Điểm báo điện tử ngày 1/4/2016
01/04/2016
0
Hà Nội có 65 đội chống dịch cơ động phòng dịch Zika
Ngày 31.3, TS Nguyễn Khắc Hiền, Giám đốc Sở Y tế Hà Nội, chủ trì cuộc họp Ban Chỉ đạo phòng chống dịch bệnh do vi rút Zika trên địa bàn TP.
Sở Y tế Hà Nội đang giám sát vi rút Zika tại 62 bệnh viện (BV) đa khoa trên địa bàn, tại cửa khẩu sân bay quốc tế Nội Bài, tại các trung tâm y tế và các trạm y tế, nhất là giám sát các trường hợp đi từ nước ngoài, từ vùng dịch về Hà Nội có dấu hiệu bất thường về sức khỏe. 6 mẫu bệnh phẩm Sở gửi xét nghiệm tại Viện Vệ sinh dịch tễ T.Ư đều âm tính với vi rút Zika. Sở này cũng đã chỉ đạo BV Phụ sản Hà Nội, Chi cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình Hà Nội hướng dẫn các đơn vị chuyên khoa tuyến cơ sở khi siêu âm thai phát hiện bất thường ở thai nhi (kích thước đầu nhỏ), cần khai thác kỹ tiền sử dịch tễ liên quan tới nhiễm vi rút Zika.
Theo TS Nguyễn Nhật Cảm, Giám đốc Trung tâm y tế dự phòng Hà Nội, TP luôn duy trì hoạt động của 65 đội chống dịch cơ động (5 đội thuộc TTYT Hà Nội, 60 đội thuộc TTYT các quận, huyện) để phòng dịch Zika. Phòng xét nghiệm của TTYT Hà Nội đủ năng lực chẩn đoán vi rút Zika.
http://thanhnien.vn/suc-khoe/ha-noi-co-65-doi-chong-dich-co-dong-phong-dich-zika-687342.html
Ăn thịt lợn nấu chưa chín, dễ bị sán dải heo tấn công
Mới đây, trường hợp cậu bé 15 tuổi ở Kon Tum bị một tổ sán heo 5cm ngụ cư trong não khiến nhiều người hoang mang, lo sợ. Các bác sĩ cho biết, nếu ăn thịt heo nấu chưa chín, dễ bị sán dải heo tấn công.
Cậu bé 15 tuổi suýt chết vì sán dải heo
Ngày 31/3, truyền thông trong nước đưa tin dồn dập về trường hợp bé trai A.L.H (15 tuổi, ngụ Kon Tum) bị sán dải heo 5cm làm tổ trong não. Tổ sán này đã khiến cậu bé rơi vào tình trạng dinh dưỡng nặng, nhức đầu kinh niên và chứng suy giảm miễn dịch bẩm sinh, nguy kịch đến tính mạng. Sau khi được gia đình đưa đến Bệnh viện Nhi đồng 1 (TP.HCM), bé H. đã được chụp chiếu và làm các xét nghiệm.
Kết quả chụp MRI cho thấy có khối bướu đường kính hơn 5cm trong não. Bác sĩ Phan Minh Trí, Khoa Ngoại tổng hợp, người trực tiếp điều trị cho bệnh nhi, cho biết 15 tuổi mà bé chỉ cao 1,2m, nặng 20 kg. Do tình trạng suy dinh dưỡng nặng, thể trạng quá yếu nên không cho phép tiến hành cuộc mổ quá lớn, chưa thể phẫu thuật ngay.
Tuy nhiên nếu không được phẫu thuật, tính mạng của cháu bé có thể bị đe dọa”, các bác sĩ đã áp dụng nhiều biện pháp giúp bé tăng cường thể lực, có đủ sức khỏe để đáp ứng với ca mổ.
Ca mổ diễn ra hơn 5 giờ do các bác sĩ của Bệnh viện Nhi đồng 1 và Bệnh viện Nhân dân 115 phối hợp thực hiện. Khối bướu được lấy ra là một tổ sán dải heo, có đường kính hơn 5cm, bên trong chứa dịch, rất nhiều khe và ấu trùng sán. Hiện tại, sức khỏe bé đã phục hồi tốt sau phẫu thuật.
Các bác sĩ ở viện Nhi đồng 1 nhận định, nguyên nhân bé bị sán dải heo tấn công có thể là do sán này có nhiều trong chất thải heo, khi nhập vào nguồn nước và không được nấu kỹ sẽ dễ dàng xâm nhập vào máu và lên não. Ngoài ra, các trường hợp ăn thịt heo không nấu chín cũng dễ bị sán xâm nhập vào cơ thể.
Ký sinh trùng có nhiều thể bệnh. Tùy từng loại mà khi người ăn phải trứng của nó thì trong vòng 24 - 72 tiếng sau, ký sinh trùng đó có thể đi đến các cơ và não. Tùy vào nơi sán cư trú mà người nhiễm có các biểu hiện khác nhau. “Cách phòng ngừa nhiễm sán, ký sinh trùng tốt nhất là ăn chín, uống nước đun sôi để nguội”, bác sĩ Hiếu cảnh báo.
Ăn nem thính bị sán lợn làm tổ trong não
Trước đó, ông N.H.C (59 tuổi) ở Tiên Lãng, Hải Phòng đã được các bác sĩ ở Viện Sốt rét- Ký sinh trùng-Côn trùng Trung ương cứu sống khi phát hiện ấu trùng sán làm tổ ở não. Ông C. cho biết có thói quen ăn nem thính làm từ thịt nạc sống.
Ông C. đến Viện Sốt rét- Ký sinh trùng-Côn trùng Trung ương khi không đi lại được, nôn nhiều, gia đình nghi bị u não. Chụp phim các bác sĩ phát hiện rất nhiều nang sán ở trên não.
Ông C. cho biết, từ năm 2007, ông bị đau đầu nên phải đi viện khám. Chẩn đoán ban đầu ông bị rối loạn tiền đình nhưng càng ngày ông càng đau đầu dữ dội. Đến năm 2012, chân phải ông không đi được, hay buồn nôn, ăn gì nôn đấy. Thậm chí, uống nước cũng nôn, người gầy sút cân. Bác sĩ nghi nghờ ông bị u não.
Ông đến Viện Sốt rét-ký sinh trùng-côn trùng Trung ương khám thì biết mình bị nhiễm ấu trùng sán lợn. Ấu trùng làm tổ trong não đè vào dây thần kinh thăng bằng nên ông hay chóng mặt, đau đầu. Ông được điều trị từ năm 2012 đến nay.
Các bác sĩ tại Viện Sốt rét- Ký sinh trùng-Côn trùng Trung ương cho biết, ấu trùng sán lợn (còn gọi là bệnh lợn gạo/bệnh sán não/ bệnh nang sán do nang sán dây lợn Taenia solium) gây ra trên người.
Bệnh ấu trùng sán lợn là một bệnh nhiễm ký sinh trùng gây ra bởi các mô nang ấu trùng của sán dây Taenia solium. Những nang ấu trùng nhiễm vào não, cơ, hoặc các mô khác và là nguyên nhân chính của cơn động kinh.
Theo TS. BS Nguyễn Thu Hương, Phó khoa Ký sinh trùng, Viện Sốt rét – ký sinh trùng – côn trùng Trung ương, nhiễm sán dây ở người xảy ra do nấu chưa chín thịt lợn. Ngoài ra, đường lây lan thường xảy ra thông qua thức ăn nhiễm bẩn trên bàn tay người, và có thể do ăn các loại trái cây hoặc rau quả được tưới bởi phân người nhiễm bệnh.
Các vị trí của nang sán hay bắt gặp trên cơ thể người là não và mắt. Với các bệnh nhân nặng có thể gây nên các biểu hiện bệnh lý não với sốt, đau đầu, buồn nôn, nôn mửa, thay đổi tri giác, động kinh.
Các bác sĩ khuyến cáo, mọi người không nên ăn tiết canh lợn, thịt lợn chưa được nấu chín. Cần vệ sinh tay chân trước khi ăn để tránh ăn phải trứng sán lợn.
Xét nghiệm phát hiện sớm ung thư gan
Kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh chỉ phát hiện ung thư khi đã xuất hiện các khối u, do vậy. nhu cầu tìm ra các chỉ dấu sinh hóa, miễn dịch (do tế bào ung thư tiết ra) giúp phát hiện ung thư sớm, trước khi xuất hiện khối u để chẩn đoán sớm là vấn đề cấp thiết trên toàn thế giới. Điều này sẽ giúp bệnh nhân được điều trị sớm, theo dõi tiến triển của khối u và nâng cao tỉ lệ sống sót của bệnh nhân.
Ung thư gan là loại ung thư phổ biến đứng hàng thứ 5 ở nam giới, và thứ 7 ở nữ giới với hơn nửa triệu trường hợp mắc bệnh mới được chẩn đoán mỗi năm trên toàn thế giới, đây là nguyên nhân đứng hàng thứ 3 gây nên các ca tử vong do ung thư trên toàn thế giới sau ung thư phổi và dạ dày. Vào năm 2010, ước tính khoảng 754.000 người tử vong do ung thư gan. Ung thư tế bào gan nguyên phát (hepatocellular carcinoma - HCC) là dạng ung thư gan phổ biến nhất - chiếm 80% trường hợp mắc ung thư gan. Trên 80% trong số các trường hợp ung thư gan được tìm thấy ở các quốc gia ở châu Á, và khu vực châu Phi cận Sahara.
Ung thư gan - những nguyên nhân
Nguyên nhân dẫn đến ung thư gan chủ yếu là viêm gan mãn tính do HCV và HBV dẫn đến xơ gan. Trong thực tế lâm sàng, người ta nhận thấy 70 - 80% ung thư gan phát triển trên xơ gan. Các nguyên nhân và dịch tễ của ung thư gan có liên quan chặt chẽ với các nguyên nhân và dịch tễ của xơ gan. Ngoài ra còn có các nguyên nhân khác như: nghiện rượu, độc tố Aflatoxin flatoxin được bài tiết từ nấm Aspergillus flavus thường có trongngũ cốc.
Việt Nam là quốc gia nằm trong vùng dịch tễ có tỉ lệ viêm gan cao. Theo nghiên cứu điều tra dịch tễ ở Hà Nội, Bắc Giang thì tỉ lệ nhiễm HBV và HCV tại hai địa bàn Hà Nội, Bắc Giang lần lượt là 8,0% và 2,7%. Theo số liệu ghi nhận ung thư quần thể năm 2004, ở TP. HCM trong 10 loại ung thư thường gặp thì ung thư gan đứng hàng thứ nhất ở nam (tần suất 38,2 trường hợp trên 100.000 dân mỗi năm) và đứng hàng thứ 6 ở giới nữ (tần suất 8,3 trường hợp trên 100.000 dân mỗi năm). Ở Hà Nội, ung thư gan đứng hàng thứ 3 ở nam giới và hàng thứ 7 ở nữ giới. Trong những năm gần đây, trung bình mỗi năm Việt Nam có trên 10.000 ca mắc ung thư gan mới và trở thành quốc gia có tỉ lệ người mắc bệnh ung thư gan hàng đầu thế giới.
Tỉ lệ sống nói chung của bệnh ung thư gan trong vòng 5 năm sau khi chẩn đoán là khoảng 9%. Khi ung thư gan được phát hiện trong giai đoạn đầu, khoảng 19% số bệnh nhân có khả năng sống sót trong 5 năm trở lên. Tuy nhiên, chỉ có khoảng 30% số bệnh nhân phát hiện ra bệnh ở giai đoạn đầu. Khoảng 26% trường hợp được chẩn đoán khi bệnh ung thư đang trong giai đoạn thứ hai. Ở giai đoạn này, ung thư đã bắt đầu lan rộng, tuy nhiên mới chỉ xuất hiện ở các hạch bạch huyết. Tiên lượng sống cho ung thư gan giai đoạn 2 là khoảng 6,5% số bệnh nhân có khả năng sống trong 5 năm. Gần 22% trường hợp ung thư gan được chẩn đoán đã ở giai đoạn cuối.
Với giai đoạn này, ung thư đã bắt đầu xâm nhập vào các cơ quan xa. Tỉ lệ sống sót sau 5 năm đối với ung thư gan di căn là khoảng 3,5%. Nếu bệnh được phát hiện ở những giai đoạn đầu, phẫu thuật triệt để hoặc ghép gan là phương pháp điều trị mang lại kết quả rất tốt, với tỉ lệ sống lên tới 80% . Tuy nhiên, ở các nước đang phát triển, bệnh ung thư gan thường được chẩn đoán ở giai đoạn cuối nên ghép gan không đạt được kết quả tốt. Khi đó ung thư đã xuất hiện trong các cơ quan khác và nó có khả năng lây lan vào gan mới ghép nên tỉ lệ sống sót sau 5 năm thấp dưới 10%.
Ung thư gan tiến triển thầm lặng nên đa số bệnh nhân thường được phát hiện muộn, giai đoạn sớm thường không có triệu chứng gì. Vì vậy, với những người có yếu tố nguy cơ như bệnh viêm gan B, C, xơ gan, người uống rượu nhiều hoặc trong gia đình từng có người ung thư gan, thì nên thường xuyên kiểm tra để phát hiện bệnh sớm. Hiện nay, các phương pháp phát hiện ung thư gan chủ yếu là các phương pháp chẩn đoán hình ảnh như siêu âm. Đây là phương pháp đơn giản, ít tốn kém, không gây hại, có thể phát hiện khối u >1cm. Siêu âm có vai trò rất quan trọng trong việc tầm soát và phát hiện sớm ung thư gan, ngoài ra còn giúp phát hiện các bệnh lý đi kèm như xơ gan, tăng áp lực tĩnh mạch cửa. Các phương pháp khác như: chụp cắt lớp điện toán (CT-Scan) hoặc chụp cộng hưởng từ (MRI) sẽ giúp thấy khối u rõ hơn. Bệnh nhân cần thực hiện sinh thiết gan để kiểm tra chắc chắn kết quả chẩn đoán ung thư gan.
Các chỉ dấu sinh hóa
Tuy nhiên, kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh chỉ phát hiện ung thư khi đã xuất hiện các khối u. Do vậy, nhu cầu tìm ra các chỉ dấu sinh hóa, miễn dịch (do tế bào ung thư tiết ra) giúp phát hiện ung thư sớm, trước khi xuất hiện khối u để chẩn đoán sớm là vấn đề cấp thiết trên toàn thế giới. Điều này sẽ giúp bệnh nhân được điều trị sớm, theo dõi tiến triển của khối u và nâng cao tỉ lệ sống sót của bệnh nhân. Các chỉ dấu hiện nay được sử dụng tại Việt Nam gồm:
1. a-fetoprotein (AFP)
Trong số các chất chỉ dấu ung thư gan hiện nay thì AFP đã được ứng dụng trong xét nghiệm tầm soát HCC. AFP là glycoprotein có một chuỗi đơn, trọng lượng phân tử 70kDa và carbohydrat chiếm 4%. AFP được tổng hợp chính ở gan phôi thai và túi noãn hoàng, rồi vào dịch ối, đi qua rau thai và vào máu mẹ. Nồng độ trong huyết thanh của AFP nhanh chóng giảm xuống sau khi sinh và sự biểu hiện của nó bị ức chế ở người trưởng thành. Ở người lớn khỏe mạnh, nồng độ AFP huyết thanh là 0 - 7ng/mL (13). Nồng độ AFP huyết thanh 20ng/mL là giá trị cắt thường được sử dụng nhất để phân biệt bệnh nhân có và không có HCC. Xét nghiệm AFP có độ nhạy 41 - 65% và độ đặc hiệu 80 - 90% khi phát hiện HCC với giá trị cắt là 20ng/mL. AFP huyết thanh có sự tương quan thuận một cách có ý nghĩa với kích thước của khối u HCC và có thể được sử dụng như một chỉ dấu có giá trị để phát hiện HCC và đánh giá giai đoạn của bệnh. Theo khuyến cáo của Hội nghiên cứu gan châu Á - Thái Bình Dương(Asian Pacific Association for the Study of the Liver -APASL) và Mạng lưới ung thư quốc gia Mỹ(National Comprehensive Cancer Network - NCCN) thì bệnh nhân có nguy cơ cao bị HCC cần thực hiện kiểm tra AFP kết hợp siêu âm định kỳ 6 tháng.
Tuy nhiên, trên thực tế ở một số bệnh nhân không bị ung thư gan nhưng có nồng độ AFP tăng, ví dụ những bệnh nhân bị bệnh gan mạn, bệnh lý viêm gan, xơ gan, u quái tinh hoàn, phụ nữ có thai. Bên cạnh đó cũng có một số bệnh nhân ung thư gan nhưng AFP không tăng (6). Do vậy, các nhà khoa học đã tiếp tục nghiên cứu về các chỉ dấu chẩn đoán ung thư gan hiệu quả hơn và kết quả, các tác giả Nhật Bản đã phát hiện hai chỉ dấu giúp phát hiện thư gan sớm quan trọng khác là AFP L3 và DCP (Des-gamma-carboxy prothrombin), DCP còn được gọi là PIVKA II (protein induced by vitamin K absence or antagonists II).
2. AFP-L3
Là một đồng đẳng (Isoform) của AFP. Ba dạng AFP được phân biệt bởi mức độ fucosyl hóa (fucosylation) của chuỗi đường gắn với N-acetylglucosamine. Các dạng này có khả năng gắn vào Lens culinaris agglutinin (LCA) với các ái lực khác nhau. AFP-L1 là loại không gắn LCA, là dạng chủ yếu được thấy ở những người bị bệnh gan lành tính như viêm gan B mạn hoặc xơ gan AFP-L2 là có khả năng gắn LCA với ái lực vừa và là dạng chủ yếu được sản xuất bởi các khối u túi noãn hoàng. AFP-L3 được sản xuất bởi các tế bào gan ác tính, gắn vào LCA với ái lực cao và là dạng chủ yếu được thấy ở các bệnh nhân bị HCC. AFP-L3 được ghi nhận là tỉ lệ phần trăm của AFP-L3 so với tổng mức AFP. Giá trị cắt của AFP-L3 được xác định là 10% thì xét nghiệm có độ nhạy 56% và độ đặc hiệu 90% trong phát hiện HCC. Người có giá trị AFP-L3 cao hơn 10% thì tăng gấp 7 lần nguy cơ xuất hiện HCC trong vòng 21 tháng (7).
3. DCP hay PIVKA II
Là một dạng bất thườngđược tạo ra bởi sự thiếu vitamin K của prothrombin, một yếu tố đông máu được sản xuất bởi gan. DCP có thể được sản xuất bởi các khối u gan và mức độ thường tăng lên khi bị HCC. Nồng độ DCP bình thườnglà 0 - 7,5 ng/ml. Với giá trị cắt là 25 ng/mL thì xét nghiệm DCP có độ nhạy là 87% và độ đặc hiệu là 85% trong chẩn đoán HCC (7). Nhiều nghiên cứu cho thấy sự tăng DCP thường phản ảnh tình trạng của bệnh, kích thước khối u, sự xâm lấn tĩnh mạch cửa. Ngoài ra sau phẫu thuật cắt bỏ khối u hoặc sau điều trị ung thư gan bằng phương pháp khác, nồng độ DCP giảm nhanh. Sự tăng DCP trở lại sau điều trị thể hiện bệnh tái phát hoặc thất bại của điều trị.
Phần lớn các nghiên cứu bệnh chứng so sánh AFP với DCP trong chẩn đoán HCC cho thấy độ nhạy của DCP cao hơn AFP. Các nghiên cứu khẳng định sự kết hợp của DCP và AFP làm tăng rõ rệt độ nhạy và độ đặc hiệu trong chẩn đoán sớm HCC.
Từ năm 2008, Hiệp hội gan mật Nhật Bản (Japan Society of Hepatology - JSH) đã đưa ra guideline tầm soát HCC bằng cách sử dụng 3 chỉ dấu DCP, AFP và AFP-L3 (12). Bệnh viện Đại học Y Dược TPHCM là một trong những bệnh viện đầu tiên tại Việt Nam đã đưa bộ ba xét nghiệm này vào ứng dụng để tầm soát ung thư gan cho các bệnh nhân, đặc biệt các mắc bệnh viêm gan B và viêm gan C. Hy vọng, sự phối hợp hiệu quả này sẽ giúp phát hiện sớm và điều trị tích cực các bệnh nhân có nguy cơ bị ung thư gan, từ đó làm giảm đáng kể tỉ lệ biến chứng và tỉ vong ở các đối tượng bệnh nhân này.
http://baohatinh.vn/song-khoe/xet-nghiem-phat-hien-som-ung-thu-gan/111492.htm
Việt Nam can thiệp thành công hội chứng truyền máu song thai
Lúc 14g15 ngày 31/3, Bệnh viện (BV) Từ Dũ kết thúc trường hợp can thiệp hội chứng truyền máu song thai cuối cùng (bốn trường hợp).
Đây là lần đầu tiên tại Việt Nam kỹ thuật bắn tia laser trong bào thai được áp dụng để ngăn dòng máu từ bánh nhau đổ dồn về một thai (ảnh), khiến thai còn lại còi cọc, tử vong do truyền máu song thai.
Trước đây, những trường hợp mắc hội chứng truyền máu song thai đều phải ra nước ngoài điều trị. Với sự hỗ trợ của chuyên gia Pháp, việc can thiệp thành công hội chứng này sẽ mở ra triển vọng giúp nhiều thai nhi tránh nguy cơ tử vong cao.
Hồi hộp theo dõi
Người trực tiếp thực hiện bốn ca nội soi điều trị các biến chứng trong song thai là giáo sư Yves Villes - Trưởng khoa Sản và y học bào thai, Đại học Paris Descarters (Pháp) kiêm Thư ký thường trực Hiệp hội Y học tiền sản châu Âu. Cả bốn ca mổ đều được truyền hình trực tiếp từ phòng mổ ra hội trường cho các bác sĩ (BS) sản khoa khắp miền Nam theo dõi.
8g ca mổ mới bắt đầu nhưng từ 7g, các BS sản khoa từ các BV phía Nam đã có mặt tại hội trường BV Từ Dũ. Hội trường như nóng lên khi thai phụ Nguyễn Thị Ph.Th., 29 tuổi được đẩy vào phòng mổ. Gia đình chị Th. cho biết, chị mang thai lần đầu, được chẩn đoán mắc hội chứng truyền máu song thai. Hai thai có hai túi ối riêng nhưng có chung một bánh nhau. Lúc thai gần 12 tuần, BV Từ Dũ đã phát hiện hội chứng này. Sau đó bảy tuần, hội chứng tiến triển sang giai đoạn ba, chênh lệch cân nặng giữa hai thai đến 20%. Thai còi cọc chỉ nặng 169g, không có bàng quang, thai kia nặng 239g.
Từ hội trường, các BS chăm chú theo dõi từng động tác của GS Yves Villes. Sau khi siêu âm kiểm tra lại sức khỏe của thai nhi, GS Yves Villes sát trùng vùng bụng thai phụ và tiêm thuốc gây tê. Ngay sau đó, một đường nhỏ được rạch ở bụng thai phụ để đưa một loại kim rất nhỏ xuyên qua cùng với ống nội soi có gắn đầu camera. Sau vài phút thám sát bánh nhau, màng ối của thai cho và thai nhận, các mạch máu thông nhau giữa hai thai… GS Yves Villes bắt đầu bắn tia laser cắt đứt mạch máu liên thông giữa hai thai. Sau khoảng 15 phút, ca thủ thuật bắn laser ngăn hiện tượng truyền máu song thai đã thành công.
Tiếp đó, GS Yves Villes can thiệp cho thai phụ Hoàng Thị N., 26 tuổi, mang song thai được 16 tuần ba ngày. Một thai bị nhiều dị tật như gan và ruột nằm ngoài ổ bụng, cong cột sống, buộc phải cắt đứt nhiều mạch máu nuôi, giúp thai tự chấm dứt thai kỳ.
Ca thứ ba bắt đầu lúc 11g45, kết thúc lúc 12g30. Thai phụ Nguyễn Phạm Th.L., 26 tuổi mang thai lần thứ hai, thai được gần 12 tuần. Một thai bị vỡ ối, còi cọc chỉ nặng 145g, trong khi thai còn lại nặng 270g.
Ca thứ tư bắt đầu lúc 13g15, kết thúc lúc 14g13. Thai phụ Lê Thị Hồng T. bị bệnh tim, có thể đột tử trong lúc thủ thuật. BV Từ Dũ phải huy động các BS tim mạch ở BV khác đến hỗ trợ. Chị T. mang thai ở tuần thứ 22, trong đó có một thai dị tật không đầu, không tim buộc phải chấm dứt thai kỳ.
Sẽ công khai rộng rãi trong năm nay
GS Yves Villes cho biết, khi bị hội chứng truyền máu song thai, một trong hai thai nhi có nguy cơ chết lưu rất cao. Khi có một bé tử vong thì lượng máu sẽ truyền nhanh chóng cho bé còn lại, khiến bé còn lại cũng sớm tử vong. Một nghiên cứu cho thấy, 40% bé còn lại tử vong sau khi bé đầu tiên tử vong. Nếu còn sống thì 40% trường hợp bị di chứng não do thiếu máu nuôi, điển hình nhất là bệnh bại não.
Một nghiên cứu khác cũng ghi nhận, thai nhi mắc hội chứng truyền máu song thai có tỷ lệ bại não cao từ bốn-sáu lần (từ tuần thai thứ 15) so với thai nhi không bị truyền máu song thai. Đáng lưu ý, không ít trường hợp diễn tiến rất nhanh sang giai đoạn cuối như: phù thai, suy thận… và tử vong nhanh. Trong khi khả năng bắn tia laser giúp khả năng sống cho thai nhi lên đến 80%, di chứng do truyền máu song thai chỉ còn khoảng 20%.
BS Nguyễn Bá Mỹ Nhi - Phó giám đốc BV Từ Dũ vui mừng chia sẻ: “Để thực hiện được thủ thuật bắn tia laser trong bào thai cho bốn ca bị truyền máu song thai, BV Từ Dũ đã chuẩn bị từ 5 năm trước. Theo kế hoạch, GS Yves Villes chỉ đến hỗ trợ hai ca nhưng BV đề nghị thêm hai ca nữa. Một ca bắn laser chữa truyền máu song thai chi phí khoảng 15 triệu đồng”.
Theo BS Mỹ Nhi, sau bốn ca này, BV sẽ cử BS sang Pháp để tập huấn thêm. BS thực hiện các thủ thuật này phải nắm rõ về nội soi, siêu âm, xác định được tình trạng, tiến triển bệnh. Song song đó, BV sẽ trang bị thêm các thiết bị nội soi, laser và xây dựng danh mục kỹ thuật… để triển khai rộng rãi trong năm nay.
Truyền máu song thai chiếm từ 10-15% các trường hợp mang song thai. Hai thai nhi mắc hội chứng này sẽ có chung một bánh nhau. Vì chung bánh nhau nên khả năng mạch máu giữa hai thai nhi bị thông nối với nhau là rất cao, khoảng hơn 90% các trường hợp. Khi đó, máu của một thai nhi sẽ truyền cho thai nhi còn lại. Thai nhi truyền máu sẽ ngày càng teo tóp, thận ít lọc máu... Thai nhi nhận máu sẽ bị phù nề do lượng máu truyền về ồ ạt gây quá tải hệ tuần hoàn, dẫn đến tràn dịch màng bụng, suy tim, suy phổi...
Hiện thế giới có ba phương pháp điều trị tạm thời cho người bệnh. Một là, chọc phá vách ngăn giữa hai túi ối chung thành một bánh nhau, một túi ối. Phương pháp thứ hai: hút bớt lượng nước ối từ thai có túi ối to để thai nhi không bị quá tải hệ tuần hoàn; đồng thời giúp thai còn lại có cơ hội phát triển, không bị teo tóp. Phương pháp còn lại được coi là ưu việt nhất: điều trị bằng tia laser làm giảm sự truyền máu giữa hai thai.
Sau bao lâu thì thịt sạch hóa thành thịt bẩn?
Nhiều người không tin vào chất lượng thịt mua ở chợ hay siêu thị nên mỗi tuần đều chịu khó lặn lội về quê mua “thịt sạch” lên trữ và dùng dần, không hay việc làm này có thể là lợi bất cập hại!
Tiêu chảy mãi không dứt
Trong đầu tháng 10/2015, chúng tôi có tiếp nhận một cháu nhỏ (18 tháng) điều trị. Cháu nhập viện với tình trạng nôn nhiều, tiêu chảy và hơi sốt nhẹ. Theo thông tin mẹ cháu bé (Hà Đông, Hà Nội) cho biết, bắt đầu từ 12h đêm cháu đã có biểu hiện nôn, nôn liên tục. Chỉ trong một đêm mà cháu đã nôn tới 6 lần. Thậm chí cứ uống nước vào là nôn chứ chưa cần uống sữa hay ăn bột. Đến đầu giờ sáng cháu bắt đầu có biểu hiện tiêu chảy kèm theo hơi sốt nhẹ. Cháu được chẩn đoán là nhiễm khuẩn tiêu hóa, được chỉ định kháng sinh đường tiêu hóa cùng với chế độ ăn uống giữ gìn, đến ngày thứ 2 thì cháu dừng được tiêu chảy. Nhưng đến chiều ngày thứ 2 cháu lại phải nhập viện trở lại. Chúng tôi rất ngạc nhiên bởi sáng thì cháu đi đại tiện phân bình thường nhưng đến chiều lại phân lỏng đầy nước. Cháu tiếp tục được chỉ định uống thuốc. Vào những ngày sau cháu lại tái diễn y hệt, cứ sáng thì phân rất ổn nhưng chiều lại đầy nước, một ngày chỉ đi đại tiện 2 lần. Tình trạng này cứ kéo dài chừng 4-5 ngày sau đó khiến cho liệu trình điều trị đã phải kéo dài đến 7-8 ngày.
Chúng tôi cho xét nghiệm phân thì thấy cơ cấu vi khuẩn có hại khá nhiều. Điều đáng nói, phân buổi sáng và phân buổi trưa có cơ cấu vi khuẩn rất khác nhau. Điều đó chứng tỏ trong bữa sáng và bữa trưa của bé có vấn đề. Hỏi gặng ra thì mới biết, thịt bò để nấu bột cho bé được để trong tủ lạnh ít nhất 5 ngày, còn ngoài ra thường xuyên 7-10 ngày. Lý do mẹ cháu đưa ra khá đơn giản: em không tin thịt bò ở đây sạch, sợ bị nhiễm hóa chất, nên mỗi khi về quê, em đều tranh thủ mua chừng 7kg rồi bỏ tủ lạnh ăn dần. Đó chính là lý do khiến bé tiêu chảy. Sau khi bé được chỉ định dừng ăn thịt bò trong tủ lạnh, bé đã dừng tiêu chảy ngay vào ngày hôm sau.
Không để lạnh quá dài
Việc chăm sóc trẻ nhỏ rất cần cẩn thận bởi hệ tiêu hóa của trẻ nhỏ khá yếu ớt và nhạy cảm. Chỉ cần mất cân bằng hệ vi khuẩn ruột (hại khuẩn có nhiều hơn lợi khuẩn) thì đã gây ra tiêu chảy. Chưa cần phải nhiễm vi khuẩn tiêu hóa nghiêm trọng. Trong chăm sóc trẻ nhỏ, đồng ý là chúng ta phải lựa chọn thực phẩm sạch, không hóa chất bảo quản, không hóa chất độc hại. Nhưng cách chọn thực phẩm như bà mẹ ở trên là chưa đúng.
Thực phẩm động vật giết mổ ở vùng quê, được chuyển từ nông thôn ra thành thị cần phải được vận chuyển trong môi trường mát, ví dụ như thùng đá. Khi lên thành phố, việc giữ thực phẩm quá lâu trong tủ lạnh sẽ không đảm bảo. Các thực phẩm hữu cơ chỉ được bảo quản trong vòng 3 ngày đổ lại. Thịt phải cắt nhỏ ra từng khúc vừa đủ 1 bữa. Sau đó ăn bữa nào thì bỏ ra, rã đông và sử dụng. Không nên để cả tảng thịt to, rồi rã đông, rồi lại làm đông đá trở lại, sẽ chóng hỏng thịt. Cũng không nên để quá lâu vì các phân tử protein sẽ bị biến tính, tự hoại tử. Các bào tử vi khuẩn sẽ tích trữ, vi khuẩn sẽ sinh sôi, các sản phẩm tự thoái biến của thịt xuất hiện, nếu cho bé ăn thì bé sẽ bị tiêu chảy.
Quy tắc chọn thực phẩm cho trẻ
– Chọn thực phẩm tươi hàng ngày
– Không chọn thực phẩm đồ hộp như thịt hộp, cá hộp
– Chế biến bữa nào ăn hết bữa ấy
– Không để thực phẩm trong ngăn đá quá 3 ngày
http://phununews.vn/sau-bao-lau-thi-thit-sach-hoa-thanh-thit-ban-221969.html
Fanpage
Youtube


















