cột sống có ứng dụng robot hỗ trợ trên thế giới và Việt Nam vừa tổ chức tại Hà Nội.
Theo PGS Nguyễn Văn Thạch, Chủ tịch Hội chấn thương chỉnh hình Việt Nam, vai trò của robot trong phẫu thuật cột sống là vô cùng quan trọng, mang lại sự chính xác tới 98% khi can thiệp. Đây là ưu thế vượt trội của robot khi bác sĩ phải can thiệp vào vùng cột sống nhạy cảm của bệnh nhân.
Trên Thế giới, ứng dụng robot hỗ trợ phẫu thuật cũng đã được triển khai trong những năm gần đây và ngày càng được hoàn thiện hơn về công nghệ, kỹ thuật. Robot nâng cao độ chính xác của phẫu thuật, giảm tối đa nguy cơ phơi nhiễm tia X của phẫu thuật viên và người bệnh.
Hiện nay có 4 hệ thống robot nổi bật đang được ứng dụng trong y học hiện đại, đó là robot phẫu thuật nội soi Da Vinci, robot phẫu thuật cột sống Renaissance, robot phẫu thuật khớp gối và khớp háng Makoplasty và robot phẫu thuật thần kinh Rosa.
“Sau gần 5 năm triển khai với 600 bệnh nhân được theo dõi tái khám sau phẫu thuật cho thấy, 100% ca bệnh chấn thương cột sống được phẫu thuật bằng robot tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức đều thành công và không có biến chứng nào được ghi nhận”, PGS Thạch khẳng định.
Các bác sĩ đã tiến hành phẫu thuật được 1.625 vít với sự hỗ trợ của robot định vị chính xác, độ chính xác của các vít bắt được đánh giá theo phân loại của Gertbein và Robbins đạt 98,3%. Mức độ cải thiện triệu chứng lâm sàng thần kinh ở các bệnh nhân bệnh lý trượt thân đốt sống đạt kết quả tốt, không có biến chứng nào được ghi nhận trong quá trình bắt vít, nhất là với người bệnh phẫu thuật chỉnh vẹo cột sống ngực - thắt lưng lối sau.
PGS.TS Nguyễn Văn Thạch cũng chia sẻ, những ca đầu tiên phẫu thuật bằng robot kéo dài tới gần 10 giờ đồng hồ. Nhưng hiện nay, thời gian phẫu thuật đặt vít trung bình là 1,5 giờ với bệnh nhân chấn thương cột sống và 3 giờ với bệnh nhân trượt đốt sống, bao gồm cả ghép xương liên thân đốt.
Với những thành công này, Khoa phẫu thuật cột sống Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức đã trở thành trung tâm phẫu thuật cột sống ứng dụng định vị robot hỗ trợ chính xác Renaissance cho người bệnh đầu tiên và nhiều nhất khu vực Đông Nam Á, đứng thứ 2 khu vực Châu Á.
Đánh giá cao các thành tựu của việc đi đầu trong ứng dụng thành công robot vào phẫu thuật cột sống của Việt Nam, Tổ chức Nghiên cứu và ứng dụng robot trong phẫu thuật cột sống quốc tế đã tặng Khoa Phẫu thuật cột sống BV Việt Đức và PGS.TS. Nguyễn Văn Thạch Kỷ niệm chương “Vì sự tiên phong trong lĩnh vực ứng dụng robot hỗ trợ chính xác Renaissance để điều trị cho người bệnh”.
http://congly.vn/xa-hoi/suc-khoe/phau-thuat-cot-song-bang-robot-dat-ti-le-thanh-cong-100-207174.html
Fanpage
Youtube


















