Điểm báo điện tử ngày 19/10/2015
19/10/2015
0
Phòng bệnh sốt xuất huyết cho trẻ em
- Bệnh sốt xuất huyết xảy ra quanh năm, thường gia tăng vào mùa mưa. Bệnh gặp ở mọi lứa tuổi nhưng phổ biến là trẻ em. hiện tại chưa có thuốc đặc trị sốt xuất huyết, nên việc phòng bệnh là hết sức quan trọng.
Về triệu chứng: bệnh sốt xuất huyết Dengue ở trẻ em, có biểu hiện đa dạng và phức tạp, diễn biến nhanh từ nhẹ đến nặng. Bệnh thường khởi phát đột ngột và diễn biến qua ba giai đoạn: giai đoạn sốt, giai đoạn nguy hiểm và giai đoạn hồi phục.
Giai đoạn sốt trẻ em thường là sốt cao đột ngột, liên tục, trẻ nhỏ thí bứt rứt, quấy khóc, trẻ lớn hơn thì than nhức đầu, chán ăn, buồn nôn, da sung huyết, đau cơ, đau khớp, nhức hai hố mắt; nghiệm pháp dây thắt dương tính, thường có chấm xuất huyết ở dưới da, chảy máu chân răng hoặc chảy máu cam. Giai đoạn này xét nghiệm máu thì dung tích hồng cầu (Hematocrit) thường là trị số bình thường, số lượng tiểu cầu bình thường hoặc giảm dần, số lượng bạch cầu thường giảm. Sau giai đoạn này, trẻ đi vào giai đoạn nguy hiểm, thường rơi vào ngày thứ 3 - 7 của bệnh. Biểu hiện trẻ có thể còn sốt hoặc đã giảm sốt, có thể có các biểu hiện như: thoát huyết tương do tăng tính thấm thành mạch, thường kéo dài 24 - 48 giờ, có thể tràn dịch ở màng phổi, màng bụng, phù nề mi mắt, gan to. Nếu thoát huyết tương nhiều sẽ dẫn đến sốc, với các biểu hiện vật vã, bứt rứt hoặc li bì, lạnh đầu chi, da lạnh ẩm, mạch nhanh nhỏ, huyết áp kẹt, hiệu số huyết áp tối đa và tối thiểu ≤ 20 mmHg, tụt huyết áp hoặc không đo được huyết áp, tiểu ít; xuất huyết dưới da, các nốt xuất huyết rải rác hoặc chấm xuất huyết thường ở mặt trước hai cẳng chân và mặt trong hai cánh tay, bụng, đùi, mạng sườn hoặc mảng bầm tím; xuất huyết ở niêm mạc như: chảy máu mũi, lợi, tiểu ra máu.
Cũng cần nên nhớ rằng, xuất huyết không phải là dấu hiệu bắt buộc của bệnh, bởi có trẻ tuy mang bệnh nhưng lại hoàn toàn không có triệu chứng xuất huyết. Nên dù có hoặc không triệu chứng xuất huyết thì bệnh vẫn có thể dẫn tới một biến chứng vô cùng nguy hiểm, có thể khiến trẻ tử vong, đó là sốc, với một hội chứng gồm ba tình trạng suy giảm: giảm tri giác, giảm nhiệt độ và giảm huyết áp. Giai đoạn này xét nghiệm máu thấy số lượng tiểu cầu giảm dưới 100.000/mm3, trường hợp nặng có thể có rối loạn đông máu.
Đến giai đoạn phục hồi, sau giai đoạn nguy hiểm 48 - 72 giờ, trẻ hết sốt, toàn trạng tốt lên, thèm ăn, huyết áp ổn định và tiểu nhiều; xét nghiệm máu số lượng bạch cầu máu thường tăng lên sớm sau giai đoạn hạ sốt, số lượng tiểu cầu dần trở về bình thường, nhưng muộn hơn so với số lượng bạch cầu.
Về xử trí, tránh tuyệt đối không dùng Aspirin để hạ sốt, vì tác dụng phụ của thuốc có thể gây xuất huyết sớm và nặng hơn. Không cạo gió. Nên cho trẻ nhập viện ngay nếu trong quá trình theo dõi trẻ có một trong các dấu hiệu: sốt quá cao, xuất huyết lan rộng, chảy máu cam, chảy máu chân răng; tay - chân lạnh, trẻ đang tỉnh táo bỗng trở nên lừ đừ, có khi vật vã, đau bụng dữ dội, da trẻ đổi màu. Do bệnh sốt xuất huyết Dengue ở trẻ em có biểu hiện đa dạng và phức tạp, diễn biến nhanh từ nhẹ đến nặng, nên bậc cha mẹ cần quan tâm để phát hiện bệnh sớm đưa đến cơ sở y tế để được chẩn đoán sớm và điều trị kịp thời tránh chủ quan, nguy hiểm đến tính mạng của trẻ.
Về phòng bệnh: cần cho trẻ mặc quần áo dài tay, ngủ mùng cả ban đêm lẫn ban ngày, không để trẻ nơi thiếu ánh sáng, ẩm thấp để tránh muỗi đốt, thoa thuốc chống muỗi lên những vùng da lộ ra ngoài để bảo vệ trẻ mọi lúc, cả ngày lẫn đêm.
Đậy kín các lu, hủ, bể chứa nước, không tạo điều kiện cho muỗi phát triển. Dọn dẹp nhà cửa ngăn nắp, sạch thoáng, không treo quần áo làm chỗ cho muối trú đậu, thay nước bình bông mỗi ngày, đổ dầu hôi hoặc pha nhiều muối vào chén nước chống kiến chân tủ thức ăn để triệt nơi sinh sản của muỗi.
Có thể dùng thuốc diệt muỗi hoặc nhang trừ muỗi; khi vào mùa mưa cần xịt thuốc chống, xua đuổi muỗi, nhất là đối với trẻ em, người có tiền sử dị ứng nặng.
Tránh tuyệt đối không dùng Aspirin để hạ sốt
Giai đoạn nguy hiểm thường rơi vào ngày thứ 3 - 7 của bệnh
Sốt xuất huyết Dengue là một bệnh truyền nhiễm cấp tính do virút Dengue gây nên bệnh lây theo đường máu. Trung gian truyền bệnh là muỗi Aedes aegypti. Bệnh có biểu hiện lâm sàng chủ yếu là sốt cấp diễn và xuất huyết với nhiều dạng khác nhau, nhưng thể nặng có sốc do giảm khối lượng máu lưu hành, điều trị không kịp thời có thể dẫn đến tử vong. Hiện tại chưa có thuốc đặc trị, nên phòng bệnh là giải pháp tốt nhất.
http://suckhoedoisong.vn/me-va-be/phong-benh-sot-xuat-huyet-cho-tre-em-20151008143600926.htm
Thanh Thảo bày cách chống muỗi, phòng sốt xuất huyết
Mẹ Dâu trồng nhiều khóm sả quanh nhà và chiết vài cây vào một chiếc chậu nhỏ để ở góc phòng, có tác dụng đuổi muỗi.
"Từ đầu năm đến nay, trên cả nước có 47.000 ca sốt xuất huyết, trong đó 30 ca tử vong tập trung tại miền Nam và miền Trung. Con số này có xu hướng còn tiếp tục gia tăng trong thời gian sắp tới" - MC Thanh Thảo cho biết cô luôn theo dõi thông tin về diễn biến dịch sốt xuất huyết trong thời gian vừa qua và đặc biệt lo lắng cho hai con nhỏ vì các bé rất dễ bị muỗi đốt. "Có hôm mình đưa bé ra ngoài ăn, mới 10 phút mà đã bị tới 16 nốt muỗi đốt", cô kể.
Theo Thanh Thảo, trong khi ở miền Bắc, Trung, bệnh chỉ xuất hiện nhiều theo mùa (vài tháng trong năm) thì ở miền Nam, sốt xuất huyết lại hầu như quanh năm và hiện tại đang là cao điểm. Vì thế, để phòng bệnh cho các bé, bà mẹ hai con chú trọng tới khâu giữ gìn vệ sinh và hạn chế muỗi đốt các bé. Trên trang cá nhân, Thanh Thảo chia sẻ các biện pháp phòng chống hữu hiệu của mình, bao gồm:
- Trồng nhiều khóm sả quanh nhà hoặc chiết một vài cây vào chiếc chậu nhỏ mang đặt góc phòng. Để phát huy tác dụng, các mẹ có thể vò cho lá sả hơi dập ra để toả mùi đuổi muỗi.
- Dọn dẹp những vật dụng bị đọng nước ở quanh nhà (nơi ủ muỗi).
- Bố mẹ cũng có thể tìm mua máy đuổi muỗi xài bằng tinh dầu (của Nhật) để trong phòng cho con. Mẹ Dâu không dùng nhang muỗi vì khói nhang không tốt cho bé và dễ bị bỏng. Thuốc xịt muỗi thì dùng vào lúc các con đã đi học hay lúc con không có ở nhà, mẹ Dâu xịt một vòng rồi mở cửa dọn dẹp đồ đạc cho thoáng. Thanh Thảo cho biết khoảng 4-6 tiếng thì thuốc sẽ hết tác dụng.
- Tăng cường cho con nước cam, nước trái cây, động viên con chơi những trò năng động (hạn chế ôm ipad, điện thoại ngồi một góc vì đó là tạo điều kiện cho muỗi đến gần).
- Thường xuyên thoa kem, gel chống muỗi cho các bé. Những bé dưới một tuổi, da còn non nớt nên các mẹ cần cẩn thận, chọn loại nào dùng được cho trẻ sơ sinh.
- Khi con có dấu hiệu mệt mỏi, chán ăn, sốt là lúc bố mẹ phải theo dõi kỹ. Bố mẹ lau mát cho con và dùng thuốc hạ sốt nếu cần (tránh lạm dụng).
- Cho con đi khám ngay nếu thấy tình trạng sốt kéo dài đến ngày thứ hai.
Chia sẻ của Thanh Thảo đã nhận được nhiều sự quan tâm của bố mẹ. Một số phụ huynh cũng đóng góp thêm cách chống muỗi của mình. Bạn Anh Thy Trần cho biết: "Muỗi thường chích vào lúc 5h-7h sáng và 17h-19h chiều nên các mẹ lưu ý khi cho con chơi thì nhớ thoa thuốc muỗi phòng tránh. Cạnh nhà mình có anh bác sĩ bệnh viện Nhi Đồng, anh ý nói như vậy đó nên các mẹ cho bé chơi hay nằm ngủ thì lưu ý bé một chút".
Bạn Hoàng Long thì lại chỉ cách chống muỗi hiệu quả bằng củ tỏi. "Các bạn mua của tỏi về đập dập ra, lấy đồ đựng để trong phòng, muỗi không vào nhà đượcc. Muỗi kỵ củ tỏi. Mọi người làm theo hướng dẫn của mình đi, đừng dùng thuốc có hại cho sức khỏe trẻ con".
http://ngoisao.net/tin-tuc/gia-dinh/thanh-thao-bay-cach-chong-muoi-phong-sot-xuat-huyet-3297988.html
Giải pháp tài chính cho thuốc điều trị HIV/AIDS
Hiện khoảng 80% kinh phí cho phòng, chống HIV/AIDS tại Việt Nam được viện trợ từ các tổ chức quốc tế. Khi các dự án viện trợ kết thúc, bảo hiểm y tế sẽ đóng vai trò là nguồn chi trả chính cho người nhiễm HIV điều trị bằng ARV.
Mục tiêu 90-90-90 của Liên hợp quốc
Để đạt được mục tiêu toàn cầu kết thúc đại dịch HIV/AIDS vào năm 2030, Liên hợp quốc đã kêu gọi các quốc gia cần nỗ lực nhiều hơn nữa để có thể hiện thực hóa Mục tiêu 90-90-90 trong phòng, chống HIV/AIDS đến năm 2020 là: 90% số người nhiễm HIV biết tình trạng nhiễm của họ, 90% số người được chẩn đoán nhiễm HIV được duy trì điều trị ARV liên tục, 90% số người được điều trị ARV ức chế được virus ở mức thấp.
Việt Nam là quốc gia đầu tiên trong khu vực châu Á hưởng ứng mục tiêu 90-90-90 của Liên hợp quốc. Đạt được mục tiêu này sẽ là bước đà tốt để có thể kết thúc đại dịch HIV/AIDS vào năm 2030.
Ở Việt Nam, công cuộc phòng, chống HIV/AIDS 25 năm qua đã đạt được rất nhiều thành tựu khả quan. Trong 5 năm gần đây, thống kê về dịch HIV/AIDS có xu hướng giảm cả ở 3 tiêu chí: số người nhiễm mới, số bệnh nhân chuyển sang AIDS và số tử vong do AIDS. Tuy nhiên, nhìn vào thực tế, những chuyển biến đó là chưa đủ để đạt được mục tiêu 90-90-90 nhất là số người phát hiện nhiễm HIV được điều trị ARV chỉ chưa đạt tới 50%.
Tại sao cần điều trị ARV?
ARV là thuốc điều trị HIV/AIDS, có tác dụng ức chế sự phát triển của virusvà làm chậm quá trình chuyển sang giai đoạn AIDS. Thuốc ARV đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu 90-90-90 của Liên hợp quốc.
Dùng ARV cho người có HIV là một trong những biện pháp hiệu quả để điều trị, kiểm soát HIV/AIDS, giúp cải thiện sức khoẻ và kéo dài thời gian sống. Theo báo cáo tháng 5/2015 của UNAIDS, ARV làm giảm 53% nguy cơ chuyển sang giai đoạn AIDS và mắc các bệnh nhiễm trùng cơ hội, làm giảm đến 96% khả năng lây nhiễm HIV qua đường tình dục sang bạn tình.
Bên cạnh đó, các nghiên cứu về sự lây truyền HIV từ mẹ sang con cũng đem lại nhiều dấu hiệu khả quan. Tại Việt Nam, những chính sách của Nhà nước trong điều trị dự phòng lây truyền HIV đã làm giảm đáng kể số trẻ nhiễm HIV từ mẹ. Điển hình là hiệu quả can thiệp tại TP.HCM, tỷ lệ lây truyền HIV từ mẹ sang con giảm xuống dưới 5% vào năm 2010 và chỉ còn dưới 3% kể từ năm 2011.
Như vậy, có thể khẳng định ARV là một phương pháp hiệu quả giúp kìm hãm sự lây lan của HIV và từ đó tiến tới loại trừ đại dịch trong tương lai. Và muốn đạt được mục tiêu 90% người nhiễm HIV được điều trị bằng thuốc ARV thì chắc chắn cần phải đạt được mục tiêu thứ nhất là 90% người nhiễm HIV biết tình trạng nhiễm bệnh của mình.
Ngân sách đảm bảo - Yếu tố tiên quyết
Hiện nay, khoảng 80% kinh phí cho phòng, chống HIV/AIDS tại Việt Nam là được viện trợ từ các tổ chức quốc tế như Quỹ Toàn cầu, PEPFAR, World Bank… Tuy nhiên, một số dự án viện trợ đã kết thúc, một số dự án còn lại đang giảm mạnh kinh phí.
Cả nước có khoảng 100.000 người nhiễm HIV đang được điều trị miễn phí thuốc ARV (chiếm hơn 40% tổng số người nhiễm HIV). Mỗi năm, số tiền chi trả cho thuốc ARV là khoảng 420 tỉ đồng, đa phần từ nguồn tài trợ quốc tế. Tuy nhiên, các nguồn tài trợ này đang cắt giảm và đến cuối năm 2017 sẽ rút đi hoàn toàn.
Đây là thách thức lớn cho việc đạt được mục tiêu điều trị ARV. Trong thời gian tới, bảo hiểm y tế sẽ đóng vai trò là nguồn chi trả chính cho người nhiễm HIV điều trị bằng ARV. Vì vậy nếu không tham gia bảo hiểm y tế thì sắp tới người bệnh sẽ phải tự chi trả toàn bộ tiền thuốc cũng như các dịch vụ điều trị liên quan đến HIV. Từ đó sẽ có nhiều bệnh nhân không có tiền điều trị dẫn đến bỏ thuốc, kéo theo nguy cơ tử vong.
Do đó, ngay từ lúc này, cần phải có những giải pháp tổng thể để đảm bảo cho công tác phòng, chống HIV/AIDS ở nước ta. Trước mắt, Chính phủ cần có ngân sách cho ARV để bù đắp thiếu hụt kinh phí khi tài trợ quốc tế rút đi. Giải pháp lâu dài là người nhiễm HIV tham gia vào bảo hiểm y tế. Việc người nhiễm HIV chủ động mua bảo hiểm là điều kiện tiên quyết để có thể đảm bảo việc điều trị ổn định và lâu dài.
http://vietnamnet.vn/vn/doi-song/267053/giai-phap-tai-chinh-cho-thuoc-dieu-tri-hiv-aids.html
Dừng viện trợ thuốc cho bệnh nhân HIV:
Nguy cơ đại dịch bùng phát trở lại?
- Thuốc kháng virus HIV (ARV) được sử dụng tại Việt Nam từ năm 2004 đã giúp hàng trăm nghìn bệnh nhân chiến đấu với căn bệnh này. Từ 400 người, đến nay sau hơn 10 năm đã có khoảng hơn 100.000 người nhiễm HIV ở Việt Nam được điều trị bằng ARV, 95% kinh phí cho nguồn thuốc này nhờ vào viện trợ của các tổ chức quốc tế. Vì vậy, thông tin các tổ chức quốc tế sẽ giảm dần và tiến tới dừng viện trợ cho bệnh nhân HIV trong năm 2017 tới đã khiến nhiều người lo lắng.
Bị cắt giảm hơn 400 tỷ đồng mỗi năm
Nghiên cứu của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) cho rằng, điều trị ARV làm giảm 96% nguy cơ lây truyền HIV qua quan hệ tình dục và giảm tỷ lệ lây truyền HIV từ mẹ sang con xuống dưới 2%, đồng thời còn làm giảm gánh nặng điều trị cho gia đình, ngành y tế. Hiện nước ta đã có hơn 312 phòng khám ngoại trú và 526 điểm cấp phát thuốc ARV tại xã, phường. Chương trình điều trị cũng đã được triển khai tại 23 trại giam và 33 trung tâm chữa bệnh giáo dục lao động xã hội. Theo thống kê của Cục phòng chống HIV/AIDS (Bộ Y tế), hiện nay dịch HIV trên toàn quốc đã có dấu hiệu chững lại, giảm tới 50% số ca nhiễm mới.
Số ca tử vong vì AIDS cũng đã giảm từ 150.000 xuống còn 11.000 trường hợp/năm. Cộng đồng quốc tế đánh giá, nếu có đủ nguồn lực và đầu tư một cách hiệu quả vào công tác dự phòng, điều trị, Việt Nam hoàn toàn có cơ hội xóa bỏ HIV vào năm 2030.
Tuy nhiên, chúng ta đang và sẽ phải đối mặt với những khó khăn không hề nhỏ. Đầu tiên là sự thay đổi về cơ chế, chính sách đã khiến chương trình phòng chống HIV/AIDS không còn là mục tiêu Quốc gia, mà chỉ là một dự án trong chương trình Dân số - KHHGĐ, do vậy ngân sách chi cho chương trình cũng bị hạn chế. Đặc biệt là thời gian tới, hàng loạt tổ chức quốc tế sẽ giảm dần và tiến tới dừng viện trợ cho hoạt động phòng, chống HIV của Việt Nam.
Theo đúng lộ trình, từ tháng 3-2016, các nhà tài trợ sẽ không tiếp nhận bệnh nhân mắc HIV mới và đến hết năm 2017 các khoản viện trợ nêu trên sẽ chấm dứt hoàn toàn. Nhiều người lo lắng nếu không có những giải pháp tích cực để bù lại khoảng hụt này thì việc điều trị gián đoạn và bùng phát trở lại đại dịch HIV là kịch bản có thể xảy ra.
Không để xảy ra kịch bản xấu
Người nhiễm HIV/AIDS nếu không có thuốc ARV để uống sẽ tăng khả năng mắc các bệnh nhiễm trùng cơ hội và sẽ tử vong; nếu không được uống thường xuyên và liên tục sẽ gây nguy cơ HIV kháng thuốc dẫn đến chi phí điều trị tăng gấp 7-8 lần. Việc gia tăng số người nhiễm HIV và nhiễm các bệnh nhiễm trùng cơ hội sẽ làm tăng chi phí y tế, chi phí an sinh xã hội mà người nhiễm HIV hoặc Chính phủ phải chi trả. Vì vậy, việc duy trì điều trị HIV bằng thuốc ARV luôn cần phải được đảm bảo.
Ông Nguyễn Hoàng Long, Cục trưởng Cục Phòng chống HIV/AIDS cho biết: “Thực tế đã chứng minh, không có quốc gia nào mà HIV có thể tự mất đi mà không có đầu tư. Và chúng ta càng đầu tư sớm khi mà HIV còn khu trú ở một số nhóm đối tượng thì càng dễ và càng đỡ tốn kém. Nếu đầu tư muộn sẽ tốn kém và khó khăn hơn. Vì vậy trong điều kiện khó khăn chúng ta vẫn phải tiếp tục duy trì và trong những năm tới còn phải mở rộng hơn nữa”.
Chi phí thuốc ARV điều trị HIV/AIDS tại Việt Nam hiện nay là khoảng 10.000 đồng/ngày/bệnh nhân. Theo tính toán thì nếu nguồn viện trợ bị cắt giảm hoàn toàn, chúng ta sẽ phải cần đến khoảng 420 tỷ đồng mỗi năm cho kinh phí mua thuốc ARV. Việc bệnh nhân HIV tự chi trả cho thuốc là khó khả thi vì hầu hết người nhiễm HIV là những người không có khả năng tự chi trả cho việc điều trị liên tục và suốt đời. Vì vậy khó khăn lớn nhất là làm thế nào chúng ta có đủ nguồn tài chính mua thuốc ARV để tiếp tục cung cấp cho khoảng gần 100.000 người đang được điều trị hiện nay và để mở rộng cho 90% người nhiễm HIV được phát hiện, tức là khoảng 200.000 người được điều trị vào năm 2020 như chúng ta đã đặt ra mục tiêu và đã cam kết.
Theo ông Nguyễn Hoàng Long, trước mắt Chính phủ cần đầu tư nguồn Ngân sách Nhà nước để mua thuốc ARV bù đắp vào các thiếu hụt do sự cắt giảm tài trợ của các tổ chức quốc tế. Song song với đó, cần thực hiện các biện pháp để có thể chi trả điều trị ARV qua bảo hiểm y tế. Bản thân người nhiễm HIV cũng cần phải chia sẻ với Nhà nước, bằng cách mua BHYT. “Theo thống kê của chúng tôi thì chỉ có 30% số người nhiễm HIV điều trị ARV là có bảo hiểm. Trong thời gian tới chúng ta phải phát triển tỷ lệ có bảo hiểm cao hơn nữa, phấn đấu đến 2020 khoảng 70-80% số người nhiễm HIV điều trị ARV có bảo hiểm y tế để có nguồn tài chính chi trả”.
Một giải pháp khác cũng được đưa ra, đó là khuyến khích các công ty cung ứng thuốc ARV tập trung sản xuất các mặt hàng thuốc chủ yếu cho người nhiễm HIV/AIDS. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, Việt Nam tuy có khả năng sản xuất thuốc ARV trong nước, nhưng mới chỉ sản xuất được thuốc phác đồ điều trị bậc 1 trong khi đó, số bệnh nhân cần thuốc phác đồ điều trị bậc 2 lại đang gia tăng.
Rùng mình hàm răng của trẻ nghiện nước ngọt có ga
Cocacola, Pepsi hay các loại nước ngọt có ga khác không chỉ làm tăng nguy cơ béo phì và tiểu đường ở mọi lứa tuổi, mà còn là nguyên nhân hủy hoại hàm răng của nhiều trẻ em.
Bác sĩ phẫu thuật nha khoa Sophie Beaumont làm việc tại Bệnh viện Hoàng gia nha khoa ở Melbourne, Australia tiết lộ, trong năm nay, cô đã chứng kiến hơn 1.000 trẻ em phải gây mê toàn thân để nhổ vài chiếc răng sâu một lúc. Điểm chung của hầu hết các bé bị sâu răng cả hàm là do thường xuyên uống nước ngọt có ga.
Dựa trên thành phần ở vỏ lon, một lon Coca Cola 330 ml có lượng đường nhiều hơn so với lượng đường tối đa nên sử dụng trong một ngày của trẻ.
Tiến sĩ Beaumont nói: “Chúng tôi không khuyến khích việc nhổ răng sâu ở trẻ em, đặc biệt là khi trẻ chưa đến tuổi thay răng. Chỉ trong trường hợp răng bị sâu quá nặng và có nguy cơ lây lan sang những chiếc răng bên cạnh mới bắt buộc phải nhổ. Răng sâu khiến các bé bị đau nhức cả đêm không ngủ được, và mỗi lần như vậy bố mẹ lại đưa con đến nha sĩ. Điều này khiến trẻ có ấn tượng tiêu cực với các nha sĩ."
Tiến sĩ Rob Beaglehole, bác sĩ nha khoa chính ở trạm y tế quận Nelson Marlborough và các nha sĩ khác cho biết, bệnh nhân đến khám sâu răng có không ít trẻ còn dưới 18 tháng. Những em bé này còn chưa thể tự cầm cốc uống nước, đã được cho uống Coca-cola hoặc Pepsi bằng bình sữa. Các nhà sản xuất vì muốn đẩy mạnh tiêu thụ mà tích cực đẩy mạnh các chiến dịch quảng cáo đến đối tượng là trẻ em, còn các bậc phụ huynh lại quá dễ dãi với con cái.
http://danviet.vn/gia-dinh/rung-minh-ham-rang-cua-tre-nghien-nuoc-ngot-co-ga-634456.html
Suýt điếc do... thuốc
- Gần đây Hoàng thấy ù tai, sức nghe kém và mấy ngày nay gần như bị điếc đặc. Anh đi khám bệnh tại phòng khám tai mũi họng thì mới biết là mình bị điếc đột ngột do dùng thuốc nhỏ tai.
Gần đây Hoàng thấy ù tai, sức nghe kém và mấy ngày nay gần như bị điếc đặc. Anh đi khám bệnh tại phòng khám tai mũi họng thì mới biết là mình bị điếc đột ngột do dùng thuốc nhỏ tai.
Chả là Hoàng đi bơi, bị nước vào tai gây viêm lâu ngày không khỏi. Ra hiệu thuốc mua lọ thuốc nhỏ tai polydexa về nhỏ được một thời gian thì Hoàng thấy hiện tượng ù tai, chóng mặt. Anh tiếp tục nhỏ thuốc thì dẫn đến mất thính lực...
Bác sĩ cho biết, polydexa là thuốc nhỏ tai, có tác dụng rất tốt với viêm ống tai ngoài nhưng trong thành phần những thuốc này có chất dễ gây ngộ độc tai trong. Do đó, phần hướng dẫn sử dụng thuốc ghi rõ “không sử dụng thuốc trong trường hợp màng nhĩ bị thủng, chỉ được sử dụng cho viêm tai giữa cấp màng nhĩ không thủng”. Nhưng do Hoàng không đi khám bệnh, không biết tình trạng viêm tai của mình như thế nào mà tự ý mua thuốc về dùng nên không biết về tác dụng phụ này cũng như không biết mình dùng thuốc nhỏ tai có đúng hay không.
Bác sĩ cho biết, các triệu chứng của điếc do thuốc không dễ xác định. Chúng có thể xuất hiện ngay sau lần dùng thuốc đầu tiên, nhưng có thể xuất hiện muộn, thậm chí là khi đã sử dụng hết cả liều điều trị. Các tổn thương tai có thể xảy ra cả hai bên hoặc một bên tai. Do vậy, khi dùng bất kỳ thuốc nào mà có các triệu chứng ù tai, chóng mặt, nghe kém thì cần dừng thuốc và đến cơ sở y tế chuyên khoa tai thần kinh để kiểm tra và điều trị kịp thời. Nếu người bệnh được phát hiện muộn sẽ rất khó hồi phục thính lực. Nhất là người dùng thuốc để điều trị viêm tai thì càng cần chú ý những biểu hiện nói trên. Tuyệt đối không tự ý dùng thuốc, thậm chí ngay cả khi có bác sĩ kê đơn thì vẫn cần đọc kỹ hướng dẫn sử dụng trước khi dùng. Người bệnh không nên thụ động hoàn toàn khi dùng thuốc để tránh những sự cố đáng tiếc.
Hoàng nghe xong cũng thấy hoảng, chẳng may mà anh bị điếc vĩnh viễn thì làm thế nào?
May mà Hoàng kịp thời đi khám bệnh, nhưng cũng phải mất một thời gian khá dài để điều trị thì thính lực của anh mới bắt đầu phục hồi dần. Thế là Hoàng được một bài học kinh nghiệm về dùng thuốc, từ nay thì xin chừa thói quen chạy thẳng ra hiệu thuốc mà không cần đi khám bệnh...
http://suckhoedoisong.vn/duoc-si-tu-van/suyt-diec-do-thuoc-20151019125555713.htm
Đưa vào sử dụng các thiết bị tân tiến giúp phát hiện, điều trị ung thư
- Chào mừng thành công Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII, sáng nay (19/10), Bệnh viện Đa khoa Hà Tĩnh tổ chức lễ khai trương và chuyển giao kỹ thuật hệ thống máy SPECT hai đầu thu và máy XQ vú.
Hệ thống máy xạ hình SPECT hai đầu thu là kỹ thuật ghi nhận hình ảnh bằng y học hạt nhân thường được áp dụng để chẩn đoán bệnh của các tuyến nội tiết (tuyến giáp, cận giáp...), thần kinh, tim mạch, tiêu hóa, gan mật, thận tiết niệu... Ngoài các ứng dụng chẩn đoán hình ảnh thông thường, máy SPECT còn có vai trò đặc biệt trong ngành ung bướu.
Máy SPECT có thể chụp cắt lớp (như máy CT) và đặc biệt có thể quét toàn thân (ghi hình toàn thân), chức năng này không có ở máy CT và máy cộng hưởng từ. Với hình ảnh SPECT, các bác sĩ có thể tìm thấy những tổn thương, biến đổi bất thường rất nhỏ trong cơ thể người bệnh. Do đó, ảnh SPECT cho phép phát hiện sớm bệnh ung thư, tái phát và di căn trước các phương pháp khác như: CT, cộng hưởng từ và siêu âm…; đặc biệt là dùng để đánh giá hiệu quả điều trị. Chẳng hạn, sau một đợt điều trị hóa chất hoặc tia xạ, người ta sử dụng SPECT kiểm tra xem có hiệu quả không và mức độ đến đâu để giúp cho thầy thuốc xem xét cần tiếp tục điều trị hay thay đổi loại hóa chất, liều tia xạ để cho kết quả tốt hơn...
Máy XQ tuyến vú nhằm hỗ trợ chẩn đoán bệnh lý tuyến vú. Máy chụp được ở 2 chế độ là chế độ tầm soát và chế độ chẩn đoán. Hiệu quả lâm sàng của việc phối hợp thêm với hình ảnh XQ cắt lớp phân giải cao là sử dụng để chẩn đoán các bệnh vú được khuyến cáo vì độ nhạy cao hơn XQ vú thường quy và có thể nhìn thấy từng chi tiết nhỏ của tổn thương. Độ đặc hiệu bị giảm vì thấy được những tổn thường mà không thể quan sát được trên phim XQ vú thường quy.
Theo Bác sỹ Nguyễn Viết Đồng - Giám đốc Bệnh viện Đa khoa tỉnh, việc khai trương và chuyển giao hệ thống SPECT hai đầu thu và máy chụp XQ vú đánh dấu một bước ngoặt trong thực hiện Đề án Bệnh viện vệ tinh và Đề án phát triển bệnh viện giai đoạn 2015-2020. Với các thiết bị hiện đại này, bệnh viện sẽ nâng cao chất lượng điều trị nội khoa, triển khai các kỹ thuật mới như xạ trị chẩn đoán và điều trị ung thư, phẫu thuật ung thư; phát hiện u ác tính lúc còn nhỏ hoặc ở giai đoạn sớm, tạo thêm cơ hội cho bệnh nhân được điều trị khỏi bệnh…
Cảnh giác với nói khó, tê bì, mờ mắt
Theo chuyên gia tim mạch, hẹp động mạch cảnh là nguyên nhân hàng đầu gây đột quỵ. Tuy nhiên, biểu hiện ban đầu của bệnh thường bị “bỏ qua” do dễ nhầm lẫn với các bệnh khác.
Dễ nhầm với thiểu năngtuần hoàn não
Mới đây, khoa Can thiệp tim mạch, BV Hữu nghị Việt Xô tiếp nhận điều trị cho bệnh nhân Nguyễn Văn L. (75 tuổi, Hưng Yên) vào viện trong tình trạng liệt nửa người phải và nói khó. Kết quả chụp cắt lớp dãy sọ não có hình ảnh hẹp nặng động mạch cảnh, nhiều ổ nhồi máu não nhỏ rải rác bán cầu não trái. Theo người nhà bệnh nhân, trước đó, đã có lần ông cụ cho biết thấy chân tay yếu dại đi và mờ mắt, nhưng chỉ thoáng qua nên cả gia đình không lưu tâm.
Còn trường hợp của bệnh nhân Vũ Văn Th. (55 tuổi, trú tại Hai Bà Trưng, Hà Nội) nhập viện trong tình trạng hôn mê sau khi bị ngã trong nhà tắm. Kết quả chụp cộng hưởng từ phát hiện anh Th. bị đột quỵ não mà nguyên nhân là do hẹp động mạch cảnh. Theo vợ anh Th., trước đó, anh đã có lần choáng, ngất, tuy nhiên, khi đi khám lại được chẩn đoán thiểu năng tuần hoàn não.
Trao đổi với PV Báo Giao thông, BS. Bùi Long, Trưởng khoa Tim mạch can thiệp, BV Hữu nghị Việt Xô cho biết, có tới 25% bệnh nhân đột quỵ có nguyên nhân từ hẹp động mạch cảnh. Điều đáng nói, việc phát hiện hẹp động mạch cảnh lại rất hạn chế, do các biểu hiện bệnh không rõ ràng, dễ nhầm với bệnh khác khiến bệnh tích lũy, tăng nặng. BS. Long lưu ý, bệnh nhân có thể nghĩ tới mắc hẹp động mạch cảnh khi có một trong những biểu hiện như: Đột ngột bị yếu, tê bì nửa mặt, nửa người hoặc chỉ yếu tay/chân, nói khó hoặc không nói được, mất thị lực một bên... sau vài phút đến vài giờ thì hồi phục hoàn toàn (cơn thiếu máu não thoáng qua) hoặc không hồi phục (nhồi máu não).
“Thậm chí, có nhiều bệnh nhân chỉ có biểu hiện choáng, ngất, đi khám nhiều nơi được chẩn đoán là thiểu năng tuần hoàn não, điều trị nội khoa đơn thuần triệu chứng thường không hết. Với những bệnh nhân có nguy cơ cao như nam giới lớn tuổi, tăng huyết áp, đái tháo đường, tăng mỡ máu, bệnh mạch vành, hút thuốc lá thì lưu ý tình trạng chóng mặt có thể là triệu chứng của bệnh động mạch cảnh”, BS. Long khuyến cáo.
Có thể can thiệp sớm phòng tránh đột quỵ
Theo BS. Long, hẹp động mạch cảnh do xơ vữa động mạch thường gặp ở những bệnh nhân lớn tuổi, tuy nhiên cũng không loại trừ ở người trẻ. Khi bệnh nhân có triệu chứng lâm sàng nghi ngờ hẹp động mạch cảnh, cần được chỉ định siêu âm Doppler động mạch cảnh hai bên. Đây là phương pháp đơn giản và nhẹ nhàng nhất có thể phát hiện hẹp hoặc tắc động mạch cảnh đoạn ngoài sọ. Chụp cắt lớp vi tính đa dãy hay cộng hưởng từ mạch máu có thể được sử dụng để đánh giá chính xác hơn tổn thương động mạch cảnh, đồng thời đánh giá hệ động mạch trong não. Cuối cùng, chụp mạch số hóa xóa nền (DSA) là phương pháp chính xác nhất đánh giá tổn thương động mạch cảnh và thường làm khi có chỉ định can thiệp động mạch cảnh.
“Việc phát hiện, can thiệp kịp thời động mạch cảnh giúp bệnh nhân hoàn toàn có thể phòng tránh được đột quỵ”, BS. Long cho biết. Để điều trị triệt để hẹp động mạch cảnh, hiện có hai phương pháp chính: Phẫu thuật bóc lớp nội mạc động mạch cảnh (CEA), can thiệp nội mạch nong bóng và đặt giá đỡ (stent) động mạch cảnh (CAS). Tùy vào từng trường hợp cụ thể, bác sỹ sẽ lựa chọn một trong hai phương pháp điều trị.
Theo đánh giá của các chuyên gia tim mạch, phương pháp can thiệp nội mạch được đánh giá cao vì làm giảm đáng kể nguy cơ nhồi máu não và các cơn thiếu máu não thoáng qua, cấp cứu khẩn cấp cho bệnh nhân nhồi máu não đến sớm do tắc động mạch cảnh do huyết khối. Bệnh nhân không phải phẫu thuật, gây mê. Thời gian theo dõi và nằm viện rút ngắn từ 3-5 ngày.
http://www.baogiaothong.vn/canh-giac-voi-noi-kho-te-bi-mo-mat-d124286.html
Fanpage
Youtube


















