Phòng tránh ngộ độc nấm
20/04/2016
0
Ở Việt Nam có khoảng 50 - 100 loài nấm độc khác nhau. So với các loại ngộ độc khác thì ngộ độc nấm xảy ra ít hơn về số ca, nhưng tỷ lệ tử vong rất cao.
I. 4 loại nấm cực độc thường gặp ở Việt Nam:
1. Nấm độc tán trắng (Amanita verna)

Nấm độc tán trắng (Amanita verna) thường mọc thành từng cụm hoặc đơn chiếc trên mặt đất trong rừng và một số nơi khác. Mũ nấm màu trắng và bề mặt mũ nhẵn bóng. Lúc non đầu tròn hình trứng, mũ nấm đính chặt vào cuống. Khi trưởng thành, mũ nấm phẳng và có đường kính khoảng 5-10 cm. Khi già mép mũ có thể cụp xuống. Phiến nấm và cuống nấm có màu trắng, phần cuống có dạng màng ở trên gần sát với mũ, chân cuống phình dạng củ và có bao gốc hình đài hoa. Thịt nấm mềm, màu trắng và mùi thơm dịu. Loại nấm này chứa amanitin (amatoxin) có độc tính cao.
2. Nấm độc trắng hình nón (Amanita virosa)

Cây nấm có hình dạng gần giống nấm độc tán trắng, mang đặc điểm phân bố và độc tố tương tự. Mũ nấm trắng, bề mặt nhẵn bóng, lúc non đầu tròn hình trứng, mép khum đính chặt vào cuống. Khi trưởng thành, mũ nấm thường khum hình nón với đường kính khoảng 4-10 cm. Thịt nấm mềm, màu trắng và có mùi khó chịu.
3. Nấm mũ khía nâu xám (Inocybe fastigiata hoặc Inocybe rimosa)

Mũ nấm hình nón đến hình chuông, đỉnh nhọn, có các sợi tơ màu từ vàng đến nâu, tỏa ra từ đỉnh mũ xuống mép mũ nấm. Khi già, mép mũ nấm bị xẻ ra thành các tia riêng rẽ, đường kính mũ nấm khoảng 2-8cm. Phiến nấm lúc non màu hơi trắng, gắn chặt vào cuống nấm và khi già có màu xám hoặc nâu tách rời khỏi cuống nấm. Cuống nấm có màu từ hơi trắng đến vàng nâu, dài 3-9cm, không có vòng cuống. Thịt nấm màu trắng và chứa độc tố muscarin.
4. Nấm ô tán trắng phiến xanh (Chlorophyllum molybdites)

Loài nấm này mọc thành cụm hoặc đơn chiếc ở ven chuồng trâu bò, trên bãi cỏ, ruộng ngô và một số nơi khác. Lúc còn non, mũ nấm hình bán cầu dài, màu vàng nhạt, có các vảy nhỏ màu nâu nhạt hoặc xám nhạt. Khi trưởng thành, mũ nấm hình ô hoặc trải phẳng, màu trắng, đường kính 5-15 cm. Trên bề mặt mũ nấm có các vảy mỏng màu nâu bẩn, vảy dày dần về đỉnh mũ. Phiến nấm (mặt dưới mũ nấm) lúc non có màu trắng, lúc già có ánh màu xanh nhạt hoặc xanh xám, nấm càng già màu xanh càng rõ. Cuống nấm màu từ trắng đến nâu hoặc xám, có vòng ở đoạn trên gần sát với mũ. Chân cuống không phình dạng củ và không có bao gốc. Thịt nấm trắng, có độc tính thấp và chủ yếu gây rối loạn tiêu hóa.
II. Triệu chứng và xử trí khi ngộ độc nấm:
1. Hai loại ngộ độc nấm thường gặp:
Nấm độc có thể gây nên bốn loại biểu hiện lâm sàng là: tổn thương dạ dày - ruột, tổn thương gan, tổn thương thần kinh và gây tan máu; các triệu chứng này thường đan xen nhau tạo nên những bệnh cảnh lâm sàng phức tạp. Xin trình bày cách phân loại, triệu chứng và xử trí hai loại ngộ độc nấm thường gặp ở nước ta: loại gây ngộ độc nhanh và loại gây ngộ độc chậm.
a. Nấm gây ngộ độc nhanh:
Các triệu chứng ngộ độc xuất hiện ngay sau khi ăn nấm (trong vòng 6 giờ) và kéo dài vài giờ, bệnh nhân thấy đau bụng, buồn nôn, nôn, tiêu chảy phân nhiều nước - đây là các triệu chứng chính, nổi bật. Ngoài ra tùy theo loại nấm còn có thể thấy:
- Nếu là nấm Amanita muscaria: Bệnh nhân có biểu hiện giãn mạch, vã mồ hôi, chảy nước dãi, chảy nước mắt, tiêu chảy, nhịp tim chậm, đồng tử co, hạ huyết áp (hội chứng muscarinic);
- Nếu là nấm Amanita panthera (có nơi gọi là nấm sậy): Bệnh nhân giãy giụa, co giật, mê sảng; niêm mạc miệng và mắt khô; mạch nhanh, đồng tử giãn, đỏ da (hội chứng atropin).
- Ảo giác (ảo giác đơn giản): Bệnh nhân nhìn thấy các chấm sáng và chấm màu, hoặc các vạch nối nhau chạy trước mắt.
b. Nấm gây ngộ độc chậm:
Đây là loại nguy hiểm, thường gây chết người, đáng sợ nhất là loại này gây nên tình trạng viêm gan nhiễm độc phá huỷ tế bào gan dẫn đến hôn mê gan.
Các triệu chứng xuất hiện muộn sau khi ăn 6 - 40 giờ (thường là 12-18 giờ): Bệnh nhân buồn nôn, nôn nhiều, tiêu chảy liên tục như tả, kéo dài 2-3 ngày, gây mất nước và rối loạn điện giải, trụy mạch, do đó dẫn đến tiểu ít hoặc vô niệu.
Sau vài ba ngày xuất hiện tình trạng viêm gan: vàng mắt, vàng da, chán ăn, đầy bụng, mệt mỏi, dần dần mê sảng rồi hôn mê sâu (hôn mê gan do suy gan), xuất huyết nhiều nơi (dưới da, niêm mạc, tiểu ra máu...), và cuối cùng là tử vong.
2. Điều trị ngộ độc nấm
Khi phát hiện thấy bệnh nhân ăn phải nấm độc, nếu còn sớm, thì ngay lập tức gây nôn. Nếu có điều kiện thì cho bệnh nhân uống than hoạt tính với liều 1-2g cho mỗi kg cân nặng kèm theo sorbitol với liều 2g cho 1g than hoạt. Nếu bệnh nhân tiêu chảy nhiều gây mất nước, phải bù nước bằng cách cho uống dung dịch oresol. Đưa bệnh nhân đến các cơ sở y tế để được theo dõi và điều trị.
Tại cơ sở y tế: Rửa dạ dày nếu bệnh nhân đến trước 4 giờ. Truyền dịch glucose 5%, natriclorua 0,9%, theo dõi và điều chỉnh nước và điện giải, đặc biệt chú ý bù kali.
- Chống hội chứng muscarinic bằng atropin 0,5 - 1mg qua đường tĩnh mạch, 15 phút một lần cho đến khi có dấu hiệu thấm atropin (da ấm, hết tăng tiết, hết đau bụng tiêu chảy).
- Chống hội chứng atropin bằng seduxen, điều chỉnh nước, điện giải.
- Chống ảo giác bằng aminazin.
Làm các xét nghiệm đánh giá và theo dõi chức năng gan - thận: urê, creatinin, đường, điện giải đồ, transaminase, prothrombin...
Nếu là loại gây ngộ độc chậm (các triệu chứng đầu tiên xảy ra sau 12 giờ trở đi) thì sau khi áp dụng các biện pháp trên cần cho thêm:
- Silymarine (légalon) có tác dụng bảo vệ gan, viên 70mg, uống 6 viên/ngày.
- Penicillin G (benzylpencillin): Tác dụng ức chế hấp thu amatoxin vào gan, bảo vệ gan, làm giảm tỷ lệ tử vong; với liều 500.000 UI/kg/ngày hay 300mg/kg/ngày, dùng trong 3 ngày.
- N. Acetylcysteine (NAC): Làm giảm lượng glutathion của tế bào gan, khôi phục lại dự trữ glutathion, cải thiện dòng máu tới gan và cải thiện chức năng gan; liều dùng: N-acetylcystein (mucomyst) gói 200mg, uống 140mg/kg liều đầu, sau đó dùng 70mg/kg/lần, 4 giờ/lần, cho tới khi AST dưới 200U/l. Nếu có thuốc ống để tiêm tĩnh mạch thì càng tốt; liều cũng giống như dùng đường uống.
- Chuyển bệnh nhân lên tuyến trên để có thể thay máu, ghép gan nếu có điều kiện.
III. Khi muốn ăn nấm cần tuân theo các nguyên tắc sau đây:
· Chỉ ăn nấm khi biết chắc chắn đây là loại nấm ăn được, còn không biết thì tuyệt đối không được ăn.
· Không ăn nấm có màu sắc sặc sỡ, có mùi thơm hấp dẫn vì nấm này thường là nấm độc.
· Không ăn các loại nấm hoang dại lúc còn non, vì lúc còn non chúng rất giống nhau (giống cúc áo), khó phân biệt.
· Không ăn loại nấm khi cắt, vết cắt có rỉ ra chất trắng như sữa.
· Không ăn nấm quá già, nấm có nghi ngờ, không rõ địa chỉ...
. Không nên hái nấm quá non, khi chưa xòe mũ nấm, vì chưa thấy hết đặc điểm cấu tạo của nấm để xác định được rõ loài độc hay không.
Fanpage
Youtube


















