Điểm báo điện tử ngày 08/12/2017
09/12/2017
0
Vì sao trời mùa đông lạnh buốt nhưng bé vẫn mướt mát mồ hôi?
Bé ra nhiều mồ hôi vào mùa đông là vấn đề làm nhiều mẹ lo lắng
Bé mặc đồ quá dày
Trong mùa đông, vì sợ trẻ lạnh khi ngủ, nhiều mẹ cố gắng mặc quần áo thật dài, thật dày cho con. Tuy nhiên, khi ngủ, cơ thể trẻ thường tăng nhiệt dẫn đến ra nhiều mồ hôi hơn. Không chỉ vậy, việc để trẻ mặc đồ quá dày khiến bé ngủ không được thoải mái, ảnh hưởng đến chất lượng giấc ngủ của trẻ. Do đó, bố mẹ nên cho trẻ mặc vừa đủ, cũng như duy trì nhiệt độ thích hợp trong phòng.
Hay nô đùa trước khi đi ngủ
Quá phấn khích, hay nô đùa trước khi đi ngủ khiến lượng nhiệt độ của trẻ chưa thể phân phối hết theo thời gian. Vì vậy khi trẻ ngủ, lượng nhiệt này tiếp tục lan tỏa đều trên cơ thể bé đặc biệt là ở vùng đầu, lưng, khiến bé ra mồ hôi rất nhiều.
Sự trao đổi chất nhanh
Mặc dù trẻ còn nhỏ nhưng tỷ lệ trao đổi chất trong cơ thể bé nhanh hơn rất nhiều so với người lớn. Cộng với việc bé thường xuyên nô đùa, vận động khiến mồ hôi trên cơ thể trẻ toát rất nhiều so với người lớn. Vì vậy, nếu trẻ nô đùa, vận động thường xuyên thì việc trẻ toát mồ hôi là hết sức bình thường. Bố mẹ cần chú ý tắm rửa thường xuyên để giữ vệ sinh thân thể cho bé từ đó ngăn ngừa bệnh tật.
Bệnh lý
Đôi khi, đổ mồ hôi là một biểu hiện của vấn đề trong cơ thể trẻ, chẳng hạn như sự thiếu canxi, thiếu kẽm hoặc đường trong máu thấp. Nếu trẻ thực sự gặp vấn đề này, bố mẹ đừng vội vàng bổ sung canxi, kẽm dưới dạng viên tổng hợp mà hãy cho trẻ ăn uống nhiều dinh dưỡng, đủ chất hơn là được. Nếu bố mẹ cho bé ăn một chế độ ăn uống cân bằng, đầy đủ chất dinh dưỡng thì nguy cơ thiếu hụt chất dinh dưỡng ở trẻ là rất nhỏ.
Dự án phát hiện sớm bệnh Alzheimer
Italia đã bắt đầu tiến hành một chương trình tiên phong nhằm phát hiện sớm người có nguy cơ cao mắc bệnh Alzheimer để có thể điều trị bệnh sớm, trong khi chờ đợi những loại thuốc chữa trị hiệu quả hơn.
Bộ trưởng Y tế Italia Beatrice Lorenzin nhấn mạnh Alzheimer hiện đang là vấn đề toàn cầu, cứ 10 người trên 65 tuổi có 1 người mắc Alzheimer. Hiện Italia có khoảng 600.000 người mắc Alzheimer.
http://www.sggp.org.vn/du-an-phat-hien-som-benh-alzheimer-486968.html
Cô gái phải uống 100 viên thuốc/ngày để bảo vệ mạng sống
Cô Hannah Evans mắc bệnh nặng đến mức nguy hiểm tới tính mạng mỗi khi đi ra ngoài. Cơ thể cô gần như không có hệ miễn dịch. Cô phải uống mỗi ngày đến 100 viên thuốc để chống chọi lại bệnh tật.
Hannah sống ở thị trấn Neath, thuộc Xứ Wales. Vì sợ bị nhiễm bệnh, cô buộc phải đeo khẩu trang để ngăn ngừa vi khuẩn, đặc biệt là mỗi khi đi ra ngoài. Cùng lúc, cô được chẩn đoán mắc 3 bệnh nghiêm trọng, theo Daily Mail
Căn bệnh đầu tiên là hội chứng kích hoạt dưỡng bào (MCAS), khiến hệ miễn dịch của cô cực kỳ yếu. Hệ miễn dịch yếu đến mức chỉ cần tiếp xúc với một cái hắt hơi hay ho của người cảm cúm cũng có thể khiến cô nguy hiểm đến tính mạng.
Chính vì khả năng chống chọi bệnh tật cực kém mà Hannah từng bị viêm phổi, sau đó bệnh chuyển biến nặng sang nhiễm trùng máu. Khi ấy, cô phải trải qua chăm sóc đặc biệt suốt 4 tháng rưỡi. Ngoài ra, Hannah còn mắc hội chứng Ehlers-Danlos (EDS) và hội chứng nhịp tim nhanh tư thế (PoTS).
Hội chứng Ehlers-Danlos là một dạng rối loạn di truyền hiếm gặp, ảnh hưởng đến các mô liên kết ở da, dây chằng, thành mạch máu, cơ quan nội tạng và xương khớp. Bệnh có thể ảnh hưởng theo nhiều cách khác nhau như các khớp lỏng lẻo, da dễ bị bầm tím…, thậm chí có thể gây nguy hiểm đến tính mạng, Daily Mail trích dẫn thông tin từ Cơ quan Sức khỏe quốc gia của Anh (NHS).
Cũng theo NHS, hội chứng nhịp tim nhanh tư thế (PoTS) là tình trạng nhịp tim đập nhanh bất thường sau khi đứng dậy hay ngồi xuống. Nó thường gây chóng mặt, ngất xỉu và một số triệu chứng khác.
Cuộc sống của Hannah giờ trở thành cuộc chiến không ngơi nghỉ với bệnh tật. Mỗi khi ra đường, cô đều phải đeo chiếc khẩu trang đặc biệt để tránh bị lây các bệnh truyền nhiễm. Mặc dù mắc những căn bệnh thông thường nhưng chúng cũng có thể khiến cô nguy hiểm đến tính mạng.
Từ bé đến giờ, mùa đông năm nào Hannah cũng phải đến bệnh viện nhiều lần. Tuy nhiên, nhờ chăm sóc kỹ sức khỏe và cẩn thận mà giờ cô vẫn chưa bị nhiễm bệnh. Hannah hy vọng sẽ vượt qua mùa đông này mà không phải đến thăm bác sĩ, theo Daily Mail.
https://thanhnien.vn/suc-khoe/co-gai-phai-uong-100-vien-thuocngay-de-bao-ve-mang-song-907480.html
WHO: Trẻ em béo phì tăng gấp 10 lần trong 40 năm qua
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã cảnh báo về một "đại dịch béo phì toàn cầu" sau khi một nghiên cứu cho thấy trẻ em và thanh thiếu niên béo phì đã tăng gấp 10 lần trong 40 năm qua, theo Mirror.
Điều này có nghĩa là trẻ em đang phải đối mặt với nhiều nguy cơ về các vấn đề sức khỏe trong tương lai như bệnh tiểu đường loại 2 và bệnh tim, cũng như các vấn đề bao gồm đau lưng và đau khớp.
Vậy làm cha mẹ, chúng ta nên dựa vào chỉ số BMI hay không khi có nhiều nghiên cứu cho rằng chỉ số này thực chất không thích hợp với người lớn?
Tuy vậy, bác sĩ phẫu thuật giảm cân Sally Norton, của Cơ quan Sức khỏe Quốc gia Anh, nói: "Các biểu đồ BMI là cách kiểm tra tiêu chuẩn cho cân nặng khỏe mạnh vì chúng cho bạn một tỉ lệ cân nặng tốt nhất phù hợp với chiều cao. Tuy nhiên, với người lớn chỉ số BMI không hoàn toàn chính xác vì người lớn có cơ bắp nặng hơn. Nó thậm chí ít chính xác hơn ở trẻ em khi chúng phát triển ở các tỉ lệ khác nhau".
Vì vậy, hãy chắc chắn rằng bạn sử dụng một biểu đồ BMI cụ thể cho trẻ em nhưng chỉ cần xem nó như một hướng dẫn. Cách tốt nhất để biết con bị thừa cân là nhìn vào chính cơ thể chúng. Ví dụ, trẻ có một cuộn chất béo quanh bụng không?
Dĩ nhiên, trẻ sơ sinh và trẻ mới biết đi sẽ khác. Trẻ em phát triển khác trước khi chúng lớn lên và chất béo quanh bụng không phải là nguyên nhân gây ra báo động ngay lập tức, đặc biệt nếu bạn và gia đình đang hoạt động và ăn uống lành mạnh.
Nhưng nếu chính mình có vấn đề cân nặng, bạn nên quan tâm nhiều hơn về cân nặng của con trẻ vì trẻ em có cha mẹ thừa cân có nguy cơ tăng cân 80%.
Với những lý do trên, ngay từ bây giờ, có thể là thời điểm tốt phụ huynh nên cải thiện chế độ ăn uống và chế độ vận động cho trẻ.
https://thanhnien.vn/suc-khoe/who-tre-em-beo-phi-tang-gap-10-lan-trong-40-nam-qua-907431.html
Mỗi năm Việt Nam có khoảng 14.000 ca bệnh ung thư đại trực tràng
Ung thư đại trực tràng là một trong những bệnh ung thư thường gặp. Tại Việt Nam, ung thư đại trực tràng đứng thứ 4 trong số 10 bệnh ung thư phổ biến nhất ở nam giới, đứng thứ 2 trong số 10 bệnh ung thư của nữ giới
Ngày 7/12, bệnh viện K đã tổ chức Hội thảo“Ứng dụng phương pháp ICG trong phẫu thuật nội soi đại trực tràng”. Tham dự hội nghị có chuyên gia GS.Luigi Boni, Khoa Phẫu thuật tổng quát, Bệnh viện The Circolo Hospital and Macchi Foundation (Italia) và hơn 100 đại biểu là các bác sĩ ngoại khoa, tiêu hóa, dạ dày đến từ các bệnh viện tại Hà Nội, các tỉnh thuộc miền Bắc và miền Trung.
Tại Hội thảo, các chuyên gia quốc tế và Việt Nam đã tổ chức mổ trình diễn phẫu thuật nội soi đại trực tràng – cho người bệnh đang điều trị tại bệnh viện K, ca mổ được truyền hình trực tiếp từ phòng mổ đến hội trường. Bệnh nhân Phạm Văn T. 65 tuổi là nông dán ở Thường Tín Hà Nội, vào Bệnh viện K ngày 22/11 trong tình trạng đi ngoài ra máu, tiền sử sức khoẻ trước đó bình thường, tiền sử gia đình không có ai bị ung thư, trong một tháng bị sụt 2 kg, không có cảm giác buồn nôn, nôn, mất cảm giác thèm ăn hay sốt. Bệnh nhân được sinh thiết nhiều lần để chẩn đoán bệnh. Hình ảnh chụp CT phát hiện khối u kích thước 32x33 mm ở đại tràng.
Theo TTUT.PGS.TS Trần Văn Thuấn- Giám đốc Bệnh viện K, ung thư đại trực tràng là một trong những bệnh ung thư thường gặp. Theo GLOBOCAN 2012 (ghi nhận ung thư thế giới), ung thư đại trực tràng là loại ung thư thường mắc thứ 3 ở nam giới (chiếm 10% các loại bệnh ung thư ở nam) và thứ 2 ở nữ giới ( chiếm 9,2% các loại bệnh ung thư ở nữ).
Theo ước tính của WHO, trên toàn thế giới mỗi năm có khoảng 14,1 triệu ca ung thư mắc mới trong đó là 1,36 triệu ca ung thư đại trực tràng và 8,2 triệu ca triệu ca tử vong do ung thư trong đó gần 700.000 ca ung thư đại trực tràng. Số liệu tại Mỹ ước tính năm 2016 nước Mỹ có trên 134.000 ca ung thư đại trực tràng mới mắc và khoảng 49.000 ca tử vong do bệnh này.
“Tại Việt Nam, ung thư đại trực tràng đứng thứ 4 trong số 10 bệnh ung thư phổ biến nhất ở nam giới với số mắc mỗi năm khoảng 8.000 ca, dự kiến đến năm 2020 sẽ tăng lên hơn 13.000. Ung thư đại trực tràng cũng đứng thứ 2 trong số 10 bệnh ung thư phổ biến ở nữ giới, với khoảng hơn 6.000 ca mắc mỗi năm, dự kiến đến năm 2020 sẽ tăng lên hơn 11.000”- PGS.TS Trần Văn Thuấn nói.
Điều trị ung thư đại trực tràng là điều trị đa mô thức: Phẫu thuật, hoá chất, tia xạ, trong đó Phẫu thuật đã và đang đóng vai trò quan trọng nhất trong điều trị ung thư đại trực tràng. Phẫu thuật ung thư đại trực tràng cũng có 2 phương pháp chính: mổ mở truyền thống và phẫu thuật nội soi. Phẫu thuật nội soi ung thư đại trực tràng với các ưu điểm là mổ sang chấn tối thiểu, phẫu tích tỉ mỉ, giảm đau sau mổ tốt và bệnh nhân hồi phục nhanh hơn nhưng vẫn đảm bảo kết quả về mặt ung thư học.
Giám đốc Bệnh viện K cũng cho hay, tại Việt Nam những năm gần đây phẫu thuật nội soi ung thư đại trực tràng cũng được phát triển tại các bệnh viện lớn. Bệnh viện K đã triển khai một cách thường quy mổ nội soi ung thư đại trực tràng kết hợp với các phương pháp điều trị đa mô thức hoàn chỉnh, đây chính là thế mạnh của Bệnh viện K, bệnh viện ung thư đầu ngành của Việt Nam.
Bệnh viện K đã đẩy mạnh hợp tác với nhiều quốc gia trên thế giới như Hàn Quốc, Italia, Hoa Kỳ….. về việc hỗ trợ, nghiên cứu khoa học, trao đổi kinh nghiệm, đào tạo, chuyển giao công nghệ điều trị ung thư nói chung, ung thư đại trực tràng nói riêng góp phần phát triển y tế Việt Nam trong tương lai.
Vào năm 1959, cơ quan Quản lí an toàn Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) đã cấp phép lưu hành và sử dụng chất Indocyanine Green (ICG) trên cơ thể người. Sau nhiều năm, việc ứng dụng ICG gần như dậm chân tại chỗ. Chỉ đến khi thế hệ camera và nguồn sáng nội soi thế hệ mới ra đời mà điển hình là loại Image1S full HD kết hợp nguồn sáng D-Light P của Karl Storz với khả năng bắt màu xanh tím của ICG dưới ánh sáng huỳnh quang, việc ứng dụng ICG trong chẩn đoán và điều trị bệnh nhân mới có những bước tiến dài.
Theo đó, những chuyên khoa có thể ứng dụng công nghệ ICG gồm có: tiêu hóa, gan mật, hô hấp, tim mạch, phụ khoa,.. và đặc biệt ngành ung thư học. Nhờ khả năng khuếch tán theo đường máu và bạch mạch, không hấp thu mà thải trừ nhanh không gây độc cho cơ thể, ICG có tác dụng như một chất đánh dấu lí tưởng dùng trong y khoa. Nhờ khả năng phát sáng dưới ánh sáng huỳnh quang (cận hồng ngoại), các tổ chức có tưới máu trong cơ thể đều được hiện rõ khi quan sát bằng camera ICG.
Bằng một công tắc điều khiển chân (pedal) phẫu thuật viên sẽ chỉ mất 1/10 giây để chuyển đổi giữa hai chế độ: ánh sáng thông thường và ánh sáng huỳnh quang, do vậy khi tiến hành phẫu thuật, các tổ chức ung thư di căn như hạch bạch huyết có thể được cắt bỏ triệt để mà vẫn bảo tồn những vùng chưa bị xâm nhiễm. Có thể nói, ICG mở ra một thời kì mới trong phẫu thuật nội soi điều trị ung thư tiêu hóa nói riêng và ngoại khoa nói chung.
Fanpage
Youtube


















