Điểm báo điện tử ngày 25/4/2016
25/04/2016
0
Bộ Y tế: Xác minh thông tin virus Zika gây rối loạn não người lớn
Trước thông tin các nhà khoa học phát hiện ra virus Zika ăn não người có thể gây rối loạn não ở người lớn, Bộ Y tế đang giao cho các bệnh viện nghiên cứu.
Mới đây, các nhà khoa học Brazil vừa phát hiện virus Zika ăn não ngườicó thể gây bệnh viêm não tủy cấp lan tỏa ADEM, tấn công vào não và tủy sống ở người lớn. Về vấn đề này, ông Trần Đắc Phu cho biết, virus Zika không gây ra não ở người lớn mà chỉ gây ra triệu chứng viêm đa rễ dây thần kinh.
Trên Tintuc.vn, Ông Trần Đắc Phu - Cục trưởng Cục Y tế dự phòng (Bộ Y tế) cho biết, virus Zika không gây ra não ở người lớn mà chỉ gây ra triệu chứng viêm đa rễ dây thần kinh.
"Vấn đề này Bộ Y tế giao cho các bệnh viện nghiên cứu nhưng vấn đề đó chưa dễ dàng nên người dân không nên hoang mang, lo lắng. Trước mắt để phòng chống với virus Zika người dân nên có biện pháp diệt muỗi, chống người phụ nữ đang mang thai bị muỗi đốt", ông Phu cho hay.
Để chủ động phòng chống dịch bệnh do virus Zika, Bộ Y tế khuyến cáo phụ nữ đang mang thai hoặc dự định có thai cần thực hiện một số biện pháp sau:
- Phụ nữ có thai cần áp dụng các biện pháp phòng chống muỗi đốt để tránhlây truyền virus Zika và khám thai định kỳ.
- Phụ nữ có thai hoặc dự định có thai không nên đi đến vùng dịch khi không thực sự cần thiết.
- Đối với phụ nữ có thai tại vùng dịch hoặc/và đi về từ vùng có dịch nếu có triệu chứng như sốt, phát ban hoặc các dấu hiệu khác của bệnh cần đến cơ sở y tế để chủ động khai báo về tiền sử đi lại và được khám, tư vấn.
- Phụ nữ mang thai 3 tháng đầu đang sinh sống hoặc đã từng đến vùng có dịch mà có sốt hoặc phát ban và có ít nhất một trong các triệu chứng như đau mỏi cơ/khớp, viêm kết mạc mắt cần xét nghiệm để phát hiện virus Zika.
- Vợ, chồng, bạn tình đang sống hoặc trở về từ vùng dịch nếu có ý định mang thai cần đến cơ sở y tế để khám, tư vấn trước khi quyết định mang thai.
- Người từ vùng dịch trở về cần sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục hoặc không quan hệ tình dục với vợ (bạn tình) trong quá trình mang thai để tránh lây truyền virus Zika cho mẹ và con.
Trao đổi với báo giới, chiều 11/4, ông Trần Đắc Phu, Cục trưởng Cục Y tế dự phòng (Bộ Y tế) cho biết, hai bệnh nhân nhiễm virus Zika đầu tiên tại Việt Nam đã khỏe mạnh và được xuất viện cách đây vài ngày.
Zika- sốt xuất huyết và những triệu chứng cần phân biệt
Sốt xuất huyết và bệnh do virus Zika có các triệu chứng lâm sàng, cùng một loại muỗi truyền bệnh nên rất dễ nhầm lẫn.
Các bác sĩ cho biết, để tránh nhầm lần thì chỉ có thể làm xét nghiệm mới cho kết quả chính xác cuối cùng. Đối với bệnh do virus Zika, tính đến thời điểm này cả nước đã có một số cơ sở y tế hoàn toàn đủ năng lực để xét nghiệm và cho kết quả chính xác như: Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương, Bệnh viện Bệnh Nhiết đới Trung ương, Viện Paster Nha Trang, Viện Paster TPHCM…
Các chuyên gia cho rằng, để chẩn đoán đúng với virus Zika, cần làm 2 phương pháp: chẩn đoán huyết thanh và chẩn đoán phân tử. Trong đó, chẩn đoán huyết thanh sẽ có thể dẫn tới sai số nên chúng ta cần hướng tới chẩn đoán phân tử.
Ngoài ra, các chuyên gia cũng cho rằng, hiện nay nhiều người có triệu chứng lâm sàng giống với căn bệnh sốt xuất huyết, những trong trường hợp âm tính với sốt xuất huyết thì cần phải nghĩ ngay đến virus Zika.
Trao đổi với phóng viên về vấn đề này, ThS.BS Nguyễn Thị Thu Hương (Bệnh viên Đa khoa Medlatec) cho biết, thời gian qua, bệnh viện đã làm các xét nghiệm cho nhiều trường hợp có triệu chứng sốt xuất huyết.
BS Hương cho biết, trong những trường hợp có dấu hiệu như sốt xuất huyết mà xét nghiệm âm tính với sốt xuất huyết, Bệnh viện sẽ ngay lập tức báo về Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương xử lý kịp thời.
Theo ThS.BS Thu Hương, người bệnh bị nhiễm virus Zika có những triệu chứng rất giống với sốt xuất huyết như: sốt, đau cơ, mỏi người... nên rất khó phát hiện bệnh.
“So với sốt xuất huyết thì biểu hiện bệnh do virus Zika nhẹ hơn, 80% không có biểu hiện bệnh. Biểu hiện lâm sàng của sốt xuất huyết thường nặng hơn, từ ngày thứ 2 có thể chảy máu chân răng, chảy máu cam; nặng hơn có thể chảy máu nội tạng, trụy mạch, sốc, nguy cơ tử vong rất cao.
Còn khi nhiễm virus Zika, các triệu chứng thường nhẹ và tự khỏi. Do đó, phụ nữ mang thai có thể không biết họ có bị nhiễm virus Zika hay không.
Thông thường, virus Zika có thời gian ủ bệnh 3-12 ngày. Virus Zika không trực tiếp gây ra tử vong và chưa có kiểm định rõ ràng, nhưng có mối tương quan lớn đối với 2 bệnh đó là: hội chứng não nhỏ và hội chứng viêm đa rễ thần kinh. Hiện cũng chưa có vắc xin phòng virus Zika và cũng chưa có thuốc đặc hiệu điều trị”, Ths Hương cho biết.
Trước đó, Việt Nam đã chính thức công bố 2 trường hợp đầu tiên nhiễm virus Zika ở Việt Nam. Bệnh nhân thứ nhất là một phụ nữ 64 tuổi, cư trú tại phường Phước Hòa, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. Bệnh khởi phát ngày 26/3/2016 với các triệu chứng sốt nhẹ, đau đầu, nổi ban ở hai chân và đau mắt đỏ. Bệnh nhân tự uống thuốc hạ sốt ở nhà nhưng không đỡ.
Đến 28/3/2016, bệnh nhân được người nhà đưa đến khám tại Bệnh viện Nhiệt đới Khánh Hòa. Kết quả xét nghiệm ngày 31/3/2016 tại Viện Pasteur Nha Trang dương tính với virus Zika. Xét nghiệm khẳng định lại tại Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương và Viện Pasteur TP. Hồ Chí Minh ngày 4/4/2016 đều cho kết quả dương tính với virus Zika.
Trường hợp thứ hai, bệnh nhân nữ, 33 tuổi, cư trú ở phường Thạnh Mỹ Lợi, Quận 2, TP. Hồ Chí Minh. Bệnh khởi phát ngày 29/3/2016 với triệu chứng phát ban, viêm kết mạc, mệt mỏi. Bệnh nhân đến khám tại Bệnh viện Đa khoa Quận 2 cùng ngày do lo ngại bị bệnh Rubella.
Nhập viện, kết quả xét nghiệm ngày 31/3 và ngày 1/4/2016 tại Viện Pasteur TP. Hồ Chí Minh dương tính với virus Zika. Sau đó, kết quả xét nghiệm tại Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương ngày 2/4/2016 và của Trường Đại học Nagasaki đặt tại Viện ngày 4/4/2016 cũng cho kết quả dương tính với virus Zika.
Colombia ghi nhận thêm hai trường hợp trẻ sơ sinh mắc bệnh đầu nhỏ
Viện Y tế Quốc gia Colombia (INS), ngày 23/4, thông báo quốc gia này ghi nhận thêm hai trường hợp trẻ sơ sinh mắc bệnh đầu nhỏ liên quan đến virus Zika.
Tính đến thời điểm hiện tại, số trẻ mắc bệnh đầu nhỏ tại Colombia là 44, trong đó 4 trường hợp liên quan đến virus Zika, 18 trường hợp do nguyên nhân khác và 22 ca khác đang được nghiên cứu để tìm ra nguyên nhân.
Cơ quan Y tế Colombia cho biết trong tổng số 72.000 trường hợp nhiễm virus Zika có hơn 2.800 phụ nữ mang thai và quốc gia này đã ghi nhận 304 ca mắc hội chứng Guillain-Barré.
INS dự báo số trường hợp trẻ mắc bệnh đầu nhỏ có thể tăng lên tới 95-300 ca, mắc hội chứng Guillain-Barré là 380 ca và số ca mắc loại virus trên là 200.000 người./.
Vì sao chúng ta không thể ăn quá mặn?
Muối rất cần thiết cho cơ thể con người và bộ não chúng ta được lập trình để cảm thấy "thèm" khoáng chất này. Tuy nhiên, khi lỡ tay bỏ cả vốc muối vào nồi canh, bữa tối của chúng ta coi như "đi tong" vì lưỡi không chịu nổi độ mặn quá mức.
Như vậy, chắc chắn có thứ gì đó đang diễn ra trong bộ não, ngăn cản chúng ta hấp thu quá mức chất khoáng thiết yếu này.
Cơ thể chúng ta sử dụng muối (natri clorua) để điều phối các chất dịch và tạo ra các xung thần kinh. Song, không giống các khoáng chất thiết yếu khác, chẳng hạn như canxi (chất chúng ta tích trữ trong xương), chúng ta không thể cất trữ muối cho sử dụng về sau.
Muối cho vào thực phẩm khiến món ăn thêm đậm đà. Tuy nhiên, chỉ mình vị mặn không thể lý giải đầy đủ sự ám ảnh của chúng ta với muối. Theo Viện khoa học quốc gia Mỹ, natri clorua còn đóng vai trò như một thứ gia vị "cải thiện cảm nhận về tình trạng sền sệt của sản phẩm, tăng cường vị ngọt, che giấu các biểu hiện hóa chất hoặc kim loại và lấp đầy hương vị tổng thể, đồng thời cải thiện độ mạnh của hương vị".
Tuy nhiên, quá nhiều muối chắc chắn không tốt cho con người. Uống nước biển thường xuyên sẽ giết chết chúng ta và một chế độ dinh dưỡng lâu dài chứa nhiều muối cũng đã được phát hiện có liên quan đến bệnh tim, đột quỵ và áp huyết cao. Hấp thu quá nhiều natri clorua cũng tạo gánh nặng lên các quả thận của chúng ta và có thể dẫn đến bệnh sỏi thận.
May mắn là, cơ thể của chúng ta có một cơ chế ngăn cản chúng ta ăn quá nhiều muối một lúc.
Theo lí giải của các chuyên gia, 2 trong 5 hương vị cơ bản đối với con người - vị ngọt và vị umami (vị ngọt của protein) - gây cảm giác thèm ăn, đồng nghĩa với việc chúng có thể gia tăng cảm giác thèm của chúng ta với những thực phẩm giàu calo như quả ngọt hoặc thịt thơm ngon. Hai hương vị khác - vị đắng và vị chua - nhìn chung gây cảm giác khó chịu và ngăn cản chúng ta ăn những loại cây, con độc hại.
Muối đặc biệt ở điểm nó có thể kích hoạt các phản ứng cả thèm ăn và khó chịu, phụ thuộc vào lượng muối chúng ta hấp thu. Chẳng hạn như, một nghiên cứu đăng tải trên tạp chí Nature phát hiện, lượng muối cao xâm chiếm các cảm thụ quan về vị đắng và chua, khiến thực phẩm chứa nhiều muối có hương vị khó chịu.
Cũng giống như nhiều cảm nhận hương vị khác, tình yêu với muối giúp chúng ta vượt qua sự khan hiếm tự nhiên của khoáng chất này trên cạn. Song, không giống xu hướng phàm ăn thực phẩm ngọt và béo của chúng ta thời hiện đại, việc "ghiền" muối của đại đa số mọi người còn bị xu hướng ghét mặn quá mức kiềm chế.
http://khoahocphattrien.vn/khoa-hoc/vi-sao-chung-ta-khong-the-an-qua-man/20160425113232949p1c160.htm
Viêm nhiễm phụ khoa và cách phòng tránh
- Bác sỹ chuyên khoa đã cung cấp các tư vấn hữu ích về nguyên nhân, triệu chứng, chủng loại, cách phòng và chữa các bệnh phụ khoa.
Viêm nhiễm phụ khoa gồm rất nhiều bệnh như: viêm âm hộ, viêm âm đạo, viêm tử cung, viêm lộ tuyến cổ tử cung, viêm ống dẫn trứng, u xơ tử cung… Những căn bệnh này có xu hướng trẻ hóa và xảy ra ngày càng phổ biến. Viêm nhiễm phụ khoa sẽ gây ra hậu quả vô cùng nghiêm trọng cho sức khỏe và hạnh phúc của người phụ nữ. Bên cạnh đó, một vấn đề mà nhiều phụ nữ lo ngại là các bệnh liên quan đến viêm nhiễm phụ khoa khó có thể điều trị một cách dứt điểm.
Bác sỹ chuyên khoa 2 Trần Thị Tuyết Lan (nguyên Trưởng khoa Sản 2, bệnh viện Phụ sản Trung ương) cho biết, có 4 nguyên chính dẫn đến viêm nhiễm phụ khoa: không đủ điều kiện vệ sinh, không biết vệ sinh vùng kín đúng cách; không đảm bảo tốt vệ sinh khi quan hệ vợ chồng; nguồn nước, băng vệ sinh không đảm bảo tiêu chuẩn về vệ sinh, đồ lót ẩm; sử dụng dung dịch vệ sinh không phù hợp.
Nếu không điều trị dứt điểm, bệnh viêm nhiễm phụ khoa sẽ có thể dẫn đến các hậu quả sau: gây khó chịu, làm giảm chất lượng cuộc sống, dẫn đến vô sinh do bị tắc ống dẫn trứng, ung thư vùng sinh dục.
Khi bị viêm nhiễm phụ khoa, người bệnh cần đến cơ sở y tế chuyên khoa thăm khám kịp thời, tuân thủ phác đồ điều trị của bác sỹ, chủ động tìm hiểu nguyên nhân gây bệnh để loại bỏ, điều chỉnh thói quen sinh hoạt để tránh bệnh tái diễn và đi khám sức khỏe định kỳ.
http://vtc.vn/viem-nhiem-phu-khoa-va-cach-phong-tranh.321.616277.htm
Ăn cá chết ở miền Trung nguy hại sức khỏe thế nào?
"Cá chết hàng loạt ở biển miền Trung có thể do chất cực độc, nếu người dân ăn phải cá nhiễm độc sẽ rất nguy hiểm", GS. TSKH. Lê Huy Bá khuyến cáo.
Liên quan đến vụ cá chết hàng loạt ở biển miền Trung, Giáo sư, Tiến sỹ khoa học Lê Huy Bá, nguyên Viện trưởng Viện Khoa học Công nghệ và Quản lý Môi trường thuộc Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh khuyến cáo nếu người dân ăn phải sẽ bị nhiễm độc, rất nguy hiểm.
Theo GS Lê Huy Bá, nguyên nhân cá chết tại 4 tỉnh miền Trung chỉ có thể do "chất cực độc" gây ra chứ không thể do chỉ tiêu phú dưỡng, thiếu oxy như Sở NN&PTNT tỉnh Thừa Thiên - Huế nhận định trước đó.
“Trong hồ thì có thể có chuyện phú dưỡng làm cá chết, nhưng nếu là ven biển thì không thể vì biển là môi trường giao lưu, có gió và sóng, lượng oxy không thiếu hụt như vậy, mà chắc chắn là chất cực độc, từ mức trung bình trở lên, nên mới gây chết nhanh như vậy", ông Bá phân tích.
Trước đó, Tổng cục Môi trường xác định Formosa súc xả đường ống nhưng không thông báo cho địa phương. Khi nhìn vào danh sách các hóa chất mà Formosa mua để súc xả đường ống xả thải, GS. Bá khẳng định đây là những loại nếu dùng trực tiếp thì gây độc ngay.
“Tất cả các hóa chất này, chỉ trừ một số chất làm sạch nước, chống khuẩn, còn lại chất chống gỉ, chống ăn mòn, khử trùng, trung hòa... đều gây độc. Thành phần rất giàu kim loại nặng, rất giàu hóa chất mạch vòng và chất điện tử tự do, gây độc kinh khủng. Nó có thể tạo ra các hợp chất cơ kim rất bền trong nước và rất khó giải độc", ông Bá nói.
Mặc dù chưa thể kết luận được chất độc nào đã khiến cá chết trên diện rộng như vậy vì cần phải “lấy mẫu chất thải, phân tích chất thải là độc chất gì” nhưng ông Bá khuyến cáo nếu người dân ăn phải cá chết do nhiễm độc sẽ rất nguy hiểm.
"Sức chịu đựng của cá khá lớn. Nhất là động vật thủy sinh ở tầng đáy, nó có thể chịu được nhiều kim loại nặng và nó có thể thay đổi hành vi sống và vươn đi chỗ khác ngay lập tức. Nhưng nếu người ta ăn phải cá nhiễm độc thì rất nguy hiểm, như chúng ta uống vào một lượng, làm cho lượng chất độc ảnh hưởng tích tụ trong cơ thể tăng nhanh chóng và gây độc ngay", ông Bá giải thích.
Trước đó, một bé gái đã phải nhập viện cấp cứu vì ngộ độc với các triệu chứng nôn ói, tiêu chảy khi được gia đình cho ăn phải loại cá chết bất thường trôi dạt trên bờ biển. Cụ thể, sáng 20/4, Trạm Y tế xã Quảng Phú (huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình) cho biết vừa tiếp nhận bệnh nhân Trần Thanh Thủy (8 tuổi, người địa phương) vào cấp cứu trong tình trạng ngộ độc thực phẩm.
http://kienthuc.net.vn/doc-30s/an-ca-chet-o-mien-trung-nguy-hai-suc-khoe-the-nao-671721.html
Hiểm họa kháng thuốc kháng sinh!
Kháng thuốc kháng sinh là một vấn đề bức thiết đang đặt ra cho toàn cầu, đặc biệt là ở những quốc gia nghèo và đang phát triển như Việt Nam. Bởi kháng thuốc kháng sinh sẽ dẫn đến tính mạng của con người trở nên bị đe dọa ngay cả khi mắc bệnh chỉ cần điều trị kháng sinh phổ biến là khỏi.
Chết vì kháng thuốc kháng sinh
PGS.TS Nguyễn Thị Xuyên, Thứ trưởng Bộ Y tế khẳng định: “Kháng thuốc hiện nay là vấn đề toàn cầu, đặc biệt nổi trội ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Mỗi năm, thế giới có hàng trăm nghìn người chết do kháng thuốc và phải chi hàng trăm tỉ USD. Vì thế Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) xác định kháng kháng sinh là một mối đe dọa nghiêm trọng, thách thức đối với điều trị trong tương lai.
Có một câu chuyện mà giới y khoa vẫn truyền tai nhau bởi sự trớ trêu đó là một bệnh nhân bị kháng kháng sinh lại là sinh viên dược. Bệnh nhân này bị lao phổi, đã điều trị nhiều loại kháng sinh chuyên dành cho lao như isoniazid, rifampicin, ethambutol, pyrazinamid, streptomycin nhưng không thuyên giảm. Đến nỗi các bác sĩ điều trị phải gọi trường hợp này là “siêu kháng thuốc”.
Chỉ đến khi thông qua các nguồn tin, đầu mối, các bác sĩ mới liên hệ được với bệnh viện chuyên khoa ở Pháp để có được capreomycin, loại thuốc trị lao siêu kháng thuốc hữu hiệu. Do đó sinh viên này đã được trị khỏi bệnh.
Thế nhưng như sinh viên y khoa trên vẫn còn là may mắn bởi ở các bệnh viện tuyến cuối như Bạch Mai, Việt Đức đã có những bệnh nhân tử vong vì kháng thuốc kháng sinh trong khi bị viêm phổi, tiêu chảy, viêm tai…
Theo số liệu thống kê của Tổ chức châu Á nghiên cứu tác nhân vi khuẩn kháng thuốc từ 11 nước Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam, tỷ lệ kháng kháng sinh của vi khuẩn phế cầu gia tăng nhanh chóng. Trong số 685 chủng vi khuẩn S. pneumoniae phân lập được từ người bệnh, có 483 (52,4%) chủng không còn nhạy cảm với penicillin, 23% ở mức trung gian và 29,4% đã kháng với penicillin. Kết quả phân lập cho thấy tỷ lệ kháng penicillin ở Việt Nam cao nhất: 71,4%, tiếp theo là Hàn Quốc: 54,8%, Hongkong: 43,2%. Tỷ lệ kháng erythromycin cũng rất cao. Ở Việt Nam là 92,1%, ở Đài Loan là 86%, ở Hàn Quốc là 80,6%....
Còn theo số liệu báo cáo của 15 bệnh viện trực thuộc Bộ, bệnh viện đa khoa tỉnh ở Hà Nội, Hải Phòng, Huế, Đà Nẵng, Hồ Chí Minh… về sử dụng kháng sinh và kháng kháng sinh giai đoạn 2008-2009 cho thấy: Các chủng streptococcus pneumoniae - một trong những nguyên nhân thường gặp nhất gây nhiễm khuẩn hô hấp - kháng penicillin (71,4%) và kháng erythromycin (92,1%) - có tỷ lệ phổ biến cao nhất trong số 11 nước trong mạng lưới giám sát các căn nguyên kháng thuốc châu Á (ANSORP) năm 2000-2001. 75% các chủng pneumococci kháng với 3 hoặc trên 3 loại kháng sinh. 57% Haemophilus influenzae (một căn nguyên vi khuẩn phổ biến khác) phân lập từ bệnh nhi ở Hà Nội (2000-2002) kháng với ampicillin. Tỷ lệ tương tự cũng được báo cáo ở Nha Trang.
Đối với hầu hết các trường hợp bù nước và điện giải là biện pháp xử trí hiệu quả nhất đối với bệnh tiêu chẩy, khoảng 1/4 số trẻ đã được chỉ định kháng sinh trước khi đưa đến bệnh viện. Các vi khuẩn gram âm đa số là kháng kháng sinh (enterobacteriaceae): hơn 25% số chủng phân lập tại một bệnh viện ở thành phố Hồ Chí Minh kháng với kháng sinh cephalosporin thế hệ 3…
Có thể nói Việt Nam nằm trong những quốc gia có tỷ lệ kháng kháng sinh cao nhất các nước trong khu vực châu Á.
Tự điều trị kháng sinh
Nguyên nhân của tình trạng này được Bộ Y tế phân tích rất rõ, lớn nhất phải là tình trạng mua thuốc không có đơn. Mặc dù đã có quy định về kê đơn và bán thuốc theo đơn, nhưng người bệnh vẫn tự mua thuốc kháng sinh và nhiều loại thuốc khác trực tiếp từ các nhà thuốc và các quầy thuốc bán lẻ dễ dàng như mua rau ngoài chợ. Rồi tự điều trị cũng là một nguyên nhân khá phổ biến, dù chẩn đoán thường thiếu chính xác. Một nghiên cứu cộng đồng năm 2007 đã cho thấy 78% kháng sinh được mua tại các nhà thuốc tư nhân mà không cần đơn.
Thiếu kiến thức sử dụng kháng sinh hợp lý cũng là một nguyên nhân mà giới y khoa phân tích. Nghiên cứu nhằm đánh giá kiến thức về sử dụng kháng sinh ở khu vực nông thôn Việt Nam cho thấy, mặc dù đã có các tài liệu hướng dẫn, nhưng kiến thức về sử dụng kháng sinh vẫn còn rất hạn chế và ngay cả các cán bộ cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe cũng thường cung cấp kháng sinh một cách không cần thiết cho các trường hợp cảm cúm thông thường. Ở thành phố tưởng chừng thông thạo hơn, nhưng người bệnh cũng “điều trị” như vậy, làm cho tình trạng kháng kháng sinh vốn đã phức tạp càng phức tạp hơn.
Cùng với “tự điều trị” kháng sinh thì nhiễm khuẩn ở bệnh viện, cũng là một nguyên nhân nghiêm trọng khác dẫn đến kháng thuốc, đặc biệt là trong tình trạng quá tải như hiện nay. Bộ Y tế nhận định, tình trạng nhiễm khuẩn bệnh viện dẫn đến kiểm soát nhiễm khuẩn không tốt làm lây lan vi khuẩn kháng thuốc. Trong khi rác thải cũng không được quản lý tốt làm cho sự lây lan này càng dễ dàng hơn.
Trồng trọt, chăn nuôi hay nuôi trồng thủy sản lạm dụng kháng sinh để kích thích tăng trưởng, phòng và điều trị bệnh dịch cũng làm kháng kháng sinh lớn hơn. Như trong chăn nuôi lợn và gia cầm thường được bổ sung kháng sinh như tetracycline và tylosin đề phòng bệnh. Trong nuôi trồng thủy sản, tôm, cua và cá thường có nồng độ dư lượng kháng sinh nhóm quinolones và sulfonamides gấp vài lần so với các quốc gia khác. Dư lượng kháng sinh cũng thường được phát hiện trong mẫu đất và nước ươm giống với mức quá giới hạn cho phép. Một nghiên cứu giám sát đã cho thấy, thực phẩm, bao gồm thịt và cá, phát hiện nhiễm Salmonella đa kháng kháng sinh. Campylobacter phân lập từ gà thịt cũng có mức kháng cao: 90% kháng với nalidixic acid, 89% với tetracycline và 82% với ciprofloxacin.
GS.TS Nguyễn Duy Thịnh - Viện Công nghệ Sinh học và Thực phẩm, ĐH Bách Khoa Hà Nội, đã giải thích về “cơ chế” kháng kháng sinh khi lạm dụng đó là ăn thực phẩm chứa kháng sinh, dù với mức thấp so với liều lượng điều trị nhưng ăn nhiều lần sẽ tạo ra môi trường kháng sinh trong cơ thể. Vi khuẩn gây bệnh sẵn có trong cơ thể (do số lượng thấp chưa đủ để gây bệnh) mới đầu quen dần với môi trường kháng sinh đó sau “đủ mạnh” chống lại cả kháng sinh rồi gây bệnh, khiến kháng sinh trở nên vô tác dụng (hiện tượng nhờn thuốc). Ông Thịnh nói: “Khi con người mắc bệnh do chính vi khuẩn gây nên, uống kháng sinh để diệt vi khuẩn (cách điều trị duy nhất hiện nay) thì không có tác dụng do vi khuẩn đã quen với môi trường kháng sinh. Trong trường hợp như vậy nếu chưa có kháng sinh thế hệ mới, hàm lượng cao thì kết cục tất yếu mà con người phải chịu là… tử vong”.
Cả xã hội phải quan tâm
Để cải thiện tình trạng kháng kháng sinh, nhóm chuyên gia nghiên cứu về vấn đề này đã cho rằng, các giải pháp chính sách cần có sự thay đổi về mặt cấu trúc, các biện pháp để khuyến khích đối với bệnh nhân, các nhà lâm sàng và các đối tượng khác trong hệ thống chăm sóc sức khỏe… phải được vận hành trong mối quan tâm cao nhất của xã hội. Cần nghiên cứu, vạch ra các giải pháp chính sách cụ thể và trọng tâm có thể đem lại các tác động có ý nghĩa đối với tình trạng kháng kháng sinh.
Cùng với đó, người bệnh nên dành quyền chỉ định thuốc kháng sinh cho thầy thuốc (tức bác sĩ kê đơn kháng sinh thì mới dùng), không tự ý sử dụng kháng sinh một cách bừa bãi, không đúng lúc, không đủ liều, nhất là trong trường hợp mới có biểu hiện bệnh. Trên nguyên tắc, nếu vi khuẩn còn nhạy cảm với kháng sinh cổ điển, thông dụng thì sử dụng kháng sinh loại này và tránh dùng kháng sinh loại mới. Những kháng sinh mới thường được khuyến cáo chỉ dùng trong bệnh viện hoặc khi có sự chỉ định cân nhắc của bác sĩ điều trị…
http://www.baomoi.com/hiem-hoa-khang-thuoc-khang-sinh/r/19212846.epi#suc-khoe-y-te|contentlist
Fanpage
Youtube


















