Điểm báo từ ngày 17 đến ngày 23 tháng 12 năm 2019
23/12/2019
0
Điểm báo từ ngày 17 đến ngày 23 tháng 12 năm 2019
Bộ Y tế khuyến cáo các biện pháp phòng, chống bệnh cúm mùa
Ngày 19-12, Cục Y tế dự phòng (Bộ Y tế) cho biết, trong 11 tháng, cả nước có 408.907 trường hợp mắc cúm, chưa ghi nhận chủng vi-rút cúm mới.
Các chủng vi-rút cúm được ghi nhận chủ yếu là vi-rút cúm A(H1N1) và vi-rút cúm B. Hiện nay, thời tiết đang là mùa đông, nhất là đối với miền bắc, khí hậu lạnh ẩm, nhiệt độ thay đổi thất thường, ô nhiễm môi trường tăng cao nhu cầu đi lại nhiều, tạo điều kiện thuận lợi cho vi-rút cúm phát triển và lan truyền. Dự báo thời gian tới, số người mắc bệnh cúm có thể gia tăng, nhất là trong dịp Tết Nguyên đán, lễ hội đông người.
Bộ Y tế khuyến cáo người dân cần thực hiện tốt các biện pháp: Bảo đảm vệ sinh cá nhân, che miệng khi hắt hơi, rửa tay với xà-phòng, nước sạch; vệ sinh mũi, họng hằng ngày bằng nước muối; giữ ấm cơ thể, ăn uống đủ chất dinh dưỡng. Tiêm vắc-xin cúm mùa để tăng cường miễn dịch. Hạn chế tiếp xúc với người bệnh cúm hoặc các trường hợp nghi ngờ mắc bệnh. Sử dụng khẩu trang y tế khi cần thiết. Người dân không nên tự ý mua thuốc và sử dụng thuốc kháng vi-rút, cần có chỉ định của thầy thuốc. Khi có triệu chứng ho, sốt, sổ mũi, đau đầu, mệt mỏi cần đến ngay cơ sở y tế để được khám, xử lý kịp thời.
* Cùng ngày, trước nguy cơ thiếu thuốc điều trị bệnh cúm (thuốc có chứa hoạt chất oseltamivir), Cục Quản lý Dược (Bộ Y tế) có công văn khẩn đề nghị sở y tế các tỉnh, thành phố chỉ đạo các cơ sở khám, chữa bệnh liên hệ các cơ sở kinh doanh, nhập khẩu thuốc để mua sắm, bảo đảm đủ thuốc điều trị; tăng cường kiểm tra, giám sát, xử lý nghiêm các trường hợp găm hàng, tăng giá thuốc. Các cơ sở nhập khẩu thuốc cần chủ động liên hệ với các cơ sở cung cấp thuốc có giấy đăng ký lưu hành tại Việt Nam để cung ứng đủ thuốc. Trường hợp liên hệ được nguồn cung thuốc chưa có giấy đăng ký lưu hành tại Việt Nam, cần khẩn trương lập hồ sơ đề nghị cấp phép nhập khẩu. Các đơn vị sản xuất đẩy mạnh nghiên cứu, sản xuất thuốc chứa oseltamivir nhằm chủ động trong cung ứng thuốc và an ninh y tế. (Nhân dân, trang 8).
http://t5g.org.vn/diem-bao-ngay-20122019
Thủ tướng: Quyết liệt các biện pháp chống dịch bệnh mùa đông xuân
Trước diễn biến của tình hình bệnh, Thủ tướng Chính phủ vừa có ý kiến chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương quyết liệt triển khai các biện pháp phòng, chống dịch bệnh mùa đông xuân năm 2019-2020.
Theo đó, tại báo cáo của Bộ Y tế về tình hình bệnh sốt xuất huyết trên toàn quốc 11 tháng năm 2019 và các hoạt động phòng, chống dịch đã triển khai, thực hiện, để chủ động phòng, chống các loại dịch bệnh, nhất là dịch bệnh sốt xuất huyết, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các Bộ, ngành, địa phương tiếp tục thực hiện nghiêm chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Công điện số 1106/CĐ-TTg ngày 27/7/2017 về việc tăng cường công tác phòng, chống sốt xuất huyết.
Thủ tướng Chính phủ cũng yêu cầu UBND các tỉnh chỉ đạo triển khai quyết liệt các biện pháp phòng, chống dịch bệnh mùa đông xuân năm 2019 - 2020, nhất là chiến dịch diệt muỗi, diệt lăng quăng (bọ gậy) trên địa bàn, đặc biệt tại các công trường xây dựng, nhà trọ. Chỉ đạo giám sát chặt chẽ tình hình dịch bệnh, phát hiện sớm, xử lý triệt để ổ dịch ngay khi phát hiện, tổ chức cấp cứu điều trị người bệnh kịp thời.
Bộ Y tế chỉ đạo, hướng dẫn và kiểm tra các địa phương về giám sát, phát hiện, xử lý ổ dịch, các biện pháp dự phòng và điều trị dịch bệnh mùa đông xuân, nhất là đối với dịch bệnh sốt xuất huyết; bảo đảm đủ phương tiện, vật tư, trang thiết bị, điều trị kịp thời, hạn chế thấp nhất trường hợp tử vong.
Bộ Thông tin và Truyền thông, Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam phối hợp chặt chẽ với Bộ Y tế tuyên truyền, cung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời về tình hình, các biện pháp phòng, chống để người dân chủ động, tích cực việc phòng, chống các loại dịch bệnh mùa đông xuân.
Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Tài chính bố trí đủ kinh phí phục vụ công tác phòng chống dịch bệnh mùa đông xuân, nhất là dịch bệnh sốt xuất huyết. (Sức khỏe & Đời sống, trang 2).
http://t5g.org.vn/diem-bao-ngay-20122019
Chưa ghi nhận chủng virus cúm mới và đột biến gene
Theo Bộ Y tế, tại Việt Nam chưa ghi nhận chủng virus cúm mới cũng như chưa có sự đột biến gene làm tăng độc tính hay gây kháng thuốc ở các chủng virus cúm lưu hành trên người. Các chủng virus cúm được ghi nhận chủ yếu là virus cúm A/H1N1 và virus cúm B.
Các chủng virus cúm được ghi nhận chủ yếu là virus cúm A/H1N1 và virus cúm B
Bệnh cúm mùa là bệnh truyền nhiễm cấp tính với biểu hiện sốt, đau đầu, đau cơ, mệt mỏi, sổ mũi, đau họng và ho. Tác nhân gây bệnh chủ yếu do các chủng virus cúm A/H3N2, cúm A/H1N1, cúm B và cúm C. Bệnh có khả năng lây nhiễm rất cao, lây nhanh qua đường hô hấp thông qua các giọt nhỏ nước bọt hay dịch tiết mũi họng do hắt hơi, ho khạc. Theo Trung tâm Phòng ngừa dịch bệnh Hoa Kỳ (CDC), từ năm 2010 trở lại đây, mỗi năm trên thế giới có khoảng 9 - 45 triệu trường hợp mắc cúm với khoảng trên 61.000 trường hợp tử vong do biến chứng viêm phổi do cúm.
Theo Bộ Y tế, tại Việt Nam chưa ghi nhận chủng virus cúm mới cũng như chưa có sự đột biến gene làm tăng độc tính hay gây kháng thuốc ở các chủng virus cúm lưu hành trên người. Các chủng virus cúm được ghi nhận chủ yếu là virus cúm A/H1N1 và virus cúm B.
Trong năm 2019, số ca mắc cúm và tử vong do cúm trong cả nước thấp hơn so với năm 2018, cụ thể như sau 11 tháng năm 2019 ghi nhận 408.907 trường hợp mắc cúm, 10 trường hợp tử vong (giảm 10,4% số mắc và giảm 2 trường hợp tử vong so với cùng kỳ 11 tháng năm 2018). Tại các bệnh viện tuyến cuối, đặc biệt là tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh có gia tăng số trường hợp cúm nhập viện do người dân các tỉnh đến trực tiếp khám bệnh mà không qua các bệnh viện tuyến trước mặc dù mắc bệnh ở mức độ nhẹ.
Các chuyên gia y tế cảnh báo, hiện nay, thời tiết đang là mùa đông, nhất là đối với miền Bắc, khí hậu lạnh ẩm, nhiệt độ thay đổi thất thường tạo điều kiện thuận lợi cho virus cúm dễ dàng phát triển và lan truyền. Bên cạnh đó, cùng với ô nhiễm môi trường, điều kiện đi lại, giao thương ngày càng gia tăng giữa các khu vực, vùng miền và trên thế giới cũng làm tăng nguy cơ mắc bệnh cúm. Dự báo trong thời gian tới, số mắc bệnh cúm có thể gia tăng trên toàn quốc, nhất là trong mùa đông - xuân và dịp Tết Nguyên đán, lễ hội tập trung đông người. Bệnh cúm thông thường diễn biến nhẹ và hồi phục trong vòng 2-7 ngày, nhưng đối với trẻ em, người già có sức đề kháng kém, đặc biệt là người có bệnh mạn tính về tim phổi, thận, bệnh chuyển hóa, thiếu máu hoặc suy giảm miễn dịch..., bệnh cúm có thể diễn biến nặng hơn, dễ bị biến chứng và có thể dẫn đến tử vong nếu không phát hiện và điều trị kịp thời.
Đảm bảo cung ứng thuốc điều trị bệnh cúm
Trước thông tin về nguy cơ thiếu thuốc điều trị cúm (thuốc chứa hoạt chất oseltamivir) do thiếu nguồn cung ứng, ngày 19/12, Cục Quản lý Dược (Bộ Y tế) đã có công văn gửi Sở Y tế các tỉnh, thành phố; các bệnh viện, viện có giường bệnh trực thuộc Bộ; các đơn vị sản xuất, nhập khẩu thuốc yêu cầu chủ động đảm bảo cung ứng thuốc điều trị bệnh cúm.
Theo đó, Cục Quản lý Dược đề nghị Sở Y tế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo các cơ sở khám, chữa bệnh trên địa bàn liên hệ với các cơ sở kinh doanh, nhập khẩu thuốc để chủ động lập dự trù, thực hiện việc mua sắm, đảm bảo đủ thuốc đáp ứng nhu cầu điều trị bệnh; tăng cường kiểm tra, giám sát và xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật các trường hợp lợi dụng trữ hàng, tăng giá thuốc.
Các cơ sở nhập khẩu thuốc chủ động liên hệ với các cơ sở cung cấp thuốc chứa oseltamivir có giấy đăng ký lưu hành tại Việt Nam để phục vụ nhu cầu khám chữa bệnh, cung ứng đủ thuốc ngay khi nhận được đặt hàng của các cơ sở khám, chữa bệnh. Trường hợp cơ sở nhập khẩu liên hệ được nguồn cung thuốc chứa oseltamivir chưa có giấy đăng ký lưu hành tại Việt Nam nhưng có thể đáp ứng kịp thời nhu cầu của các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, cơ sở nhập khẩu khẩn trương lập hồ sơ đề nghị cấp phép nhập khẩu thuốc chưa có giấy đăng ký lưu hành thuốc tại Việt Nam. Cục Quản lý Dược sẽ xem xét, giải quyết theo quy trình thẩm định nhanh để đảm bảo đủ thuốc đáp ứng nhu cầu cấp bách phòng, chống dịch bệnh theo quy định.
Cục Quản lý Dược cũng đề nghị các bệnh viện, viện có giường bệnh trực thuộc Bộ chủ động liên hệ với các cơ sở kinh doanh, nhập khẩu thuốc để chủ động lập dự trù, thực hiện việc mua sắm, đảm bảo đủ thuốc đáp ứng nhu cầu điều trị bệnh. Các đơn vị sản xuất đẩy mạnh nghiên cứu, sản xuất thuốc chứa oseltamivir nhằm tăng cường tính chủ động trong cung ứng thuốc và an ninh y tế. (Sức khỏe & Đời sống, trang 2).
http://t5g.org.vn/diem-bao-ngay-20122019
VN đạt nhiều thành tiến bộ trong nỗ lực chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em
Ngày 19/12, tại Hà Nội đã diễn ra Hội thảo công bố kết quả Tổng điều tra Dân số và Nhà ở 2019 và Triển lãm ảnh "Những câu chuyện cuộc đời". Phó Thủ tướng Chỉnh Phủ Vương Đình Huệ chủ trì hội nghị.
Theo Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng, thông tin thu thập được từ Tổng điều tra dân số và nhà ở là bằng chứng tin cậy, căn cứ quan trọng và hữu ích phục vụ hoạch định các chính sách phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Kết quả số liệu chính thức công bố ngày hôm nay sẽ tiếp tục cung cấp bổ sung các thông tin về tình hình dân số, nhân khẩu học, chất lượng dân số và các điều kiện ở của nhân dân một cách đầy đủ và chi tiết hơn.
Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê Nguyễn Bích Lâm cho biết, Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019 ứng dụng công nghệ thông tin trong tất cả các công đoạn của Tổng điều tra giúp nâng cao chất lượng thông tin, minh bạch quá trình sản xuất thông tin thống kê, rút ngắn thời gian xử lý để công bố sớm kết quả Tổng điều tra và tiết kiệm kinh phí so với các cuộc điều tra và Tổng điều tra theo phương pháp điều tra truyền thống.
Kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019 cho thấy, tổng số dân của Việt Nam là 96.208.984 người, trong đó, dân số nam là 47.881.061 người, chiếm 49,8% và dân số nữ là 48.327.923 người, chiếm 50,2%. Việt Nam là quốc gia đông dân thứ ba trong khu vực Đông Nam Á (sau Indonesia và Philippines) và thứ 15 trên thế giới.
Tổng số hộ dân cư trên cả nước là 26.870.079 hộ dân cư, tăng 4,4 triệu hộ so với cùng thời điểm năm 2009. Bình quân mỗi hộ có 3,6 người/hộ, thấp hơn 0,2 người/hộ so với năm 2009.
Mật độ dân số của Việt Nam là 290 người/km2, tăng 31 người/km2 so với năm 2009. Việt Nam là quốc gia có mật độ dân số đứng thứ 3 trong khu vực Đông Nam Á, sau Philippines (363 người/km2) và Singapore (8.292 người/km2).
Đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ là hai vùng có mật độ dân số cao nhất toàn quốc, tương ứng là 1.060 người/km2 và 757 người/km2. Trung du và miền núi phía Bắc và Tây Nguyên là hai vùng có mật độ dân số thấp nhất, tương ứng là 132 người/km2 và 107 người/km2.(Sức khỏe & Đời sống, trang 2).
Việt Nam mong muốn WHO hỗ trợ cải cách hệ thống y tế
Chiều 17-12, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam đã tiếp ông Takeshi Kasai, Giám đốc Tổ chức Y tế thế giới (WHO) khu vực Tây Thái Bình Dương.
Cảm ơn Phó Thủ tướng dành thời gian tiếp, ông Takeshi Kasai đã thông báo một số nội dung Báo cáo của WHO về cải cách hệ thống y tế theo hướng mở rộng tiếp cận dịch vụ y tế có chất lượng với chi phí phải chăng cho mọi người dân Việt Nam. Báo cáo này đề xuất với Chính phủ Việt Nam về việc hoạch định và cải cách chính sách trong trung và dài hạn một số lĩnh vực ưu tiên, hướng tới đạt được mục tiêu bao phủ chăm sóc sức khỏe toàn dân.
Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam đánh giá cao những hỗ trợ của WHO dành cho Việt Nam trong hơn 40 năm qua trên hầu khắp các lĩnh vực y tế như: Phòng chống dịch bệnh, phòng chống các bệnh lây nhiễm và không lây nhiễm, tiêm chủng mở rộng, phát triển hệ thống y tế, đào tạo nguồn nhân lực, tư vấn xây dựng chính sách y tế, đổi mới tài chính y tế, điều phối viện trợ, bảo hiểm y tế, các Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ, lao, sốt rét, HIV...
Trong thời gian tới, Việt Nam sẵn sàng tiếp tục hợp tác với WHO trong nhiều lĩnh vực kỹ thuật, chuyên môn của y tế, góp phần thực hiện thành công mục tiêu xây dựng hệ thống y tế Việt Nam từng bước hiện đại và hoàn chỉnh, hướng tới công bằng, hiệu quả và phát triển, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng và đa dạng của nhân dân về bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe, giảm tỷ lệ mắc bệnh tật và tử vong, tăng tuổi thọ, cải thiện chất lượng cuộc sống, đạt và vượt các chi tiêu đặt ra trong Chiến lược chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân giai đoạn 2020 - 2030.
Trong đó, ngành y tế Việt Nam mong muốn WHO hỗ trợ tăng cường hệ thống y tế bao gồm chăm sóc sức khỏe ban đầu hướng tới bao phủ chăm sóc sức khỏe toàn dân; Phòng chống các bệnh truyền nhiễm, không lây nhiễm; Nâng cao sức khỏe thông qua cải thiện lối sống; Đẩy mạnh công tác chuẩn bị giám sát và ứng phó với các vấn đề y tế cộng cộng; Xây dựng/sửa đổi luật liên quan đến lĩnh vực sức khỏe… (An ninh thủ đô, trang 2).
http://t5g.org.vn/diem-bao-ngay-18122019
Viện Dinh dưỡng Quốc gia: Bổ sung 21 vi chất vào sữa học đường hoàn toàn khách quan, khoa học
Trả lời phóng viên Báo An ninh Thủ đô, đại diện của Viện Dinh dưỡng Quốc gia khẳng định, việc cơ quan này có công văn đề nghị bổ sung 21 loại vi chất vào các sản phẩm sữa tươi sử dụng trong Chương trình Sữa học đường hoàn toàn dựa trên cơ sở khoa học…
Cơ sở của việc bổ sung đa vi chất vào sữa học đường?
Như Báo ANTĐ đã thông tin, ngày 5-12 vừa qua, Bộ Y tế ban hành Thông tư số 31/2019/TT-BYT quy định yêu cầu đối với các sản phẩm sữa tươi sử dụng trong Chương trình Sữa học đường. Nội dung được nhiều người quan tâm tại Thông tư này là quy định các sản phẩm sữa tươi sử dụng trong Chương trình Sữa học đường phải bổ sung đủ 21 loại vi chất.
Câu hỏi được nhiều người đặt ra là cơ sở pháp lý, cơ sở khoa học và tính khách quan của việc quyết định bổ sung 21 vi chất vào các sản phẩm sữa tươi sử dụng trong Chương trình Sữa học đường ra sao?
Về việc ban hành Thông tư nói trên, Bộ Y tế nêu rõ, trong quá trình xây dựng Thông tư, Viện Dinh dưỡng Quốc gia đã nghiên cứu và có văn bản đề nghị bổ sung 21 loại vi chất với hàm lượng cụ thể của từng loại vào sản phẩm sữa tươi sử dụng trong Chương trình Sữa học đường.
Chúng tôi đã liên hệ với Viện Dinh dưỡng Quốc gia để tìm hiểu xem việc đề nghị bổ sung 21 loại vi chất với hàm lượng cụ thể của từng loại vào sản phẩm sữa tươi sử dụng trong Chương trình Sữa học đường được Viện này căn cứ trên cơ sở nghiên cứu như thế nào?
Đại diện Viện Dinh dưỡng Quốc gia, ThS.BS Trần Khánh Vân, Phó trưởng khoa Vi chất dinh dưỡng cho biết, nghiên cứu tại Việt Nam và trên thế giới cho thấy tình trạng thiếu vi chất dinh dưỡng đã ảnh hưởng tới suy dinh dưỡng thấp còi ở trẻ em.
Cụ thể, theo tạp chí Y khoa hàng đầu Lancet thì bản đồ thiếu vi chất dinh dưỡng bao phủ toàn bộ các nước đang phát triển của các châu lục, gây ảnh hưởng nặng nề đến phát triển thể chất và trí tuệ trẻ em.
Việc đầu tư tăng cường vi chất dinh dưỡng vào các thực phẩm (đặc biệt cho bà mẹ và trẻ em) đã được hội nghị Thượng Đỉnh Copenhagen "Đầu tư cho Thế kỷ XXI" năm 2009 xếp loại đứng thứ 3 trong số 10 đầu tư có hiệu quả kinh tế nhất của Thế kỷ XXI. Việt Nam cũng đã có nghiên cứu chi phí - hiệu quả tăng cường vi chất dinh dưỡng của tác giả Đỗ Anh Kiếm -Tổng cục Thống kê - 2007.
Bà Trần Khánh Vân nhấn mạnh, có khoảng 40 vi chất dinh dưỡng cơ thể không tự tổng hợp được, trong đó có 21 vi chất được lựa chọn thì trẻ em nước ta cũng như trẻ em các nước Đông Nam Á đều có tỷ lệ thiếu ở mức cao. Các vi chất này ảnh hưởng đến quá trình phát triển cơ thể thông qua vai trò tham gia các phản ứng trong cơ thể.
Trong các loại thực phẩm đều có chứa các vi chất dinh dưỡng này và càng ngày hàm lượng chúng trong thực phẩm càng ít dần đi (do canh tác, do đất đai bạc màu, do sản xuất nông nghiệp đại trà, rút ngắn thời vụ…), vì vậy bản chất các vi chất dinh dưỡng vẫn là thức ăn, chỉ khi dùng với liều cao mới được coi là thuốc điều trị.
“Toàn bộ các vi chất dinh dưỡng đều được sử dụng trên cơ sở Hướng dẫn của Tổ chức Y tế thế giới và Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp năm 2006, đồng thời dựa trên Bảng Nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị cho người Việt Nam năm 2016” – bác sĩ Vân khẳng định.
Tại sao lại phải bổ sung 21 chứ không phải 3 hay 18 vi chất?
Trên thực tế, trong suốt quá trình Bộ Y tế xây dựng Thông tư liên quan đến các sản phẩm sữa học đường, đã có nhiều ý kiến tranh luận trái chiều về việc bổ sung 3 vi chất, 18 vi chất hay 21 vi chất dinh dưỡng. Cuối cùng, Bộ Y tế quyết định bổ sung 21 vi chất.
Trả lời về vấn đề này, ThS.BS Trần Khánh Vân cho biết, chế độ ăn hàng ngày không thể cung cấp đủ số và lượng các vi chất dinh dưỡng đáp ứng được nhu cầu của cơ thể, trừ sữa mẹ là hoàn hảo đáp ứng cho trẻ em dưới 6 tháng tuổi.
Các nghiên cứu can thiệp được Tổ chức Y tế Thế giới tiến hành tại Brazil, Mexico, Guatemala của các tác giả Ramakrishnan và Roemer… đã cho thấy việc bổ sung một vài vi chất đơn lẻ không có ý nghĩa đối với sự phát triển chiều cao của trẻ em. Bổ sung đa vi chất có hiệu quả thực sự rõ rệt hơn đối với sự phát triển chiều cao của trẻ em. Một số nghiên cứu tại Việt Nam cũng cho kết quả tương tự.
“Tạp chí Lancet năm 2008 (số S0140-6736) đã khuyến cáo một cách mạnh mẽ cách Quốc gia phòng chống suy dinh dưỡng thấp còi sử dụng các giải pháp tổng hợp bao gồm chăm sóc 1.000 ngày vàng, trọng tâm là sữa mẹ, tăng cường đa vi chất dinh dưỡng vào thực phẩm (như Viện Dinh dưỡng đề nghị), tẩy giun và các vấn đề môi trường” – đại diện Viện Dinh dưỡng Quốc gia nêu.
Cũng qua nghiên cứu, hầu hết chất khoáng và vitamin này có trong sữa nhưng hàm lượng dao động theo mùa và theo loại thức ăn bò ăn vào. Do vậy, việc đưa khuyến nghị tăng cường 21 vi chất vào sữa học đường là nhằm đảm bảo hàm lượng các vi chất dinh dưỡng ổn định đạt được mức đảm bảo giá trị dinh dưỡng cho bữa ăn của trẻ em đang trong giai đoạn tăng trưởng và phát triển. (An ninh Thủ đô, trang 7).
http://t5g.org.vn/diem-bao-ngay-19122019
Đề xuất tăng mức đóng bảo hiểm y tế
Ngày 18-12, Bộ Y tế tổ chức Hội nghị Tổng kết 5 năm thực hiện Luật Bảo hiểm y tế và xin ý kiến dự thảo Luật Bảo hiểm y tế (sửa đổi).
Phát biểu tại hội nghị, Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Trường Sơn cho biết, sau 5 năm triển khai thực hiện Luật BHYT, số người tham gia BHYT ngày càng gia tăng, hiện tỷ lệ bao phủ đã đạt 90% dân số.
Tại hội nghị, nhiều chuyên gia góp ý, Luật Bảo hiểm y tế (BHYT) vẫn còn một số tồn tại, bất cập trong quy định và trong tổ chức thực hiện Luật. Các văn bản hướng dẫn còn thiếu cụ thể, thiếu đồng bộ với các văn bản quy phạm pháp luật khác, gây ra những khó khăn, vướng mắc trong công tác quản lý nhà nước cũng như tổ chức thực thi pháp luật và đề xuất tăng mức đóng BHYT lên, giảm mức hỗ trợ đối với các thành viên tham gia BHYT theo hộ gia đình.
Tính riêng từ năm 2015 đến năm 2019, toàn quốc tăng khoảng 15 triệu người tham gia BHYT. Chất lượng khám chữa bệnh BHYT ngày càng được cải thiện, nhiều loại thuốc mới, kỹ thuật, dịch vụ y tế hiện đại khi đưa vào Việt Nam đều nhanh chóng được Quỹ BHYT chi trả, tạo điều kiện cho người bệnh tiếp cận thuận lợi, đảm bảo nguyên tắc chia sẻ rủi ro giữa những người tham gia.
Chính sách BHYT đã góp phần giảm chi trực tiếp từ tiền túi hộ gia đình cho dịch vụ y tế. Thống kê đến năm 2018, tỷ lệ này đã giảm xuống còn 37%, góp phần tạo nên sự công bằng trong chăm sóc sức khỏe, nhất là với nhóm người nghèo, cận nghèo và trẻ em dưới 6 tuổi…
Tuy nhiên, quá trình thực hiện Luật BHYT vẫn còn một số tồn tại, bất cập trong quy định và trong tổ chức thực hiện Luật. Các văn bản hướng dẫn còn thiếu cụ thể, thiếu đồng bộ với các văn bản quy phạm pháp luật khác, gây ra những khó khăn, vướng mắc trong công tác quản lý nhà nước cũng như tổ chức thực thi pháp luật. Công tác tổ chức thực hiện vẫn còn hạn chế do năng lực, cơ sở vật chất, đội ngũ nhân viên chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn phát sinh.
Bên cạnh đó, một số vấn đề trọng tâm trong chính sách BHYT cũng cần được nghiên cứu, đánh giá và có các giải pháp phù hợp với thực tiễn như: phát triển đối tượng tham gia BHYT; quyền lợi của người tham gia BHYT; tổ chức khám chữa bệnh BHYT; phương thức thanh toán chi phí khám chữa bệnh BHYT; công tác giám định; quản lý và sử dụng quỹ BHYT…
Theo ông Phan Văn Toàn, Phó Vụ trưởng Vụ Bảo hiểm y tế (Bộ Y tế ), một trong những điểm đáng chú ý tại dự thảo (lần 1) Luật BHYT sửa đổi này là mức đóng BHYT hàng tháng được đề nghị điều chỉnh tăng bằng 6% (hiện mức đóng là 4,5%), trong đó người sử dụng lao động đóng 2/3 và người lao động đóng 1/3.
Dự thảo luật cũng yêu cầu tất cả thành viên thuộc hộ gia đình phải tham gia cùng một thời điểm (thay vì có thể tham gia từng cá nhân như hiện nay). Tuy nhiên, mức đóng của thành viên thứ hai trong gia đình sẽ bằng 80% của người thứ nhất, thay vì mức 70% như hiện nay. Như vậy, cùng với các đợt tăng lương cơ sở đều đặn, mức đóng bảo BHYT trong thời gian tới sẽ tiếp tục tăng.
Hiện tại, lương cơ sở đang là 1.490.000 đồng, với mức đóng 4,5%, tương đương mức đóng BHYT là 804.000 đồng/năm, nếu tăng lên 6%, mức đóng sẽ lên gần 1.100.000 đồng. (Sài Gòn giải phóng, trang 9)
http://t5g.org.vn/diem-bao-ngay-19122019
Rút kinh nghiệm sâu sắc vụ việc liên quan thuốc gây tê ở Ðà Nẵng
Theo Kết luận số 3808/TB-SYT của Hội đồng chuyên môn (Sở Y tế TP. Đà Nẵng) đánh giá sự cố y khoa tại Bệnh viện Phụ nữ TP. Đà Nẵng làm 2 sản phụ tử vong, 1 người nguy kịch, Sở Y tế TP. Đà Nẵng đề nghị Bệnh viện Phụ nữ TP. Đà Nẵng cần rút kinh nghiệm sâu sắc về các tai biến y khoa. Tập trung chú trọng ở khâu tiên lượng bệnh, triển khai báo cáo ngay các sự cố y khoa nghiêm trọng theo quy định.
Theo đó, sau khi nghe Bệnh viện Phụ nữ báo cáo, cùng với nghiên cứu hồ sơ, thu thập thông tin dữ liệu liên quan và các ý kiến thảo luận của các thành viên, Hội đồng chuyên môn kết luận, cả 3 ca bệnh đều là sự cố y khoa nghiêm trọng, liên quan đến thuốc gây tê Bupivacaine. Về nguyên nhân sự số, ca thứ nhất (sản phụ L.H.P.T.) tử vong ngày 22/10 nghĩ nhiều đến sốc phản vệ hoặc ngộ độc thuốc tê Bupivacaine. Ca thứ 2 (sản phụ V.T.N.S.) tử vong ngày 17/11 nghĩ nhiều đến do ngộ độc thuốc tê. Ca thứ 3 (N.T.H.) chẩn đoán xác định ngộ độc thuốc tê, được cấp cứu kịp thời và xuất viện ngày 29/11. Kết luận của Sở Y tế Đà Nẵng cũng cho biết, các thành viên liên quan tham gia điều trị 3 ca này đều đã có chứng chỉ hành nghề và phạm vi hoạt động chuyên môn phù hợp. Tính đến thời điểm xảy ra sự cố, Sở Y tế Đà Nẵng chưa nhận được văn bản nào liên quan đến lô thuốc gây tê đã sử dụng cho ca bệnh nêu trên từ Cục Quản lý Dược (Bộ Y tế), các cơ quan quản lý chuyên môn có liên quan và nhà cung ứng thuốc. Bên cạnh đó, kết quả kiểm nghiệm thuốc ngày 9/12/2019 của Viện Kiểm nghiệm thuốc TW về mẫu thuốc Bupivacaine (49Gt 115 và 49Gt 116) đạt yêu cầu chất lượng theo tiêu chuẩn cơ sở.
Về xác định có hay không sai sót chuyên môn của Bệnh viện Phụ nữ, Hội đồng chuyên môn kết luận, quy trình tổ chức đón tiếp, theo dõi, chăm sóc bệnh nhân là thực hiện đúng quy định. Các chẩn đoán bệnh chính và bệnh kèm, biến chứng là phù hợp. Tuy nhiên, đối với trường hợp sản phụ L.H.P.T., hồ sơ bệnh án không thể hiện rõ diễn biến lâm sàng cũng như y lệnh cụ thể trong quá trình cấp cứu người bệnh. Bệnh viện Phụ nữ cũng chưa tổ chức hội đồng chuyên môn phân tích tìm nguyên nhân của ca bệnh và không báo cáo ngay phản ứng thuốc trên hệ thống khi xảy ra sự cố.
Đối với sản phụ V.T.N.S., Bệnh viện Phụ nữ chưa tiên lượng tốt ca bệnh này sẽ diễn tiến theo chiều hướng nặng hơn nên việc cấp cứu và theo dõi sau mổ tại bệnh viện quá lâu trước khi chuyển bệnh nhân lên tuyến trên kịp thời. Sở Y tế đề nghị Bệnh viện Phụ nữ cần rút kinh nghiệm sâu sắc về các ca bệnh đã xảy ra sự cố y khoa này, tập trung chú trọng khâu tiên lượng bệnh và triển khai báo cáo ngay các sự cố y khoa theo đúng quy định của Bộ Y tế. (Sức khỏe & Đời sống, trang 6).
http://t5g.org.vn/diem-bao-ngay-20122019
Chuyên gia mách mẹ nguyên tắc 4Đ để tránh kháng kháng sinh
Suckhoedoisong.vn - Kháng sinh là thuốc phổ biến hiện nay, trong điều trị bệnh không thể thiếu kháng sinh, tuy nhiên việc sử dụng kháng sinh bừa bãi không theo một nguyên tắc, một hướng dẫn hay chỉ định nào của bác sĩ lại là mối hiểm họa đã và đang được báo trước vì tình trạng đề kháng kháng sinh. Vậy, làm thế nào để dùng kháng sinh, an toàn hiệu quả?.
Theo PGS.TS Nguyễn Hoàng Anh, Giám đốc Trung tâm Quốc gia về thông tin thuốc và theo dõi phản ứng có hại của thuốc, Đại học Dược Hà Nội có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng kháng kháng sinh đang rất lo ngại hiện nay, tuy nhiên có thể tổng kết ở những nguyên nhân chính đó là, dùng quá nhiều kháng sinh kể cả cho những trường hợp không cần thiết. Tỷ trọng dùng kháng sinh ở Việt Nam là tương đối lớn. Theo thống kê tỷ lệ dùng thuốc kháng sinh ở các bệnh viện ở nước ta cao hơn khoảng gấp 3 lần thậm chí cao gấp 10 lần so với bệnh viện cùng cấp, cùng số lượng giường bệnh so với các nước đang phát triển.
Nguyên nhân thứ 2 là đã dùng nhiều kháng sinh và dùng không hợp lý. Điều này có cả ở cộng đồng và ngoài cộng đồng cùng với sự không hợp lý của cán bộ y tế từ liều dùng, sự phối hợp kháng sinh, thời gian dùng… Khi sử dụng không hợp lý dẫn đến sự kháng kháng sinh xảy ra ngày càng nhiều.
PGS. Hoàng Anh cũng cho biết thêm, điểm tồn tại lớn nhất lớn nhất trong sử dụng kháng sinh hiện nay là sử dụng trong trường hợp chưa có biểu hiện của nhiễm khuẩn. Chúng ta lẫn lộn giữa nhiễm vi rút và nhiễm vi khuẩn, vì thế chúng ta mắc sai lầm là chúng ta điều trị bao vây hơn là điều trị theo đúng mục tiêu.
Thứ ba nữa là đã dùng rồi, nếu phải dùng điều trị quyết liệt có nhiễm khuẩn thực sự thì chúng ta lại e ngại liều dùng về mặt tác dụng phụ tức là e ngại con có uống nhiều kháng sinh quá hay không ,nên liều chúng ta tự gia giảm. Ví dụ bác sĩ cho uống 3 lần/ngày chúng ta chỉ cho uống 2 lần sáng tối và bỏ luôn liều ở giữa, khi các cháu đỡ một chút chúng ta lại tự cắt kháng sinh sớm. Vì thế, tồn tại hiện này là chúng ta có dùng kháng sinh nhưng tại sao hiệu quả lại không được như mình mong muốn và tình trạng vi khuẩn kháng thuốc ngày càng cao “đơn giản vì chúng ta đã tôi luyện vi khuẩn trong một môi trường không đúng cách chúng ta dùng nó không đúng cách”. PGS Hoàng Anh nói.
Theo đó, PGS. Hoàng Anh đưa ra 4 nguyên tắc lựa chọn sử dụng kháng sinh với 4Đ . Nguyên tắc này được thế giới áp dụng và cả áp dụng cho Việt Nam.
Thứ 1, Đúng đầu tiên là đúng thuốc: Chúng ta trả lời câu hỏi, tình trạng bệnh này với biểu hiện như thế cháu có dùng kháng sinh không, nếu dùng thì dùng cái gì có cần phối hợp các kháng sinh hay không, lựa chọn cái nào bây giờ vì có nhiều kháng sinh có thể lựa chọn được. Nhưng chọn đúng không đơn giản, chọn đúng phải dựa trên kháng sinh đánh đúng vào vi khuẩn gây bệnh mình muốn hướng tới và nó xâm nhập vào vị trí nhiễm trùng.
Thứ 2: Đúng liều, rất quan trọng vì nếu kháng sinh chọn đúng nhưng không đủ liều dùng nó không có ý nghĩa với vi khuẩn, không tiêu diệt được vi khuẩn ngược lại tôi luyện cho vi khuẩn được sống trong môi trường kháng sinh nó lại tích lũy cho vi khuẩn những gen đề kháng kháng sinh
Thứ 3: Đủ thời gian cũng rât quan trọng, đủ thời gian là đủ một liệu trình điều trị, ở cộng đồng rất khó thuyết phục bố mẹ thực hiện đầy đủ liều bác sĩ cho khi các triệu chứng của con mình đã đỡ, nếu chúng ta trị ngắn quá , quá dài đều gây hại, phải đủ thời gian quy định.
Thứ 4 chữ Đúng cuối cùng là theo dõi đúng cách, trong quá trình điều trị kháng sinh chúng ta bác sĩ phải đánh giá cẩn thận, bố mẹ cũng phải theo dõi cẩn thận để chúng ta quyết định xem chúng ta có cần chỉnh phác đồ, xem có tác dụng phụ gì hay không để điều chỉnh. Vì vậy, theo tôi nguyên tắc sử dụng kháng sinh hiện nay ghép vào 4 chữ Đúng.
H.Nguyên
Giúp người bệnh tim chống chọi với môi trường ô nhiễm
Suckhoedoisong.vn - Những phân tử ô nhiễm rất nhỏ đi vào trong không khí góp phần làm gia tăng các biến cố tim mạch đặc biệt ở những bệnh nhân có nguy cơ cao.
Ô nhiễm môi trường đang là một vấn đề toàn cầu. Ở những đô thị lớn tại châu Á, châu Phi và Mỹ La tinh ô nhiễm bụi đã tăng lên mức báo động trong nhiều năm gần đây do sự phát triển nhanh của công nghiệp cùng với các phương tiện giao thông. Chúng ta đang phải đối mặt với những nguy cơ ô nhiễm không khí, tiếng ồn và nguồn nước đã gây tác hại đáng kể lên sức khỏe người dân. Ô nhiễm cho thấy có thể làm tăng nhồi máu cơ tim, tai biến mạch não và rối loạn nhịp. Bài viết này sẽ đề cập đến ô nhiễm môi trường gây ảnh hưởng thế nào đến bệnh tim mạch và bạn sẽ phải làm gì để tự bảo vệ bản thân.
Ô nhiễm môi trường ảnh hưởng lên bệnh lý tim mạch
Những phân tử ô nhiễm rất nhỏ đi vào trong không khí góp phần làm gia tăng các biến cố tim mạch đặc biệt ở những bệnh nhân có nguy cơ cao. Những phân tử này được thấy có thành phần EPA như PM 2,5 đến từ khí thải của xe, của các nhà máy điện, các cơ sở công nghiệp, các vụ cháy. Tổn thương của tầng ozone trong nhiều năm qua gây ra những bệnh lý phổi và cũng có thể làm tăng nguy cơ nhồi máu cơ tim và tai biến mạch não.
Ở người bình thường, ô nhiễm môi trường chỉ góp phần rất nhỏ làm kích hoạt nhồi máu cơ tim, tai biến mạch não hoặc tần số tim không đều. Tuy nhiên, ở những bệnh nhân có nguy cơ cao bệnh lý tim mạch ô nhiễm rất dễ kích thích gây nên nhồi máu cơ tim, phải can thiệp tim mạch, đau ngực, rối loạn nhịp.
Một số nghiên cứu tại Hoa Kỳ cho thấy ô nhiễm môi trường làm tăng nguy cơ bệnh lý tim mạch . Tổ chức Y tế thế giới ước tính ô nhiễm môi trường là nguyên nhân gây tử vong đứng thứ 13. Mỗi năm có khoảng 80.0000 người tử vong do ô nhiễm môi trường gây ra. Trong những nước phát triển cao như tại Bắc Mỹ, ô nhiễm cũng đứng thứ 14 làm bùng phát bệnh lý tim mạch sau các nguyên nhân như hút thuốc, béo phì, tăng huyết áp, đái tháo đường, lạm dụng rượu, sử dụng ma túy, tăng cholesterol máu, thói quen ăn uống như ăn nhiều muối, ít rau và hoa quả, chế độ ăn nhiều thịt...
Các nghiên cứu cho thấy thời tiết quá nóng hoặc quá lạnh cũng làm tăng nguy cơ nhồi máu cơ tim hoặc đột tử do nhồi máu cơ tim. Biến đổi thời tiết và ô nhiễm môi trường cùng xuất hiện sẽ nguy hiểm cho những người có nguy cơ cao. Thời tiết quá nóng đặc biệt nguy hiểm cho những người có bệnh tim mạch, người già và những người đang phải sử dụng thuốc tim mạch.
Bảo vệ bản thân trước nguy cơ ô nhiễm
Giảm nguy cơ bao gồm lựa chọn một cuộc sống khỏe mạnh (như ngừng hút thuốc lá, điều trị tăng huyết áp và mỡ máu). Tránh những vùng, những nơi có nhiều ô nhiễm. Các phần tử ô nhiễm thỉnh thoảng chúng ta cũng có thể thấy được bằng mắt thường như dạng một hình ảnh mờ sương.
Tuy nhiên, ô nhiễm không phải lúc nào cũng dễ nhìn thấy, thậm chí ở mức độ nguy cơ cao. Về mặt nào đó, nguy cơ ô nhiễm cao sẽ ở những đường phố nhiều xe cộ đi lại, vào những giờ tan tầm, ở gần nhà máy hoặc gần những vụ cháy. Với những bệnh nhân có nguy cơ tim mạch cao nên tránh những vùng này.
Một số người đeo khẩu trang để bảo vệ đường hô hấp nhưng cách làm này không được chứng minh sẽ giúp bảo vệ được nguy cơ ô nhiễm. Các khẩu trang thông thường không thể ngăn cản được các mảnh PM 2,5 nhỏ. Tuy nhiên, ở chỗ đông người, nơi ô nhiễm cao hoặc đang gần đám cháy, việc dùng khẩu trang lúc này là cần thiết.
Người bệnh tim mạch có thể tránh đến các khu vực bị ô nhiễm không khí thông qua các bản tin dự báo thời tiết trên truyền hình hoặc đài báo. Tránh tập thể dục ở những đường phố đông đúc và ở thời điểm mà mức độ ô nhiễm cao. Có thể đóng cửa sổ khi ô nhiễm cao và dùng điều hòa. Nên có kế hoạch tham gia các hoạt động ngoài trời khi ô nhiễm không khí thấp như: đạp xe, đi bộ, tập thể dục thể thao... Dừng những hoạt động ngoài trời nếu bạn thấy mức ô nhiễm không khí là cao.
TS.BS. Phạm Như Hùng
(Viện Tim mạch Quốc gia)
https://suckhoedoisong.vn/giup-nguoi-benh-tim-chong-choi-voi-moi-truong-o-nhiem-n101070.html
Fanpage
Youtube


















