Điểm báo điện tử ngày 8/10/2014
08/10/2014
0
Cảnh báo hóa chất trong mỹ phẩm có nguy cơ gây ung thư vú
Giai đoạn đầu tiên của qúa trình thương mại hóa đã diễn ra vào những năm 1950. Khi đó, parabens là một loại hợp chất thường được sử dụng làm chất bảo quản trong hàng loạt các sản phẩm chăm sóc sức khỏe, mỹ phẩm làm đẹp và đồ dùng chăm sóc cá nhân.
Mọi sản phẩm mà người tiêu dùng đang sử dụng có thành phần methylparaben, ethylparaben, Propylparaben, butylparaben và isobutylparaben đều chứa parabens. Những thành phần này được thêm vào các loại sản phẩm khử mùi, kem đánh răng, dầu gội, điều hòa, sữa dưỡng thể, đồ trang điểm và trong nhiều sản phẩm khác nhằm ngăn chặn quá tình phát triển của nấm, vi khuẩn và các sinh vật có khả năng gây hại khác.
Theo nhiều nhà nghiên cứu, khoảng 90% các mặt hàng tiêu dùng đều chứa parabens. Đó là lý do vì sao ngay cả những người không sử dụng các sản phẩm chăm sóc cá nhân chứa hóa chất độc hại, vẫn có thể hít phải parabens vào máu.
Các chuyên gia y tế lo ngại, mặc dù khi dùng các sản phẩm riêng lẻ có hàm lượng parabens an toàn theo hạn định của Cục Quản lý Dược và Thực phẩm Mỹ (FDA), tuy nhiên hóa chất tích lũy trong nhiều sản phẩm khác nhau có thể sẽ gây quá tải và dẫn đến các vấn đề về sức khỏe.
"Hậu quả nghiêm trọng nhất mà parabens gây ra là phá vỡ chức năng nội tiết tố làm tăng nguy cơ ung thư vú và vô sinh. Parabens mô phỏng estrogen bằng cách bám vào các thụ thể estrogen trong tế bào", theo báo cáo từ Chiến dịch phi lợi nhuận về mỹ phẩm an toàn (CSC).
Nghiên cứu cho thấy, trong một số trường hợp, hoạt động của estrogen có thể vượt quá mức bình thường gây ra phản ứng tăng lượng phân chia tế bào mẹ và hình thành khối u.
Ngoài ra, CSC còn trích dẫn một nghiên cứu của Anh năm 2004 phát hiện thấy dấu vết của năm hóa chất paraben trong các khối u vú của 19 trong số 20 phụ nữ được nghiên cứu. "Nghiên cứu nhỏ này không đủ để chứng minh mối quan hệ nhân quả giữa paraben và ung thư vú, tuy nhiên điều quan trọng là sự xuất hiện của hợp chất parabens không hề thay đổi trong quá trình trao đổi chất, xâm nhập vào cơ thể qua da và lưu lại trong mô vú".
Một nghiên cứu gần đây cho biết thêm, hàm lượng paraben, n-Propylparaben, ở mức cao đọng trong nách gây nguy cơ u vú cao nhất. CSC còn cảnh báo báo, parabens cũng gây ra các vấn đề về sinh sản, miễn dịch, thần kinh và kích ứng da.
"Nhiều nhà sản xuất mỹ phẩm tự nhiên đã tìm thấy giải pháp thay thế hiệu quả cho paraben nhằm ngăn chặn sự phát triển của vi sinh vật trong các sản phẩm chăm sóc cá nhân. Một số công ty đã tạo ra các sản phẩm chứa chất bảo quản có hạn sử dụng ngắn hơn thông thường (sáu tháng đến một năm), tuy nhiên nếu sử dụng hàng ngày người dùng có thể sử dụng hết trước hạn định", báo cáo của CSC cho hay. Tuy nhiên, cách tốt nhất để đảm bảo an toàn cho sức khỏe là người dùng nên kiểm tra kĩ nhãn mác trước khi quyết định sử dụng các sản phẩm hàng hóa, đồ dùng cá nhân
Vì sao bệnh ung thư tăng nhanh?
Theo thống kê của Bộ Y tế, mỗi năm nước ta có khoảng 150 nghìn người mới mắc ung thư và 100 nghìn người tử vong vì ung thư. Còn Bệnh viện K thống kê: Nếu 5 năm trước, mỗi ngày phòng khám Bệnh viện K tiếp nhận khoảng 700-800 bệnh nhân thì ngày nay con số ngày tăng vọt lên đến hơn 1.000 bệnh nhân. Như vậy, tính số lượng bệnh nhân ung thư vào Bệnh viện K mỗi năm tăng 10-20%. Điều đó cho thấy chưa bao giờ con người phải đối mặt với tình trạng gia tăng bệnh ung thư nghiêm trọng như bây giờ.
Ngay cả thế giới cũng cảnh báo điều này khi Liên Hiệp Quốc dựa trên nghiên cứu của Viện Nghiên cứu quốc tế về ung thư đã công bố bản báo cáo: Từ 14 triệu người bị ung thư và tử vong vào năm 2012 sẽ tăng lên đến 22 triệu người sau 20 năm nữa, tức khoảng 60%. Điều đó đồng nghĩa với việc số người tử vong tăng từ 8,2 triệu người mỗi năm lên đến 13 triệu người.
Bản báo cáo cũng nhận định, trong số các loại ung thư thì ung thư phổi là đứng hàng đầu về số người mắc và tử vong với 1,8 triệu ca riêng trong năm 2012; Tiếp đến là ung thư vú có 1,7 triệu ca, chiếm 11,9%; Thứ 3 là ung thư ruột già với 1,4 triệu bệnh nhân, chiếm xấp xỉ 10%; Thứ 4 là ung thư gan có 800 nghìn người mắc và ung thư dạ dày có 700 nghìn người mắc… Tuy nhiên, sau ung thư phổi, ung thư dạ dày là nguyên nhân gây tử vong nhiều thứ 2 dù số người mắc bệnh không phải cao nhất. Và điều đáng lưu ý là tỷ lệ số người mắc ung thư và tử vong cao nhất tập trung ở các quốc gia châu Á, châu Phi, Trung và Nam Mỹ.
Theo phân tích của các chuyên gia thuộc Viện Nghiên cứu quốc tế về ung thư, nguyên nhân dẫn đến gia tăng tình trạng này trước hết là do tuổi thọ của dân số trên thế giới tăng, làm cho con người ở vào giai đoạn cuối của cuộc đời có sức đề kháng kém nhất dễ mắc ung thư. Nguyên nhân thứ 2 là do lối sống công nghiệp, sinh hoạt bừa bãi, tác động đến cơ quan nội tạng gây ung thư và nguyên nhân thứ 3 là do môi trường, chế độ cũng như chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm… trở thành “cơ chế” gây bệnh ung thư ở con người.
Và theo ông Christopher Wild, Giám đốc cơ quan quốc tế Nghiên cứu Ung thư cho biết, chi phí để điều trị bệnh ung thư vô cùng tốn kém, ảnh hưởng nghiêm trọng tới nền kinh tế không chỉ nước nghèo mà cả nước giàu. Bởi tính riêng năm 2010, phí tổn điều trị ung thư lên đến 1,16 triệu tỉ USD trên toàn thế giới. Bởi vậy, ông Christopher Wild khẳng định: “Chúng ta không thể né tránh các vấn đề ung thư. Cần nhiều hơn những cuộc hội thảo về ngăn ngừa và phát hiện sớm để cải thiện khả năng điều trị và truyền tải đi những thông điệp cảnh báo về sự gia tăng của ung thư toàn cầu tới khắp nơi trên thế giới, trong đó đặc biệt là những khu vực có tỷ lệ ung thư cao nhất”.
Trên cơ sở bản báo cáo của Viện Nghiên cứu quốc tế về ung thư thì Việt Nam cũng là một trong những quốc gia có tỷ lệ ung thư cao nhất. Như đã nói, Bộ Y tế cũng đã thống kê, mỗi năm nước ta có khoảng 150 nghìn người mới mắc ung thư và 100 nghìn người tử vong vì căn bệnh ấy. Bác sĩ Mai Trọng Khoa, Phó giám đốc Bệnh viện Bạch Mai cho biết: “Ở Việt Nam, “dẫn đầu” là 15 loại bệnh ung thư thường gặp gồm: Ung thư phổi, vú, đại trực tràng, dạ dày, gan, tiền liệt tuyến, khoang miệng, thực quản, tử cung… Trong đó, tỷ lệ mắc ung thư cổ tử cung ở TP Hồ Chí Minh cao gấp 6 lần Hà Nội. Nhưng ung thư vú ở Hà Nội lại cao gấp rưỡi TP Hồ Chí Minh. Nam giới ở TP Hồ Chí Minh mắc ung thư gan nhiều, nhưng nam giới ở Hà Nội mắc ung thư phổi nhiều hơn hẳn. Đây cũng là hai thành phố có số bệnh nhân ung thư thuộc hàng cao nhất toàn quốc. Còn ung thư vú, theo thống kê của Bộ Y tế, cứ 10 phụ nữ Việt thí có 1 người mắc ung thư vú và khi đến viện, phần lớn người bệnh đã ở giai đoạn khó có thể chữa trị nên tỷ lệ tử vong khoảng 40-50%. Cho nên, ung thư vú là căn bệnh được ngành y tế nhận định có tỷ lệ tử vong cao sau ung thư phổi, dạ dày và gan.
Một minh chứng thiết thực khác cho thấy Việt Nam là một trong những quốc gia có tỷ lệ người mắc và tử vong vì ung thư cao nhất thế giới ấy là: Nếu 5 năm trước, mỗi ngày phòng khám Bệnh viện K tiếp nhận khoảng 700-800 bệnh nhân, nhưng gầy đây con số ngày tăng vọt lên đến hơn 1.000 bệnh nhân/ngày. Chưa kể hai cơ sở điều trị của bệnh viện luôn có khoảng 2.000 bệnh nhân điều trị nội trú. Bác sĩ Trần Văn Thuấn, Phó giám đốc Bệnh viện K chia sẻ: “Bệnh viện K là một trong những cơ sở y tế quá tải nhất nước, có lúc chịu đựng tới gần 300% so với năng lực. Mỗi năm, lượng bệnh nhân ung thư vào Bệnh viện K tăng 10-20%”.
Còn bác sĩ Đặng Huy Quốc Thịnh, Phó giám đốc Bệnh viện Ung bướu TP Hồ Chí Minh nói, bệnh nhân đến khám và điều trị tại bệnh viện của ông năm sau luôn tăng hơn năm trước, như năm 2009, bệnh nhân đến khám và điều trị nội trú được Bệnh viện quản lý là 7.000 bệnh nhân thì năm 2013 đã lên đến 10 nghìn bệnh nhân. Như vậy, số bệnh nhân ung thư tăng lên tới mức… chóng mặt, cho thấy Việt Nam thuộc quốc gia có tỷ lệ ung thư cao nhất thế giới là không sai.
Vậy nguyên nhân chủ yếu gây bệnh ung thư và làm gia tăng để rồi khiến Việt Nam là một trong những quốc gia có tỷ lệ ung thư cao nhất là gì? Theo cơ chế gây bệnh ung thư mà bác sĩ Nguyễn Thị Vượng, Khoa Ung bướu, ĐH Y Hà Nội cho biết, đó là tất cả những gì tấn công vào nhân tế bào đều có thể gây ung thư. Bởi ung thư chính là những tế bào bị đột biến, có khả năng sinh sôi nảy nở một cách vô độ những dòng tế bào không tuân theo quy luật, sự kiểm soát của cơ thể, đồng thời còn tạo ra những khối u ác tính. Mà tế bào đột biến, 80% là do môi trường bên ngoài tác động vào, còn tự đột biến thì rất thấp, chỉ chiếm 10%.
Sự “tấn công” từ bên ngoài tới nhân tế bào, theo bác sĩ Vượng, nguy hiểm nhất chính là thực phẩm và môi trường sống như nguồn nước, không khí… Tuy nhiên, so với môi trường thì thực phẩm đang là một trong những nguyên nhân chính gây bệnh ung thư ở Việt Nam. Bác sĩ Vượng nói: “Chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm không bảo đảm, cụ thể bị nhiễm hóa chất có thể gây ngộ độc lập tức nhưng nếu tích tụ lâu dài trong cơ thể, đến một lúc nào đó, đủ lượng sẽ gây đột biến tế bào. Nếu đột biến nhẹ, tế bào có thể tự điều chỉnh. Nhưng bị đi bị lại nhiều lần, tế bào sẽ “nhờn”, mất khả năng điều chỉnh trở thành tế bào đột biến ác tính.
Và thực tế, chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm Việt Nam hiện nay đang ở mức báo động trầm trọng, không một loại thực phẩm nào từ rau củ quả đến thịt động vật, gia súc… đặc biệt là loại nhập khẩu từ Trung Quốc là không nhiễm hóa chất, chỉ ít hay nhiều mà thôi. Tất cả những hóa chất ấy đều có thể gây ung thư. Ngoài ra cách chế biến hay thói quen trong sinh hoạt ăn uống cũng vô tình tạo ra những chất gây ung thư như nướng, rán cháy thực phẩm, muối hoặc ủ một số thực phẩm để lên men, ăn nhiều mỡ, thịt động vật…
Do vậy, để phòng ngừa ung thư không phải là “lực bất tòng tâm”, ngược lại còn đơn giản đến mức không tưởng tượng được. Như Viện Nghiên cứu quốc tế về Ung thư khuyến cáo, 50% các loại ung thư có thể ngăn ngừa và tránh được bằng những kiến thức y học hiện đại. Cụ thể đối với những bệnh ung thư liên quan đến lối sống như nghiện thuốc lá, nghiện chất cồn, ăn uống có thể ngừa được hay những bệnh ung thư liên quan tới viêm nhiễm như ung thử cổ tử cung, ung thư gan có thể phòng bằng vắc-xin. Tuy nhiên, tại Việt Nam, cách phòng ngừa ung thư, đặc biệt từ ăn uống dường như cho thấy khó thực hiện được vào thời điểm này bởi vệ sinh thực phẩm vẫn là vấn đề chưa biết bao giờ giải quyết được! Cho nên hiểm họa đại dịch ung thư ở Việt Nam được dự báo còn tăng nữa.
http://www.petrotimes.vn/news/vn/xa-hoi/song-khoe/vi-sao-benh-ung-thu-tang-nhanh.html
Việt Nam có 250.000 người mắc bệnh tâm thần phân liệt
Theo tổ chức Y tế thế giới, ước tính toàn cầu có ít nhất 26 triệu người đang sống chung với bệnh tâm thần phân liệt. Bệnh tâm thần phân liệt là một trong những nguyên nhân gây tàn phế hàng đầu thế giới.
Tại Việt Nam, ước tính có 250.000 người mắc bệnh tâm thần phân liệt những người này chủ yếu sống tại gia đình và không có việc làm. Tính đến hết năm 2013, Dự án Bảo vệ Sức khỏe Tâm thần cộng đồng và Trẻ em thuộc Chương trình Mục tiêu Y tế Quốc gia đã quản lý và theo dõi tại cộng đồng 192.545 bệnh nhân tâm thần phân liệt.
So với người bình thường, người mắc bệnh tâm thần phân liệt tử vong sớm hơn từ 15-20 năm, thất nghiệp nhiều hơn từ 6-7 lần. Họ thường xuyên đối mặt với cảnh vô gia cư và các tổ chức tội phạm. Khoảng từ 5-10% bệnh nhân phải tự lo cho cuộc sống của bản thân.
Bệnh tâm thần phân liệt là một bệnh lý của não, có những biến đổi sinh học phức tạp, chịu tác động mạnh của môi trường tâm lý xã hội không thuận lợi.
Thêm quyền lợi cho bệnh nhân ung thư
Với nhiều bệnh nhân nghèo, nhất là bệnh nhân ung thư, ngoài nỗi lo bệnh tật thì gánh nặng giá thuốc là nguyên nhân khiến họ mất đi cơ hội được kéo dài cuộc sống
Nhiều loại thuốc trị ung thư, thuốc thải ghép, thuốc điều trị viêm khớp không nằm trong danh mục thuốc bảo hiểm y tế (BHYT) đang được đề xuất chi trả 50%-100%. Danh mục thuốc BHYT mới nhất dự kiến áp dụng vào đầu năm 2015 khi Luật BHYT sửa đổi có hiệu lực.
Theo bà Tống Thị Song Hương, Vụ trưởng Vụ BHYT, một số thuốc ung thư, thuốc ngoài danh mục đã được các bệnh viện đề xuất tăng mức thanh toán. Đơn cử như thuốc Glivec và Tasigna (điều trị ung thư máu) được đề xuất mức tăng lên 70%-100% thay vì thanh toán 50%. Hiện chi phí cho thuốc Glivec là 48,5 triệu đồng/tháng và Tasigna là gần 85 triệu đồng/tháng.
Trong khi đó, một số thuốc điều trị ung thư đang được thanh toán 50% cũng được các bệnh viện đề xuất tăng mức thanh toán cho người bệnh lên 100%. Đó là Avastin (trị ung thư phổi, đại trực tràng, thận, não, buồng trứng), chi phí khoảng 150 triệu đồng/năm; thuốc Cimaher (trị ung thư đầu mặt cổ giai đoạn muộn) có mức thanh toán từ 122 - 245 triệu đồng/năm; thuốc Agrentina (trị ung thư phổi), chi phí điều trị trong 4 đợt khoảng 74 triệu đồng; thuốc Simulect (thuốc chống thải ghép) có chi phí từ 28 triệu đến 57 triệu đồng/năm. Ngoài ra, với những bằng chứng về hiệu quả sử dụng cho các bệnh nhân ghép tế bào gốc, Viện Huyết học - Truyền máu trung ương đề xuất tăng mức chi trả với thuốc BiCNU từ 50% lên 70%. Hiện mức thanh toán cho thuốc này là 55 triệu đồng/ca.
Với một số thuốc thời gian qua gây nhiều tranh cãi về chi phí lớn là thuốc trị ung thư máu Decitabin, chi phí khoảng 300 triệu đồng/bệnh nhân/4 chu kỳ, Trastuzumad (trị ung thư vú có HER2 dương tính, u dạ dày di căn) chi phí 30 triệu đồng/3 tuần và Cetuximad (ung thư đại trực tràng di căn), chi phí từ 86 - 101 triệu đồng/tháng, được đề xuất giữ nguyên mức quỹ BHYT thanh toán như hiện nay là 50%.
Theo bà Tống Thị Song Hương, điều chỉnh danh mục thuốc lần này ngoài việc rà soát loại bỏ một số thuốc đã bị đình chỉ, rút số đăng ký; thuốc hỗ trợ điều trị mà hiệu quả chưa rõ ràng nhưng chi phí lại quá lớn; giảm mức thanh toán BHYT với một số thuốc thì danh mục cũng bổ sung một số loại thuốc mới. “Đây là các loại thuốc thuộc công nghệ mới, hiệu quả điều trị có thể tốt hơn nhưng giá rất đắt, nếu điều trị trên diện rộng thì quỹ BHYT không thể chi trả. Do đó, các thuốc này sẽ được hạn chế sử dụng, chỉ được chỉ định ở một số trường hợp” - bà Hương nhấn mạnh. Tuy vậy, bà Hương cho rằng với hơn 50 hoạt chất và thuốc điều trị ung thư, hơn 100 loại thuốc điều trị tim mạch, gần 20 hoạt chất điều trị tiểu đường có trong danh mục, đặc biệt có những thuốc chi phí điều trị lên tới cả trăm triệu đồng vẫn đang được quỹ BHYT chi trả, đủ đáp ứng nhu cầu điều trị thông thường.
Đại diện Bộ Y tế cho rằng khi xây dựng danh mục, các thành viên hội đồng luôn cân nhắc giữa một bên là giới hạn của quỹ BHYT, một bên là tinh thần nhân văn đối với bệnh nhân bị ung thư. “Khi bị ung thư thì hầu hết bệnh nhân đều rơi vào sự cùng cực, khốn khó. Người bệnh mua thẻ BHYT để hy vọng có được chỗ dựa về tài chính. Do đó, danh mục thuốc mới hướng tới hiệu quả trong điều trị với giá phù hợp khả năng chi trả của cả người bệnh và quỹ BHYT” - đại diện Bộ Y tế nhận định.
Bà Hương cũng khẳng định quyền lợi người bệnh luôn được ưu tiên hàng đầu khi mà trong danh mục mới nhất này tiếp tục bổ sung một số thuốc mới có chi phí lớn. Đó là thuốc Infliximab, Tocilizumab (trị viêm khớp) chi phí 13-35 triệu đồng/tháng; Bosentan (tăng áp lực động mạch phổi), chi phí 48 triệu đồng/tháng đều được đề xuất quỹ BHYT thanh toán 50%. Ngoài ra, 2 loại thuốc điều trị viêm gan C với chi phí khoảng 100 triệu đồng/đợt là Interferon và Pegylated interferon được đề xuất thanh toán 50%. Theo bà Hương, hiện tổng chi phí cho khám chữa bệnh từ túi tiền người bệnh vẫn chiếm tới gần 50%. “Với mức chi phí “khủng” từ những loại thuốc đắt tiền này, người mắc bệnh hiểm nghèo sẽ mang gánh nặng thật sự nếu quỹ BHYT đứng ngoài cuộc” - bà Hương nói.
GS-TS Nguyễn Anh Trí, Viện trưởng Viện Huyết học - Truyền máu trung ương, cho rằng với tính chất của bệnh điều trị kéo dài, thậm chí đến hết cuộc đời còn lại, nếu người bệnh không được quỹ BHYT hỗ trợ chi trả những loại thuốc đắt tiền thì ít người có cơ hội được chữa trị và kéo dài sự sống. Chẳng hạn thuốc Glivec, nếu không có BHYT chi trả, trung bình người bệnh phải trả 45-50 triệu đồng/tháng.
http://nld.com.vn/suc-khoe/them-quyen-loi-cho-benh-nhan-ung-thu-20141005222958112.htm
Bệnh nhân Ebola ở Mỹ chuyển bệnh “nguy kịch”
Thomas Eric Duncan, bệnh nhân Ebola đầu tiên được chẩn đoán ở Hoa Kỳ, hiện đang trong tình trạng nguy kịch.
Tin này được phát ngôn viên của Bệnh viện Presbyterian ở Texas công bố ngày 4/10, nhưng không đưa thông tin chi tiết về tình trạng sức khỏe của ông Duncan. Trước đó, Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa dịch bệnh Hoa Kỳ (CDC) cho biết bệnh nhân Duncan đang trong phòng chăm sóc đặc biệt.
Cùng ngày, các quan chức y tế Mỹ cũng cho biết 9 người "nguy cơ cao" do tiếp xúc gần với ông Duncan, bao gồm các thành viên gia đình và nhân viên y tế chăm sóc sức khỏe cho ông, không có các triệu chứng bệnh. Họ nằm trong số gần 50 người được gián sát y tế hàng ngày, nhưng 40 khác được coi là "nguy cơ thấp", tiến sĩ David Lakey, ủy viên y tế bang Texas cho biết. Ông Lakey nói những người bị giám sát mỗi ngày được nhân viên y tế kiểm tra nhiệt độ hai lần một ngày, nhưng không ai có triệu chứng Ebola.
Trong danh sách có “nguy cơ cao” bao gồm Louise, bạn gái của Duncan, cậu con trai 13 tuổi của cô và hai cháu trai khoảng 20 tuổi. Bốn người này sống tại căn hộ Duncan đã sống ở trước khi ông phải nhập viện. Ngày 3/10, họ đã được chuyển tới một nơi ở “bí mật” và được yêu cầu ở lại đó cho đến ngày 19/10, trong thời gian ủ bệnh kéo dài đến 21 ngày.
Trước đó, một phát ngôn viên Nhà thờ nhà thờ Baptist Wilshire ở Dallas cho biết cô Louise đã nói với họ kế hoạch kết hôn với Duncan khi ông này đến Mỹ.
http://phunuonline.com.vn/the-gioi/24h-qua/benh-nhan-ebola-o-my-chuyen-benh-nguy-kich-/a129411.html
http://laodong.com.vn/the-gioi/benh-nhan-ebola-dau-tien-o-my-dang-nguy-kich-253044.bld
Ghép gân xương người chết não cho người chấn thương nặng
Kỹ thuật đã được triển khai tại Bệnh viện Việt Đức (Hà Nội), hiện đã có 10 bệnh nhân được ghép và 8/10 người đứt ba dây chằng cùng lúc sau chấn thương.
Theo bác sỹ Trần Hoàng Tùng, Khoa Chấn thương chỉnh hình 2, Bệnh viện Việt Đức, trước đây chủ yếu sử dụng vật liệu tự thân (lấy từ chính cơ thể bệnh nhân) để ghép gân xương.
Các kỹ thuật thường làm như tái tạo dây chằng chéo trước bằng gân cơ thon, gân cơ bán gân, ghép xương cánh chậu, xương mác cho những trường hợp bị khuyết thân xương dài.
Tuy nhiên, đối với những trường hợp tổn thương nặng như: đứt nhiều dây chằng, khuyết hổng xương quá lớn hoặc tổn thương lặp lại nhiều lần thì vật liệu tự thân không đủ bù vào vị trí tổn thương, không phục hồi hoàn toàn sau chấn thương.
Từ 2013 đến nay, Bệnh viện Việt Đức đã triển khai ghép gân xương từ người cho chết não cho các trường hợp chấn thương đứt nhiều dây chằng cùng lúc.
Ưu điểm của phương pháp là không phải hy sinh xương tự thân, tránh được phiền toái và vấn đề thẩm mỹ sau mổ do đường mổ nhỏ, thời gian mổ được rút ngắn, tập phục hồi chức năng sau mổ thuận lợi hơn.
Tại hội nghị khoa học thường niên Viện Chấn thương chỉnh hình (Bệnh viện Việt Đức) vừa diễn ra tại Hà Nội, nhóm của bác sỹ Tùng đã giới thiệu hai bệnh nhân bị u tế bào khổng lồ lồi cầu xương đùi và đứt 4 dây chằng gối sau chấn thương đã được ghép bằng xương xốp và gân đồng loại từ người hiến chết não.
Sau bốn tháng phẫu thuật, bệnh nhân đều đã đi lại được bình thường. Trong khi đó nếu dùng phương pháp cũ sử dụng xương mác có nhược điểm là xương cứng, khó liền (đối với bệnh nhân u tế bào khổng lồ), không đủ gân tự thân để ghép (với bệnh nhân bị đứt bốn dây chằng gối).
Bác sỹ Tùng cho biết phương pháp này còn có thể sử dụng để ghép cho bệnh nhân bị khuyết xương lớn sau mổ u lành tính, mất đoạn xương đùi hoặc tổn thương đa dây chằng sau chấn thương.
Fanpage
Youtube


















