Thông tư 52/2024/TT-BYT về việc nâng cao quy chuẩn và tăng cường công tác kiểm tra, giám sát chất lượng nước sạch, góp phần bảo vệ sức khỏe cộng đồng người dân
24/03/2025
0
Thông tư 52/2024/TT-BYT là một văn bản pháp lý quan trọng trong việc quản lý và giám sát chất lượng nước sạch ở Việt Nam. Thông tư nhằm đảm bảo rằng người dân luôn được sử dụng nước sạch đạt tiêu chuẩn, đồng thời yêu cầu các đơn vị cấp nước, đơn vị sử dụng nước (cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, khu chung cư, khu tập thể, bệnh viện, trường học, khách sạn, nhà hàng, khu nghỉ dưỡng có bể chứa nước sạch được cung cấp bởi đơn vị cấp nước) và hộ gia đình tự khai thác sử dụng nâng cao trách nhiệm trong việc quản lý và sử dụng nước sạch.
Ngày 31/12/2024, Bộ trưởng Bộ Y tế đã ban hành Thông tư số 52/2024/TT-BYT ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia và quy định kiểm tra, giám sát chất lượng nước sạch sử dụng cho mục đích sinh hoạt. Thông tư này thay thế cho Thông tư số 41/2018/TT-BYT ngày 14/12/2018 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia và quy định kiểm tra, giám sát chất lượng nước sạch và Thông tư số 26/2021/TT-BYT ngày 15/12/2021 sửa đổi, bổ sung và bãi bỏ một số Điều của Thông tư số 41/2018/TT-BYT của Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia và quy định kiểm tra, giám sát chất lượng nước sạch sử dụng cho mục đích sinh hoạt.
Nội dung của Thông tư bao gồm: (1) quy định chế độ nội kiểm, ngoại kiểm, kiểm tra và giám sát chất lượng nước sạch sử dụng cho mục đích sinh hoạt và (2) quy chuẩn kỹ thuật quốc gia chất lượng nước sạch sử dụng cho mục đích sinh hoạt.
Về đối tượng áp dụng, Thông tư số 52/2024/TT-BYT không chỉ áp dụng cho các đơn vị cấp nước mà còn mở rộng ra các đơn vị sử dụng nước (như cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, khu chung cư, khu tập thể, bệnh viện, trường học, khách sạn, nhà hàng, khu nghỉ dưỡng có bể chứa nước sạch được cung cấp bởi đơn vị cấp nước). Bên cạnh đó, đơn vị, các hộ gia đình tự khai thác sử dụng nước tại vùng có nguy cơ cũng được quy định cụ thể.
Về giải thích từ ngữ, Thông tư số 52/2024/TT-BYT đã bổ sung thêm các khái niệm đơn vị cấp nước, đơn vị sử dụng nước, nội kiểm, ngoại kiểm, kiểm tra, giám sát.
Thông tư số 52/2024/TT-BYT quy định chi tiết về chế độ nội kiểm (đối với đơn vị cấp nước và đơn vị sử dụng) cụ thể như sau:* Đơn vị cấp nước
- Tần suất thử nghiệm định kỳ đối với tất cả các thông số chất lượng nước sạch nhóm A: không ít hơn 01 tháng một lần;
- Tần suất thử nghiệm định kỳ đối với tất cả các thông số chất lượng nước sạch nhóm B theo quy chuẩn kỹ thuật địa phương: Không ít hơn 06 tháng một lần. Trường hợp kết quả thử nghiệm đạt theo quy định của quy chuẩn kỹ thuật địa phương trong 2 lần thử nghiệm định kỳ liên tiếp thì tần suất thử nghiệm được giảm xuống 01 năm một lần. Đơn vị cấp nước được áp dụng tần suất 01 năm một lần cho đến khi có kết quả thử nghiệm không đạt;
* Đơn vị sử dụng nước
- Tần suất thử nghiệm định kỳ không ít hơn 06 tháng một lần. Trường hợp có nghi ngờ về chất lượng nước sạch thì phải thử nghiệm ngay. Tùy theo tình hình thực tế của địa phương, ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thể quy định tần suất thử nghiệm nhiều hơn tần suất định kỳ nêu trên;
- Thông số thử nghiệm: Tất cả các thông số nước sạch nhóm A và 02 thông số Trực khuẩn mủ xanh và Tụ cầu vàng.
- Trường hợp kết quả thử nghiệm các thông số nước sạch của đơn vị sử dụng nước không đạt theo quy định của quy chuẩn kỹ thuật địa phương hoặc quy chuẩn kỹ thuật quốc gia ban hành kèm theo Thông tư này trong trường hợp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chưa ban hành quy chuẩn kỹ thuật địa phương, đơn vị sử dụng nước phải:
- Tiến hành thông báo ngay cho đơn vị cấp nước để phối hợp kiểm tra và xác định nguyên nhân, áp dụng các biện pháp khắc phục, lấy mẫu và thử nghiệm lại các thông số không đạt trong vòng 24 giờ kể từ khi có kết quả thử nghiệm không đạt. Số lượng và vị trí lấy mẫu: 01 mẫu nước ngay sau đồng hồ cấp cho đơn vị sử dụng nước, 01 mẫu tại bể chứa nước sạch và 01 mẫu tại vòi cung cấp từ bể chứa nước sạch có thông số không đạt;
- Kết quả thử nghiệm không đạt theo quy định sau khi đã áp dụng các biện pháp khắc phục thì phải phân định rõ trách nhiệm của đơn vị cấp nước hay đơn vị sử dụng nước. Đồng thời báo cáo ngay cho cơ quan chủ quản, cơ quan quản lý nhà nước về cấp nước để có biện pháp giải quyết, kịp thời cung cấp nước sạch cho người dân và báo cáo cơ quan y tế có thẩm quyền để theo dõi.
Bên cạnh đó Thông tư số 52/2024/TT-BYT Quy định ngoại kiểm (đối với cả 3 đơn vị) về việc kiểm tra và giám sát chất lượng nước sạch sử dụng cho mục đích sinh hoạt. Thông tư này quy định cụ thể hơn về số lượng và vị trí lấy mẫu theo công suất thiết kế bể của các đơn vị cấp nước với việc tăng mẫu thử nghiệm theo quy mô của trạm cấp nước, cụ thể như sau:
- Đơn vị cấp nước có công suất thiết kế dưới 1.000m3/ngày đêm hoặc cung cấp cho dưới 6.500 dân: Lấy ít nhất 01 mẫu tại bể chứa nước sạch đã xử lý của đơn vị cấp nước trước khi đưa vào mạng lưới cấp nước và 01 mẫu lấy ngẫu nhiên tại vòi sử dụng cuối mạng lưới cấp nước;
- Đơn vị cấp nước có công suất thiết kế từ 1.000m3/ngày đêm đến dưới 15.000m3/ngày đêm hoặc cung cấp cho từ 6.500 đến dưới 100.000 dân: Lấy ít nhất 01 mẫu tại bể chứa nước sạch đã xử lý của đơn vị cấp nước trước khi đưa vào mạng lưới cấp nước và 02 mẫu lấy ngẫu nhiên tại vòi sử dụng trên mạng lưới cấp nước;
- Đơn vị cấp nước có công suất thiết kế từ 15.000m3/ngày đêm đến dưới 30.000m3/ngày đêm hoặc cung cấp cho từ 100.000 đến dưới 200.000 dân: Lấy ít nhất 01 mẫu tại bể chứa nước đã xử lý của đơn vị cấp nước trước khi đưa vào mạng lưới cấp nước và 03 mẫu lấy ngẫu nhiên tại vòi sử dụng trên mạng lưới cấp nước;
- Đơn vị cấp nước có công suất thiết kế từ 30.000m3/ngày đêm trở lên hoặc cung cấp cho từ 200.000 dân trở lên: Lấy ít nhất 01 mẫu tại bể chứa nước đã xử lý của đơn vị cấp nước trước khi đưa vào mạng lưới cấp nước, 03 mẫu lấy ngẫu nhiên tại vòi sử dụng trên mạng lưới cấp nước và thêm 01 mẫu ngẫu nhiên tại vòi sử dụng trên mạng lưới cấp nước cho mỗi 15.000m3 tăng thêm hoặc cho mỗi 100.000 dân tăng thêm;
- Trong trường hợp có nguy cơ ô nhiễm nguồn nước, tình hình dịch bệnh có thể tăng số lượng mẫu nước để thử nghiệm theo đánh giá nguy cơ ô nhiễm thực tế.
Thông tư cũng đã quy định rõ hơn về thời hạn công khai thông tin đối với nội kiểm, ngoại kiểm (3 ngày làm việc, 5 ngày làm việc, 20 ngày); khắc phục các sự cố chất lượng nước không đạt về chỉ tiêu vi sinh và hóa lý; quy định rõ ràng hơn việc áp dụng để đánh giá chất lượng nước hộ gia đình tự khai thác ở vùng có nguy cơ; việc quy định nội kiểm của đơn vị sử dụng nước được quy định cụ thể cũng như trách nhiệm của đơn vị sử dụng nước, hộ gia đình, Sở Y tế, CDC, Trung tâm Y tế huyện được quy định cụ thể hơn.
Một trong những điểm nổi bật của Thông tư này là cập nhật Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước sạch sử dụng cho mục đích sinh hoạt (QCVN 01-1:2024/BYT). Quy chuẩn này đã có sự thay đổi so với phiên bản trước (QCVN 01-1:2018/BYT). Đặc biệt, các thông số Nhóm A từ 8 lên 10 thông số chính ( bao gồm coliform tổng số, E.coli, màu sắc, mùi vị, pH, độ đục, asen, amoni, clo dư tự do, permanganat), Nhóm B: Bao gồm 89 thông số khác, chủ yếu là các chất hóa học và vi sinh vật có thể ảnh hưởng đến sức khỏe người dùng.Thông tư số 52/2024/TT-BYT cũng đưa ra các phương pháp thử nghiệm mới để kiểm tra chất lượng nước, phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế. Các phương pháp này được áp dụng nhằm đảm bảo độ chính xác và tính khoa học cao trong việc đánh giá chất lượng nước sạch, giúp phát hiện sớm các vấn đề ô nhiễm và đảm bảo xử lý kịp thời./.
Fanpage
Youtube


















