Điểm báo điện tử ngày 14/1/2011
14/01/2015
0
Cập nhật thông tin dịch bệnh Ebola đến ngày 12/01/2015
Theo thông tin của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) dịch bệnh do vi rút Ebola tính đến ngày 12/01/2015, Thế giới đã ghi nhận21.272 trường hợp mắc, trong đó 8.435 trường hợp tử vong.
1) Quốc gia châu Phi
Guinea: 2.799 trường hợp mắc, 1.807 trường hợp tử vong
Liberia: 8.278 trường hợp mắc, 3.515 trường hợp tử vong
Sierra Leone: 10.094 trường hợp mắc, 3.049 trường hợp tử vong
Mali: 08 trường hợp mắc, 06 trường hợp tử vong
Quốc gia có trường hợp mắc mới
Anh: 01 trường hợp mắc, 0 trường hợp tử vong
2) Quốc gia đã qua 42 ngày không có trường hợp mắc mới Ebola
Nigeria: 20 trường hợp mắc, 08 trường hợp tử vong
Senegal: 01 trường hợp mắc, 0 trường hợp tử vong
Cộng hòa Dân chủ Congo: 66 trường hợp mắc, 49 trường hợp tử vong
Tây Ban Nha: 01 trường hợp mắc, 0 trường hợp tử vong
Mỹ: 04 trường hợp mắc, 01 trường hợp tử vong
3) Thống kê báo cáo tới ngày 07/01/2015, WHO xác nhận số nhân viên y tế là 846 trường hợp mắc Ebola, trong đó 503 trường hợp tử vong, cụ thể số nhân viên y tế (mắc/tử vong) tại các quốc gia như sau:
Guinea: 154/89
Liberia: 370/178
Sierra Leone: 296/221
Mali: 2/2
Nigeria: 11/5
DRC: 8/8
Tây Ban Nha: 1/0
Mỹ: 3/0
Anh: 1/0
4) Theo WHO tính đến 12/01/2015, Mali là quốc gia đã 36 ngày qua không có ca mắc mới Ebola, Tại Anh tiếp tục giám sát 55 người có tiếp xúc với trường hợp xác định nhiễm Ebola.
http://vncdc.gov.vn/News.aspx?id=744
Thống nhất viện phí ở các bệnh viện cùng hạng?
Cùng một thủ thuật nhưng ở mỗi bệnh viện cùng hạng lại có một giá thu khác nhau. Đây là một trong những bất cập đang được Bộ Y tế tính phương án điều chỉnh. Dự kiến giá viện phí sẽ được tính riêng cho các hạng bệnh viện…
Sáng 13/1, Bộ Y tế tổ chức hội nghị lấy ý kiến dự thảo thông tư liên tịch quy định thống nhất giá dịch vụ khám chữa bệnh bảo hiểm y tế giữa các bệnh viện cùng hạng trên toàn quốc.
Tại hội thảo, ông Nguyễn Nam Liên, Vụ trưởng Vụ Kế hoạch tài chính, Bộ Y tế cho biết, hiện giá thanh toán của Bảo hiểm y tế đối với bệnh viện cùng hạng (cùng trình độ, cơ sở vật chất, cùng kỹ thuật...) lại khác nhau. Ví dụ cùng một phẫu thuật mổ lấy thai mức thu của viện A có thể cao hơn viện B hoặc ngược lại.
Lý giải tình trạng này, ông Nam Liên cho biết, theo Thông tư 04 và 03, Bộ Y tế chỉ ban hành khung giá tối đa cho các dịch vụ y tế, còn cụ thể giá bao nhiêu do địa phương tự quyết định. Vì thế xảy ra hiện tượng cùng một dịch vụ y tế nhưng mức phí BHYT thanh toán khác nhau ở các địa phương, tại viện tỉnh A là 3,5 triệu đồng, trong khi bệnh viện tỉnh B chỉ có 1,7 triệu đồng...
Về vấn đề này, ông Nguyễn Minh Thảo, Phó tổng giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam, cho rằng, một dịch vụ kỹ thuật thì bản chất như nhau dù thực hiện ở các bệnh viện khác nhau. “Rất có thể một phần do trang bị kỹ thuật khác nhau, trình độ thầy thuốc khác nhau, nhưng không vì thế mà mức thu giữa các bệnh viện lại quá khác biệt, vì bản chất của thủ thuật, kỹ thuật là cùng để chữa trị bệnh. Vì thế, không thể có chuyện kỹ thuật này làm ở Bệnh viện A mà giá cao hơn, làm ở Bệnh viện B giá lại thấp hơn”, ông Thảo nói.
Vì thế, hiện Bộ Y tế đang lấy ý kiến cho dự thảo thông tư liên tịch quy định thống nhất giá dịch vụ khám chữa bệnh bảo hiểm y tế giữa các bệnh viện cùng hạng trên toàn quốc.
Theo ông Nguyễn Minh Thảo, việc ban hành giá dịch vụ khám chữa bệnh thống nhất giữa các hạng bệnh viện là bước đi quan trọng đột phá đảm bảo công bằng các bệnh viện cùng hạng bởi các địa phương sẽ có một giá thanh toán thống nhất, giá này đã được liên Bộ (Bộ y tế, Bộ tài chính) tính toán một cách chính xác và khoa học. Thông tư này vẫn chịu sự điều chỉnh của thông tư số 04, vẫn nằm trong phạm vi khung giá mà Thông tư 04 quy định.
Việc điều chỉnh giá theo thông tư liên bộ kỳ này chắc chắn góp phần để một bước nữa chúng ta điều chỉnh nâng cao chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh cho người dân, cho người có thẻ bảo hiểm y tế.
"Ví dụ nói đến chuyện nằm ghép thì các bệnh viện dần dần phải bỏ, vì nếu nằm ghép chúng tôi giảm thanh toán đi, nếu nằm ghép đôi chúng tôi chỉ thanh toán 50% giường bệnh, nếu để ghép 3 chúng tôi chỉ thanh toán 33% đấy cũng là áp lực để các bệnh viện giảm tỉ lệ nằm ghép.
Còn giá dịch vụ do trước đây chúng ta không có sự thống nhất chung toàn quốc vì vậy bệnh viện hạng II cũng có thể đẩy giá lên như bệnh viện hạng I tạo ra sự không công bằng. Với Thông tư này nếu chất lượng bệnh viện chỉ hạng II thì chỉ thanh toán giá dịch vụ với các bệnh viện hạng II trên cả nước…đấy cũng là động cơ buộc các bệnh viện nâng cao chất lượng dịch vụ", ông Thảo cho biết.
Theo dự thảo thông tư này, mức giá giữa các hạng bệnh viện tương đối đồng đều, không khác biệt lớn, ngoài trừ một số dịch vụ như giá khám lâm sàng, ngày giường… Ví dụ, giá đẻ thường tại 5 hạng bệnh viện đều là 500.000, giá mổ lấy thai lần 1 đều là 1,5 triệu đồng. Ngoài ra, giá khám lâm sàng chung của bệnh viện hạng 4 chỉ là 7.000 đồng, bệnh viện hạng 3 là 10.000, hạng 2 là 14.000; hạng 1 và hạng đặc biệt đồng giá là 20.000 đồng. Giá ngày giường điều trị hồi sức tích cực tại bệnh viện hạng đặc biệt sẽ giảm từ mức 335.000 đồng hiện nay xuống còn 290.000 đồng.
Dự kiến, Thông tư liên tịch của liên Bộ Y tế và Tài chính quy định thống nhất giá dịch vụ khám chữa bệnh bảo hiểm y tế giữa các bệnh viện cùng hạng trên toàn quốc này sẽ hoàn thành và được thực hiện từ quý 2 năm 2015.
http://dantri.com.vn/suc-khoe/se-thong-nhat-vien-phi-o-cac-benh-vien-cung-hang-1019463.htm
Báo động sinh viên Y khoa bị trầm cảm, có ý nghĩ tự tử gia tăng
Một nghiên cứu mới nhất dựa trên các thang đo sức khỏe tâm thần chuẩn đối với trên 2.000 sinh viên Y khoa ở 8 trường ĐH Y Dược trên toàn quốc đã đưa ra một kết luận quan trọng về dấu hiệu trầm cảm và ý nghĩ tự tử gia tăng ở khối sinh viên này.
Tại Hội thảo “Sức khỏe tâm thần, bằng chứng từ các nghiên cứu ở cộng đồng người Việt Nam” tổ chức tại ĐH Y Dược Huế ngày 9, 10/1 vừa qua, nhóm nghiên cứu của GS. Michael P. Dunne (Viện Nghiên cứu sức khỏe cộng đồng ĐH Y Dược Huế, Trường Y tế công cộng và Công tác xã hội, ĐH Công nghệ Queensland), ThS.BS.Trần Quỳnh Anh (ĐH Y Hà Nội), PGS.TS. Lưu Ngọc Hoạt (ĐH Y Hà Nội) đã đưa ra nhiều kết luận mới chính xác mang tính cảnh báo cao từ việc nghiên cứu sức khỏe và sự khỏe mạnh tinh thần của sinh viên Y khoa tại Việt Nam.
Theo nghiên cứu chung trên thế giới đã chỉ ra rằng, sinh viên Y khoa mắc phải stress cao hơn, do đó dễ dẫn đến trầm cảm. Sự biểu hiện trầm cảm, lo âu của sinh viên Y khoa cao hơn so với sinh viên các ngành khác và so với cả dân cư nói chung. Ước tính tỷ lệ mắc các vấn đề về sức khỏe tâm trí của sinh viên Y khoa tại Mỹ và các nước châu Âu là 8-15%, tại Trung Đông là 45-67%, tại các nước khác từ 21-38%. Riêng tỷ lệ sinh viên Y khoa có ý tưởng tự tử ở Mỹ là 11,2%, ở Bắc Âu là 14% và ở Trung Quốc là 12%.
Hiện ở Việt Nam đã có một số nghiên cứu về sức khỏe tâm thần trên sinh viên Y khoa nhưng điều tra ở quy mô nhỏ, ở 1 hoặc 2 trường. Nghiên cứu mới nhất trên được cho là thực hiện khá đầy đủ và quy mô đối với 2.099 sinh viên hệ BS đa khoa năm 1, năm 3, năm 5 tại 8 trường: ĐH Y Hà Nội, ĐH Y Dược Thái Nguyên, ĐH Y Hải Phòng, ĐH Y Dược Thái Bình, ĐH Y Dược Huế, ĐH Tây Nguyên (Khoa Y Dược), ĐH Y Dược TP Hồ Chí Minh và ĐH Y Dược Cần Thơ từ tháng 1-4/2013.
Kết quả cho thấy, có 43% trong số 2.099 sinh viên có dấu hiệu trầm cảm. Trong đó, có 23% trầm cảm nhẹ và 20% có thể trầm cảm nặng. Đặc biệt về hành vi tự tử: có 8,7% SV có ý tưởng tự tử, 3,9% lên kế hoạch tự tử và 0,9% cố gắng tự tử. Các SV có cả dấu hiệu trầm cảm và ý tưởng tự tử là 5,8% (119 sinh viên) -đây là nhóm nguy cơ cao cần phải cảnh báo.
Nguyên nhân của việc có trầm cảm, có ý tưởng tự tử được xác định đến do nhiều nguyên nhân. Nhưng trong đó lớn nhất vẫn là nhóm “Ảnh hưởng các sự kiện căng thẳng trong cuộc sống”. Trong nhóm này, việc bất đồng về cha mẹ chiếm tỷ lệ cao nhất với 29,1%, việc kết thúc tình bạn chiếm 25,3%, việc kết thúc tình yêu chiếm 23,7%. Sau đó là vấn đề khó khăn về nơi ở với 16%, khó khăn về tài chính 8,1%.
Nhóm kế đến là “Các yếu tố học tập”. Cao nhất trong nhóm này là việc không hài lòng với kết quả học tập chiếm đến 56,5%. Tiếp đến là việc thi trượt, muốn chọn lại nghề…
Nhóm “Nhân khẩu học” cũng được khảo sát và cũng có liên quan đến việc trầm cảm, có ý nghĩ tự tử ở sinh viên Y khoa như: nơi ở gia đình (tỷ lệ thành thị cao hơn nông thôn), giới tính (nữ cao hơn nam), sinh viên năm thứ 3 cao hơn sinh viên năm 1, năm 5, dân tộc (Kinh cao hơn các dân tộc khác), tôn giáo (không có tôn giáo cao hơn có tôn giáo).
Các tác giả của đề tài nghiên cứu này đã đặc biệt lưu ý ở nhóm nguy cơ cao (5,8% SV có cả dấu hiệu trầm cảm và ý tưởng tự tử) bị “dính” nhiều ở nhóm “Ảnh hưởng các sự kiện căng thẳng trong cuộc sống” ở 5 việc chính là: Kết thúc tình yêu, Thi trượt, Khó khăn về nơi ở, Bất đồng với cha mẹ, Không hài lòng với kết quả học tập.
Theo GS. Michael P. Dunne, ước lượng tỷ lệ sinh viên Y khoa Việt Nam có các dấu hiệu trầm cảm cao hơn đáng kể so với nghiên cứu trên người trưởng thành ở Việt Nam (theo nghiên cứu của Đoàn Vương Diễm Khánh, 2011), và cao hơn so với nghiên cứu trên sinh viên Y khoa ở Mỹ (nghiên cứu của Goebert et al., 2009).
“Chúng ta cần những thầy thuốc khỏe mạnh trong tương lai. Tuy vậy, mặc dù hơn một nửa trong số 2.099 sinh viên được hỏi cho biết họ có chất lượng cuộc sống tốt, nhưng đã có khoảng 2 trong số 5 sinh viên có những dấu hiệu trầm cảm và xấp xỉ 1 trong 10 sinh viên đã có ý nghĩ tự tử trong năm qua. Đặc biệt, có khoảng 1/20 sinh viên có cả 2 dấu hiệu trên. Nghiên cứu này đã cung cấp thêm những hiểu biết về sức khỏe tâm thần của sinh viên ngành Y - nhóm người trẻ tuổi vốn được coi là khỏe mạnh và ưu tú trong xã hội”, GS Michael P.Dunne cảnh báo.
Qua nghiên cứu thú vị trên, nhóm đã đưa ra khuyến nghị nhằm giảm tỷ lệ trầm cảm và có ý tưởng tự tử trong sinh viên Y khoa tại Việt Nam đang gia tăng. Đó là việc cần thiết phải thành lập các dịch vụ tư vấn cho sinh viên trong các trường ĐH. Điều này ở các trường ĐH trên thế giới đã có. Các dịch vụ tư vấn nên thực hiện toàn diện chứ không chỉ tập trung vào việc điều trị các rối nhiễu tâm lý phổ biến. Các nhà tư vấn nên đưa ra những lời khuyên cụ thể cho sinh viên Y khoa trong các vấn đề về quan hệ tình bạn, tình yêu, khó khăn về nơi ở và tài chính, mối quan hệ gia đình.
Ghép mạch máu, cứu sống bệnh nhân bị hoại tử động mạch đùi
Các phẫu thuật viên của Bệnh viện Đại học Y Hà Nội đã cứu sống bệnh nhân Nguyễn Văn A. (22 tuổi) bị hoại tử động mạch đùi, nhờ phương pháp ghép mạch máu.
Đây là ca ghép vô cùng khó khăn do đoạn động mạch ghép dài đến 15 cm, thành mạch mủn nát do hoại tử sau tai nạn giao thông.
Bệnh nhân A. được chuyển đến Bệnh viện Đại học Y Hà Nội trong tình trạng bị lóc da, hoại tử toàn bộ vùng mặt trước, mặt trong đùi và vùng bẹn bên phải. Tình trạng này đe dọa nghiêm trọng đến tính mạng do nhiễm khuẩn, nhiễm độc, sốc mất máu. Để bảo toàn tính mạng, bệnh nhân đứng trước nguy cơ phải tháo khớp háng, bỏ toàn bộ chân phải.
Bốn ngày sau nhập viện, bệnh nhân đột ngột bị chảy máu ồ ạt từ vùng đùi phải. Xét nghiệm cho thấy, hồng cầu của bệnh nhân giảm còn 3 triệu so với bình thường là 4 - 5 triệu. “Tình trạng mất máu cộng thêm mức độ chảy máu ở động mạch đùi rất mạnh, nếu không được xử trí kịp thời, chỉ sau 5 phút có thể khiến bệnh nhân tử vong do “cạn” máu nuôi dưỡng. Nếu tháo khớp háng, cắt bỏ chân hoại tử để chống mất máu, ngăn hoại tử lan rộng sẽ thuận lợi hơn cho chuyên môn nhưng cơ hội cho bệnh nhân được cứu sống không cao, chỉ khoảng 30 - 50%, và nếu sống thì chịu tàn phế suốt đời ở tuổi 22”, tiến sĩ Nguyễn Roãn Tuất, Trưởng khoa Phẫu thuật tạo hình thẩm mỹ của Bệnh viện Đại học Y Hà Nội cho biết.
Từ nhận định trên, kíp mổ với sự tham gia của các chuyên gia giỏi thuộc Bệnh viện Đại học Y Hà Nội đã quyết định thay thế đoạn động mạch đùi bị hoại tử bằng phẫu thuật cắt bỏ và ghép bằng đoạn tĩnh mạch của bệnh nhân (lấy từ bên chân trái). Sau 3 giờ phẫu thuật, bệnh nhân trẻ tuổi này đã được cứu sống, chân phải được giữ nguyên.
Tuy nhiên, 16 ngày sau ghép, một lần nữa bệnh nhân bị chảy máu ồ ạt tại phần ghép nối. Các chuyên gia của Bệnh viện Đại học Y Hà Nội tiếp tục hội chẩn cấp cứu và phẫu thuật tạo hình, tái tạo mạch máu để cứu sống bệnh nhân.
Hơn hai tháng điều trị, sau 5 lần phẫu thuật, bệnh nhân Nguyễn Văn A. đã được ra viện hôm 12.1 với đôi chân nguyên vẹn.
Cứu sống bệnh nhân bị vật nhọn đâm vào tim
Chiều 12-1, Khoa Ngoại tổng hợp, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hà Tĩnh cho biết, các y, bác sĩ của khoa này vừa kịp thời cứu sống bệnh nhân Nguyễn Sỹ Hiệp (49 tuổi, trú tại thị trấn Hương Khê, huyện miền núi Hương Khê) bị vật nhọn đâm thủng tâm nhĩ phải.
Trước đó, bệnh nhân Hiệp bị thương ở ngực trái được người nhà chuyển vào bệnh viện cấp cứu trong tình trạng nguy kịch, hôn mê... Các bác sĩ Khoa Ngoại tổng hợp đã xác định bệnh nhân bị vật nhọn đâm xuyên khoang liên sườn 4, cạnh bờ trái xương ức dẫn đến thủng tâm nhĩ phải, sâu 0,8cm; đồng thời khẩn cấp phẫu thuật cấp cứu khâu tim và vết thương ngực hở, cứu sống bệnh nhân.
Hiện tình trạng sức khỏe của bệnh nhân đang tiến triển tốt, đã ăn uống, nói chuyện bình thường trở lại.
http://www.sggp.org.vn/ytesuckhoe/2015/1/372722/
Chỉ mặt các lại rau chứa nhiều giun sán nhất
Giun sán xâm nhập vào cơ thể con người qua đường ăn uống và gây những tác hại nguy hiểm có thể ảnh hướng đến tính mạng nếu ở cấp độ nặng. Vì vậy, bạn cần đặc biệt lưu ý khi lựa chọn các loại rau củ ít nhiễm giun sán nhất để sử dụng.
Theo kết quả nghiên cứu của TS.BS Nguyễn Thu Hương - Viện Sốt Rét Ký sinh trùng Trung ương - Trung Văn, Hà Nội và cộng sự cho thấy, trong các loại rau ăn sống của người nhiễm sán lá gan lớn hay ăn thì rau cần, rau ngổ, rau diếp cá và bạc hà được ăn nhiều, tỷ lệ tương ứng là 43,7%, 43,1%, 40,0% và 40,0%; Rau xà lách và rau răm tỷ lệ là 35,5% và 35,4%.
Khi bị nhiễm giun sán từ thực phẩm, cơ thể chúng ta sẽ bị chúng bào mòn chất dinh dưỡng để nuôi sống các loại ký sinh trùng này, nếu ở cấp độ nhẹ, cơ thể bị suy nhược, chậm phát triển. Nếu ở cấp độ nặng sẽ có các biểu hiện đau bụng, tắc ruột...gây ảnh hưởng đến gan, não.
Nguyên nhân khiến giun, sán xâm nhập vào cơ thể theo con đường ngắn nhất là qua các loại rau thuỷ sinh.
Cụ thể, các loại rau dưới đây được cho là chứa nhiều giun sán nhất:
Rau cần
Rau cần là loại rau của mùa lạnh, nhưng ngay từ những ngày cuối thu bạn đã bắt gặp những gánh rau cần được bày bán ở chợ. Rau cần có hai loại, một loại là cần cạn trồng ở ruộng, một loại là cần nước được trồng ở các ao nông.
Loại cần trồng dưới nước thường chứa nhiều giun sán hơn loại cần trồng trên cạn. Khi ăn lẩu, các bạn phải rửa thật sạch, ngâm nước muối và để chín kỹ mới ăn.
Rau cải xoong
Rau cải xoong được biết là loại rau có hàm lượng vitamin, canxi, i-ốt... cao với nhiều công dụng trong việc phòng và trị bệnh, không chỉ giúp phòng bệnh tim mạch, chống lão hóa, bướu cổ mà còn giúp tẩy độc, lợi tiểu, có nhiều chất xơ nên tác dụng tốt đối với dạ dày, thông gan mật và góp phần làm giảm bệnh ứ máu....
Tuy nhiên, theo một số nghiên cứu thì rau cải xoong có thể là ổ chứa giun sán nếu ở trong môi trường nước bị ô nhiễm nặng.
Ngó sen
Ngó sen là bộ phận dưới gốc cây sen, là một thức ăn tốt, nhưng phải ăn chín, tuyệt đối không được ăn sống. Do phát triển trong bùn dưới đáy nước các hồ ao, đầm, nên ngó sen dễ bị nhiễm nhiều mầm bệnh nguy hiểm. Ngoài những bệnh truyền nhiễm đường tiêu hoá, ngó sen còn là nơi trú ẩn của ấu trùng sán lá ruột, một loại sán lá ký sinh trong ruột người và một số gia súc, nhất là loài lợn.
Rau muống nước
Rau muống nước ăn giòn, ngọt và đậm hơn rau muống cạn nên được người tiêu dùng ưa chuộng. Tuy nhiên, rau muống trồng dưới nước bẩn chứa rất nhiều giun sán.
http://www.tinmoi.vn/chi-mat-cac-lai-rau-chua-nhieu-giun-san-nhat-011342054.html
Fanpage
Youtube


















