Những điều cần biết về bệnh Melioidosis (Whitmore)
18/11/2020
0
Bệnh Melioidosis hay còn được gọi là bệnh Whitmore, đây là bệnh truyền nhiễm có thể lây nhiễm cho người hoặc động vật. Nguyên nhân gây bệnh là do vi khuẩn BurkholderiaPseudomallei tồn tại trong nước và đất bị ô nhiễm. Bệnh này chủ yếu xảy ra ở các nước khí hậu nhiệt đới, đặc biệt là ở Đông Nam Á và miền bắc Úc do lây truyền sang người và động vật thông qua tiếp xúc trực tiếp với nguồn bệnh bị ô nhiễm.

Vi khuẩn Burkholderia Pseudomallei có thể được phân lập từ máu, nước tiểu,nước bọt, da bị tổn thương, ổ áp xe hoặc phát hiện kháng thể kháng vi khuẩn.
1. Cách thức lây nhiễm bệnh Whitmore
Bất kỳ ai đều có thể bị nhiễm Melioidosis thông qua tiếp xúc trực tiếp với đất và nước mặt bị ô nhiễm. Con người và động vật được cho là bị nhiễm trùng do hít phải bụi bẩn hoặc giọt nước bị nhiễm bẩn, uống phải nguồn nước bị ô nhiễm và tiếp xúc với đất bị ô nhiễm, đặc biệt là qua các vết trầy xước trên da.
Rất hiếm khi người bệnh bị mắc bệnh do lây truyền từ người khác. Một vài trường hợp đã được ghi nhận, đất và nước mặt bị ô nhiễm là cách thức chủ yếu mà con người bị
nhiễm bệnh này.
Bên cạnh con người, nhiều loài động vật dễ bị bệnh melioidosis, bao gồm: Cừu; Dê; Heo; Ngựa; Mèo; Loài chó; Gia súc... Ai cũng có thể bị nhiễm Melioidosis thông qua tiếp xúc trực tiếp với đất và nước mặt bị ô nhiễm
2. Triệu chứng khi mắc bệnh Whitmore
Do có một số loại Melioidosis khác nhau và mỗi loại đều gây cho người bệnh những các triệu chứng khác nhau. Tuy nhiên, điều quan trọng cần lưu ý là Melioidosis có một loạt các dấu hiệu và triệu chứng có thể bị nhầm lẫn với các bệnh khác như bệnh lao hoặc nhiều dạng khác của bệnh viêm phổi.
Khoảng thời gian từ khi phơi nhiễm với vi khuẩn đến khi xuất hiện các triệu chứng của bệnh không được xác định rõ ràng, nhưng có thể từ một ngày đến nhiều năm, nhìn chung các triệu chứng thường xuất hiện sau hai đến bốn tuần sau phơi nhiễm.
Một số triệu chứng đặc thù của các thể nhiễm bệnh Melioidosis:
|
Triệu chứng |
Nhiễm trùng cục bộ |
Nhiễm trùng phổi |
Nhiễm trùng máu |
Nhiễm trùng lan truyền |
|
Đau hoặc xưng cục bộ |
x |
|
|
|
|
Sốt |
x |
x |
x |
x |
|
Loét |
x |
|
|
|
|
Áp xe |
x |
x |
|
|
|
Ho |
|
|
|
|
|
Suy hô hấp |
|
|
x |
|
|
Đau ngực |
|
x |
|
|
|
Đau đầu |
|
x |
x |
x |
|
Chán ăn |
|
x |
|
|
|
Khó chịu ở bụng |
|
|
x |
|
|
Đau khớp cơ |
|
|
x |
|
|
Mất phương hướng |
|
|
|
x |
|
Giảm cân |
|
|
|
x |
|
Đau dạ dày hoặc ngực |
|
|
|
x |
|
Động kinh |
|
|
|
x |
Mặc dù những người khỏe mạnh có thể bị bệnh Melioidosis, tuy nhiên có một số người dễ mắc bệnh hơn như người mắc bệnh sau: Bệnh tiểu đường, bệnh gan, bệnh thận, bệnh thalassemia, Ung thư hoặc một tình trạng ức chế miễn dịch khác không liên quan đến HIV, Bệnh phổi mãn tính như: bệnh u xơ nang, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) và bệnh giãn phế quản.

3. Nguy cơ phơi nhiễm:
Nhiễm Melioidosis đã diễn ra trên toàn thế giới, Đông Nam Á và Bắc Úc là những khu vực thường xuất hiện bệnh. Tại Hoa Kỳ, các trường hợp được báo cáo hàng năm dao động từ 0-5 trường hợp và xảy ra ở những người đi du lịch, người nhập cư đến từ những nơi mà căn bệnh này lan rộng. Ngoài ra, bệnh Melioidosis còn được tìm thấy trong số quân đội của tất cả các quốc gia đã phục vụ trong các khu vực có bệnh lan rộng. Số lượng
lớn nhất của các trường hợp mắc Melioidosis được báo cáo tại: Thái Lan, Malaysia, Singapore, Bắc Úc.
Mặc dù hiếm khi được báo cáo, các trường hợp được cho là thường xuyên xảy ra tại: Papua New Guinea, hầu hết các tiểu lục địa Ấn Độ, miền Nam Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan, Việt Nam, Indonesia, Campuchia, Lào, Myanmar. Ngoài Đông Nam Á và Úc, các trường hợp bệnh Melioidosis cũng đã được báo cáo ở: Nam Thái Bình Dương (New Caledonia), Sri Lanka, Mexico, El Salvador, Panama, Ecuador, Peru, Guyana, Puerto Rico, Martinique, Guadeloupe, Brazil, Một số phần của Châu Phi và Trung Đông
4. Điều trị:
Khi chẩn đoán nhiễm Melioidosis, bệnh có thể được điều trị bằng cách sử dụng thuốc thích hợp. Tùy thuộc vào loại Melioidosis bị nhiễm trùng và cách thức điều trị sẽ ảnh hưởng đến kết quả điều trị lâu dài của người bệnh. Việc điều trị thường bắt đầu bằng tiêm thuốc kháng sinh đường tĩnh mạch trong 10 - 14 ngày, sau đó là 3-6 tháng điều trị thuốc kháng sinh đường uống.
Điều trị tiêm tĩnh mạch bao gồm:
- Ceftazidime dùng mỗi 6-8 giờ hoặc Meropenemdùng mỗi 8 giờ
Điều trị kháng sinh đường uống bao gồm:
- Trimethoprim-sulfamethoxazole uống mỗi 12 giờhoặc Amoxicillin / axit clavulanic (co-amoxiclav) được thực hiện mỗi 8 giờ
Nếu bệnh nhân bị dị ứng Penicillin thì nên thông báo cho bác sĩ và các nhân viên Y tế khác được biết để thực hiện thuốc điều trị thay thế.
.jpg)
5. Phòng ngừa
Hiện chưa có vắc xin phòng bệnh. Do đó, phòng bệnh Whitmore là điều quan trọng hơn cả. Một số biện pháp có thể giúp hạn chế lây bệnh Whitmore:
- Vệ sinh môi trường sạch sẽ.
- Khi làm việc hay sinh hoạt, đặc biệt là trong nhữngmôi trường bùn đất, ẩm, ướt, môi trường có nguy cơnhiễm vi khuẩn Whitmore cao: Cần chú ý tránh để bị xây xước hoặc có vết thương hở. Trong trường hợpcó vết xước da, dù là nhỏ cũng cần được che chắn,bảo vệ kỹ để tránh nhiễm bệnh.
- Khi bị xây xước da, cần được sát khuẩn kịp thời,nếu xuất hiện mụn mủ, cần đi khám bệnh càng sớmcàng tốt.
- Ngoài ra, vệ sinh an toàn thực phẩm tốt, ăn chín,uống chín.
- Ở những người có sức đề kháng kém (ví dụ nhưngười đang mắc bệnh nhiễm trùng mạn tính, sử dụngthuốc corticoid kéo dài, bệnh đái tháo đường, bệnhthận hoặc người nghiện rượu, nghiện ma túy...): khi vi khuẩn xâm nhập máu sẽ gây nhiễm khuẩn huyết
nặng hơn. Do đó, những người này có nguy cơ cao hơn, cần chú ý phòng bệnh hơn.
- Những trường hợp mạn tính: cần kiên trì điều trị.
- Khi nghi ngờ mắc bệnh, tốt nhất là khám ở các cơsở y tế uy tín để điều trị kịp thời và đúng phác đồ, ngăn ngừa vi khuẩn Whitmore đa đề kháng kháng sinh.
Fanpage
Youtube


















