Điểm báo từ ngày 20 đến ngày 26 tháng 10 năm 2020
26/10/2020
0
Điểm báo từ ngày 20 đến ngày 26 tháng 10 năm 2020
Công tác chăm sóc y tế ngày càng được tăng cường, chất lượng khám chữa bệnh nâng cao
Đó là nội dung tại Dự thảo báo cáo đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2016 – 2020 và phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021 – 2025 trình Đại hội lần thứ XIII của Đảng để lấy ý kiến nhân dân.
Theo báo cáo, công tác y tế và chăm sóc sức khoẻ nhân dân ngày càng được tăng cường, chất lượng dân số từng bước được cải thiện, chất lượng dịch vụ khám, chữa bệnh được nâng cao và từng bước giải quyết tình trạng quá tải bệnh viện tuyến trên.
Chất lượng dân số từng bước được cải thiện, tuổi thọ trung bình đến năm 2020 ước đạt khoảng 73,7 tuổi, tăng so với năm 2015 (73,3 tuổi).
Các giải pháp duy trì mức sinh thấp hợp lý tiếp tục được thực hiện, kiểm soát mất cân bằng giới tính khi sinh; đã triển khai các giải pháp nhằm hạn chế tai biến sản khoa, giảm tử vong bà mẹ và trẻ em. Duy trì tổng tỉ suất sinh ở mức thay thế, ước năm 2020 là 2,09 con/phụ nữ, giảm so với mức 2,1 con/phụ nữ năm 2015.
Hệ thống y tế dự phòng từ Trung ương đến địa phương và mạng lưới y tế cơ sở được tiếp tục củng cố và phát triển; đã từng bước kiểm soát được dịch bệnh COVID-19, không để lây lan trên diện rộng, được ghi nhận, đánh giá cao. Tỉ lệ bác sĩ trên 1 vạn dân tăng từ 8,2 bác sĩ năm 2016 lên 9 bác sĩ năm 2020, đạt chỉ tiêu kế hoạch đề ra.
Công tác dự phòng, phát hiện sớm, quản lý các bệnh không lây nhiễm được chú trọng; triển khai đồng bộ hệ thống quản lý tiêm chủng tới tất cả các điểm cho người dân; tăng cường quản lý môi trường y tế, vệ sinh môi trường; tích cực phòng, chống bệnh nghề nghiệp, tai nạn thương tích, y tế học đường; năng lực giám sát, dự báo, phát hiện và khống chế dịch bệnh được nâng lên. Tình hình ngộ độc thực phẩm đã có xu hướng giảm.
Đã triển khai nhiều giải pháp đồng bộ và từng bước giải quyết tình trạng quá tải bệnh viện tuyến trên và tăng cường thực hiện các giải pháp nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh; phát triển và nhân rộng mô hình bác sĩ gia đình.
Ứng dụng rộng rãi công nghệ thông tin trong khám, chữa bệnh và chăm sóc sức khoẻ nhân dân, đặc biệt là triển khai nền tảng hỗ trợ tư vấn khám, chữa bệnh trực tuyến, từ xa. Nhiều dịch vụ y tế kỹ thuật cao, tiên tiến được áp dụng. Đã hình thành 3 trung tâm y tế chuyên sâu và đang thực hiện đầu tư xây dựng mới 5 bệnh viện tuyến Trung ương và tuyến cuối tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Số giường bệnh trên 1 vạn dân ước đạt 28 giường vào năm 2020, vượt mục tiêu đề ra (26,5). Đã xây dựng Chương trình phát triển y dược cổ truyền, kết hợp y dược cổ truyền với y học hiện đại.
Công nghiệp dược phát triển khá. Đã cung ứng được thuốc đủ về số lượng, kiểm soát về chất lượng và giá cả hợp lý cho khám, chữa bệnh và phòng, chống dịch bệnh, thiên tai. Thuốc sản xuất trong nước chiếm 74% mặt hàng, đáp ứng được trên 50% về lượng và 40% về giá trị; đã sản xuất được 11/12 loại vaccine sử dụng trong Chương trình tiêm chủng mở rộng quốc gia, đã sản xuất được nhiều loại thuốc đòi hỏi công nghệ cao. Triển khai thí điểm quản lý bán thuốc theo đơn, quản lý các nhà thuốc bằng công nghệ thông tin. Đã hoàn thành việc xây dựng gói dịch vụ y tế cơ bản, đổi mới mạnh mẽ cơ chế tài chính y tế. Nhiều giải pháp để hạn chế tình trạng lạm dụng Quỹ bảo hiểm y tế đã được thực hiện. Tỉ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế dự báo đến năm 2020 đạt khoảng 90,7%, tăng mạnh so với năm 2015 (76,5%), vượt mục tiêu đề ra (80%). (Gia đình & Xã hội, trang 6).
http://t5g.org.vn/diem-bao-ngay-22102020
Bộ Y tế chỉ đạo Công tác phòng, chống dịch mùa đông xuânNgày 23/10/2020, Bộ Y tế đã có hội nghị trực tuyến với 63 Sở Y tế và Trung tâm kiểm soát bệnh tật (CDC) tại 63 tỉnh/ thành phố trong cả nước về tăng cường công tác phòng, chống dịch COVID-19 và các dịch bệnh mùa đông xuân. Thứ trưởng Bộ Y tế Đỗ Xuân Tuyên chủ trì Hội nghị.
Báo cáo tại Hội nghị, Cục trưởng Cục Y tế dự phòng Đặng Quang Tấn cho biết: tính đến sáng ngày 23/10/2020, Việt Nam đã ghi nhận 1.148 bệnh nhân nhiễm COVID-19, trong đó 1.049 trường hợp đã được điều trị khỏi, 64 trường hợp đang được điều trị tại các cơ sở y tế và 35 trường hợp đã tử vong. Bên cạnh đó, cả nước cũng đã ghi nhận hơn 90.000 ca mắc sốt xuất huyết, nhiều ca bệnh bạch hầu và một số bệnh khác như: sởi, ho gà…
Tại chỉ thị số 23/CT-BYT, ngày 22/10/2020 của Bộ Y tế về tăng cường công tác phòng chống dịch bệnh mùa đông xuân 2020 đã chỉ rõ: Trong những tháng mùa đông xuân cuối năm 2020 và đầu năm 2021, tình hình dịch bệnh có nguy cơ cao tiếp tục diễn biến phức tạp, bệnh COVID-19 chưa có vắc xin dự phòng, cùng với nhiều yếu tố bất lợi (hiện vẫn đang trong mùa mưa khu vực miền Nam, thời tiết lạnh ẩm khu vực miền Bắc, ngập lụt khu vực miền Trung, thay đổi bất thường về khí hậu, quá trình đô thị hoá, sự gia tăng giao lưu đi lại...) tạo điều kiện rất thuận lợi cho các bệnh truyền nhiễm bùng phát, đặc biệt là các bệnh như COVID-19, sởi, rubella, bạch hầu, ho gà, sốt xuất huyết, tay chân miệng....
Thứ trưởng Đỗ Xuân Tuyên đề nghị Sở Y tế các tỉnh tham mưu cho Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố quyết định kiện toàn Ban Chỉ đạo phòng chống dịch tỉnh, thành phố; đồng thời đề xuất để Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố chỉ đạo kiện toàn Ban Chỉ đạo phòng chống dịch các cấp, giao trách nhiệm cụ thể cho từng thành viên Ban Chỉ đạo. Duy trì triển khai quyết liệt các hoạt động phòng chống dịch COVID-19 theo các chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Ban Chỉ đạo Quốc gia và Bộ Y tế với quan điểm không chủ quan, lơ là, kiên quyết ngăn chặn các nguồn lây, khoanh vùng, xử lý triệt để ổ dịch; duy trì và thực hiện hiệu quả của tổ phòng, chống dịch COVID-19 tại cộng đồng.
Các đơn vị y tế dự phòng tăng cường giám sát tại cộng đồng, cửa khẩu, phát hiện sớm, đáp ứng kịp thời, đặc biệt là bệnh COVID-19, MERS-CoV, cúm A(H7N9), bệnh cúm A(H5N1), A(H5N6), chú trọng triển khai các biện pháp phòng, chống bệnh dại, các bệnh dịch lây truyền qua đường hô hấp (bạch hầu, sởi, rubella...) và các bệnh lưu hành (tay chân miệng, sốt xuất huyết...), xử lý triệt để các ổ dịch, khoanh vùng, không để bùng phát lan rộng.
Tiếp tục tổ chức chiến dịch diệt bọ gậy quy mô lớn tại các tỉnh, thành phố; duy trì hoạt động diệt bọ gậy (hàng tuần tại khu vực có nguy cơ cao, hàng tháng tại khu vực khác), phun hóa chất chủ động khu vực nguy cơ cao.
Tăng cường triển khai hoạt động tiêm chủng thường xuyên và tiêm chủng dịch vụ, đảm bảo tỷ lệ tiêm chủng đạt 95% trên quy mô cấp xã.
Các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thực hiện tốt công tác thường trực cấp cứu, phân loại sàng lọc bệnh, phân luồng khám bệnh, thu dung, cách ly, thực hiện nghiêm việc kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện, không để lây nhiễm chéo trong bệnh viện.
Bên cạnh đó, tăng cường tuyên truyền các biện pháp phòng, chống dịch bệnh thường gặp trong mùa đông xuân, thông điệp 5K phòng, chống COVID-19 (gồm Khẩu trang - Khử khuẩn - Khoảng cách - Không tụ tập - Khai báo y tế) đến từng hộ gia đình, cộng đồng với các hình thức và ngôn ngữ phù hợp với từng địa phương…
Tại Hội nghị, các đại biểu được hướng dẫn giám sát phòng, chống COVID-19, thành lập và hoạt động Tổ phòng, chống COVID-19 cộng đồng, phòng chống dịch COVID-19 tại khu cách ly tập trung dân sự, công tác lấy mẫu, xét nghiệm COVID-19, truyền thông trong phòng chống COVID-19 và dịch bệnh mùa đông năm 2020, mùa xuân năm 2021. Các đại biểu tại 63 điểm cầu đã thảo luận về các nội dung phòng, chống dịch mùa đông xuân, dịch COVID-19 trong mùa đông, các nguy cơ dịch bệnh tại các tỉnh đang chịu thiên tại, công tác vệ sinh môi trường sau bão, lũ cũng như công tác khám chữa bệnh khi có dịch bệnh trong cộng đồng…/.
https://moh.gov.vn/tin-noi-bat/-/asset_publisher/3Yst7YhbkA5j/content/bo-y-te-chi-ao-cong-tac-phong-chong-dich-mua-ong-xuan
Thủ tướng bổ nhiệm Quyền Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thanh Long kiêm nhiệm Chủ tịch Hội đồng Y khoa Quốc gia
Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định 1595/QĐ-TTg bổ nhiệm Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng Y khoa Quốc gia. Theo đó, Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thanh Long, Quyền Bộ trưởng Bộ Y tế giữ chức vụ kiêm nhiệm Chủ tịch Hội đồng.
Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thanh Long, Quyền Bộ trưởng Bộ Y tế giữ chức vụ kiêm nhiệm Chủ tịch Hội đồng Y khoa Quốc gia
Giáo sư, Tiến sĩ Lê Quang Cường, Phó Chủ tịch Hội đồng Giáo sư Nhà nước, nguyên Thứ trưởng Bộ Y tế, Giảng viên cao cấp Trường Đại học Y Hà Nội giữ chức vụ Phó Chủ tịch thường trực Hội đồng hoạt động chuyên trách.
Giáo sư, Tiến sĩ Trần Văn Thuấn, Thứ trưởng Bộ Y tế giữ chức vụ kiêm nhiệm Phó Chủ tịch Hội đồng.
Tiến sĩ Phạm Văn Tác, Cục trưởng Cục Khoa học Công nghệ và Đào tạo, Bộ Y tế giữ chức vụ kiêm nhiệm Phó Chủ tịch Hội đồng.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Lương Ngọc Khuê, Cục trưởng Cục Quản lý Khám, chữa bệnh, Bộ Y tế giữ chức vụ kiêm nhiệm Phó Chủ tịch Hội đồng.
Theo Quyết định 956/QĐ-TTg, Hội đồng Y khoa Quốc gia (Hội đồng) có chức năng giúp Thủ tướng Chính phủ chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho việc tổ chức đánh giá năng lực hành nghề khám, chữa bệnh theo Nghị quyết số 20/NQ-CP ngày 25/10/2017 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới để đáp ứng yêu cầu phát triển, nâng cao chất lượng nhân lực y tế.
Hội đồng có nhiệm vụ xây dựng chuẩn năng lực nghề nghiệp cho các chức danh hành nghề khám bệnh, chữa bệnh để đơn vị chức năng thuộc Bộ Y tế trình Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành; tham gia giám sát, đánh giá việc tuân thủ chuẩn năng lực nghề nghiệp của người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh sau khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp chứng chỉ hành nghề theo đề nghị của cơ quan quản lý nhà nước về y tế và theo quy định của pháp luật.
Bên cạnh đó, chuẩn bị các điều kiện cần thiết để tổ chức đánh giá năng lực hành nghề khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của pháp luật; xây dựng và thử nghiệm Bộ ngân hàng câu hỏi đánh giá năng lực hành nghề; xây dựng tiêu chuẩn của cơ sở tổ chức đánh giá năng lực hành nghề; xây dựng hệ thống thông tin, dữ liệu quốc gia về đánh giá năng lực hành nghề. (Sức khỏe & Đời sống, trang 2) .
http://t5g.org.vn/diem-bao-ngay-22102020
Thu hồi về Quỹ BHYT số tiền 39,189 tỷ đồng chi phí khám chữa bệnh không đúng quy định
Bảo hiểm xã hội Việt Nam cho biết qua thanh tra chuyên ngành đóng, đã phát hiện 4.998 lao động thuộc đối tượng phải tham gia nhưng chưa tham gia hoặc đóng thiếu thời gian tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp với số tiền phải truy đóng 44,759 tỷ đồng.
Bảo hiểm xã hội Việt Nam cho biết đến hết tháng 9/2020, cả nước có trên 15,5 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội, gần 13 triệu người tham gia bảo hiểm thất nghiệp, hơn 86,7 triệu người tham gia bảo hiểm y tế.
So với cuối năm 2019, mặc dù số người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện, bảo hiểm y tế tăng trưởng dương nhưng số người tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp lại giảm.
Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng trên là do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 khiến các đơn vị, doanh nghiệp tạm dừng hoặc thu hẹp quy mô sản xuất.
Liên quan đến công tác thanh tra, kiểm tra, Bảo hiểm xã hội Việt Nam cho biết, trong 9 tháng đầu năm 2020, toàn ngành bảo hiểm xã hội đã thực hiện thanh tra, kiểm tra theo kế hoạch tại hơn 3.100 đơn vị, đạt 59,09% kế hoạch.
Trong đó, thanh tra chuyên ngành đóng 791 đơn vị, đạt 53,8% kế hoạch; kiểm tra 2.117 đơn vị; thanh tra, kiểm tra liên ngành 247 đơn vị đạt 41,76% kế hoạch.
Bên cạnh đó, ngoài việc thực hiện thanh tra, kiểm tra theo kế hoạch, trong 9 tháng đầu năm, toàn Ngành đã tổ chức thực hiện 1.384 cuộc thanh tra, kiểm tra đột xuất tại 1.808 đơn vị.
Qua thanh tra chuyên ngành đóng, đã phát hiện 4.998 lao động thuộc đối tượng phải tham gia nhưng chưa tham gia hoặc đóng thiếu thời gian tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp với số tiền phải truy đóng là 44,759 tỷ đồng; phát hiện 13.772 lao động đóng thiếu mức quy định với số tiền phải truy đóng là 56,733 tỷ đồng.
Ngoài ra, công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đã phát hiện và yêu cầu thu hồi về Quỹ bảo hiểm xã hội số tiền 2,889 tỷ đồng do thanh toán các chế độ bảo hiểm xã hội không đúng quy định; thu hồi về Quỹ bảo hiểm thất nghiệp số tiền 1,749 tỷ đồng do thanh toán, chi trả trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp không đúng quy định; thu hồi về Quỹ bảo hiểm y tế số tiền 39,189 tỷ đồng chi phí khám chữa bệnh bảo hiểm y tế không đúng quy định.
Để hoàn thành các mục tiêu đã đề ra, Bảo hiểm xã hội Việt Nam yêu cầu, bảo hiểm xã hội các tỉnh, thành phố nghiêm túc triển khai tổ chức thực hiện theo quyết định điều chỉnh kế hoạch kiểm tra, thanh tra chuyên ngành và thanh tra, kiểm tra liên ngành năm 2020. (An ninh Thủ đô, trang 8).
http://t5g.org.vn/diem-bao-ngay-26102019
Hội chứng sau COVID-19: Vấn đề đáng ngại
Những người khỏi bệnh sau khi mắc COVID-19 đã phải vật lộn với các triệu chứng của nhiều căn bệnh khác nhau kéo dài nhiều tháng... Ước tính có khoảng 10% bệnh nhân sau khi khỏi COVID-19 sẽ phát triển những vấn đề sức khỏe hậu COVID-19 thành mạn tính.
Một cuộc khảo sát của các nhà khoa học Đại học Y khoa Indiana trên 1.500 người đã khỏi COVID-19 cho thấy, có rất nhiều người đã gặp các vấn đề về hô hấp, tim mạch kéo dài, đau khớp, phát ban, đau cơ, chóng mặt, lú lẫn, thay đổi thị lực, trầm cảm và lo lắng...
Các triệu chứng này được gọi là “hội chứng sau COVID”, được ví như hội chứng mệt mỏi mạn tính (CFS), mặc dù hầu hết những người phát triển bệnh sau COVID-19 không đáp ứng tiêu chuẩn chẩn đoán CFS.
Đâu là nguyên nhân?TS. Esther Melamed, trợ lý giáo sư thần kinh học tại Trường Y khoa Dell thuộc Đại học Texas ở Austin, cho hay: Nguyên nhân mệt mỏi vẫn chưa được hiểu rõ, nhưng có thể liên quan đến sự rối loạn điều hòa hệ thống miễn dịch, tình trạng viêm đang diễn ra trong cơ thể và tổn thương trực tiếp đến não hoặc tủy sống có thể làm gián đoạn giao tiếp giữa các tế bào thần kinh.
Tuy nhiên, hiện vẫn chưa có bằng chứng rõ ràng khẳng định các triệu chứng sau COVID-19 này có thực sự chỉ xảy ra với các bệnh nhân đã khỏi COVID-19 hay không. Theo TS. Ann Parker, Đại học Johns Hopkins ở Maryland, hầu như sau khi khỏi bất kỳ một căn bệnh nhiễm trùng nghiêm trọng nào, người bệnh đều cảm thấy yếu và mệt mỏi nhiều tháng sau đó. Các vấn đề về nhận thức và sức khỏe tâm thần như PTSD (rối loạn căng thẳng sau chấn thương tâm lý) cũng rất phổ biến, đặc biệt là ở những người bị bệnh nặng phải nhập viện và điều trị tại phòng điều trị tích cực.
TS. Keith lưu ý rằng, không chỉ những người bị bệnh nặng mới gặp vấn đề sau khi đã khỏi bệnh. Nhiều bệnh nhân không hết hoàn toàn các triệu chứng ban đầu. Nhiều người khác chỉ hồi phục một thời gian để sau đó lại phát triển các triệu chứng hoàn toàn mới có liên quan đến COVID-19.
Diana Berrent, một nhiếp ảnh gia quốc tế ở New York (Mỹ) là một trong số những người cảm thấy ổn trong một thời gian sau khi đã khỏi COVID-19, nhưng giờ đang đối mặt với những tình trạng sức khỏe như: đau tai giữa, đau đầu, buồn nôn và nhìn mờ. Ruby Engel (Westchester, New York) một bệnh nhân COVID-19 cho biết, từ sau khi khỏi COVID-19, cô thường xuyên khó thở, đánh trống ngực và đau ngực. Gần đây cô được chẩn đoán mắc bệnh cơ tim (suy yếu cơ tim). Engel cũng đã trải qua những đợt bùng phát của bệnh hen suyễn và trào ngược, những căn bệnh cô mắc phải trước khi mắc COVID-19 nhưng đã được kiểm soát tốt. Dường như loại virus này đã kích hoạt các vấn đề sức khỏe của cô trước đó.
Nguy cơ tiềm ẩn của hội chứng sau COVID-19Cho đến nay, chưa thống kê được có bao nhiêu người nhiễm COVID-19 sẽ bị các vấn đề sức khỏe kéo dài. Theo GS. Reynold Panettieri, Trường Y khoa Rutgers Robert Wood Johnson ở New Jersey, ước tính có khoảng 10% bệnh nhân sau khi khỏi COVID-19 sẽ phát triển những vấn đề sức khỏe hậu COVID-19 thành mạn tính. Tuy nhiên, theo GS. Panettieri, hầu hết sức khỏe của những người mắc hội chứng sau COVID-19 đều được cải thiện. Nhiều bệnh nhân nặng đã có thể trở lại mức bình thường trong vòng 3 hoặc 4 tháng.
TS. Keith cũng cho hay, nhiều bệnh nhân ho mạn tính, khó thở, biến chứng tim mạch và bệnh phổi... từ 3 đến 6 tháng sau khi bị nhiễm COVID-19, nhưng hầu hết các bệnh nhân đều dần khỏe lại.
Cho đến nay, đã có nhiều nghiên cứu về những người khỏi bệnh sau khi mắc COVID-19. Tháng 6 vừa qua, Viện Y tế, Phổi và Máu Quốc gia (NHLBI) đã khởi động Nghiên cứu quan sát COVID-19, trong đó tập trung vào những tác động lâu dài của loại virus này. Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh (CDC) cũng đang theo dõi các kết quả sau khi nhiễm COVID-19. Các nỗ lực nghiên cứu tương tự đang diễn ra trên phạm vi quốc tế.
Ngọc Nguyễn
((Theo Health.com 2020))
Người được ghép gan đầu tiên ở Việt Nam hi vọng được ghép gan lần 2
16 năm trước, năm 2004, cô bé Nguyễn Thị Diệp ở Hải Hậu, Nam Định, khi ấy 9 tuổi và đang học lớp 3 đã trở thành người đầu tiên được ghép gan tại Việt Nam, trong một ca ghép lịch sử thực hiện tại Viện Bỏng quốc gia, ê kíp y bác sĩ tham gia ca ghép đến từ Học viện Quân y, Bệnh viện 103, Bệnh viện Việt Đức, Bệnh viện Bạch Mai và cá chuyên gia Nhật Bản... Người hiến tặng gan cho Diệp là bố đẻ của em.
"Diệp được ghép gan và được cứu sống, cả gia đình chúng tôi hạnh phúc, Diệp cũng hạnh phúc lắm, dù không được khỏe như các bạn, nhưng Diệp cũng cố học hành để bằng các bạn bè, sau khi học xong phổ thông, Bệnh viện 103 lại hỗ trợ để Diệp được đi học hệ trung cấp ngành dược cổ truyền và vào làm việc tại Bệnh viện"- bà Thoa chia sẻ.
Diệp đã đi làm được hơn 1 năm, đây là lúc cô gái trẻ có cuộc sống tự lập, có công việc và đồng nghiệp. Nhưng từ tháng 11-2019 Diệp bắt đầu yếu, lá gan được ghép sau 15 năm đã bị xơ nhiều, kéo các chỉ số sức khỏe xuống. Khoảng 2 tháng trước, đại diện Bệnh viện đã trao đổi với gia đình là có dự án ghép gan lần 2 cho Diệp.
"Giờ đây khó khăn nhiều thứ: gan hiến tặng, tài chính cho ca ghép, chưa kể là Diệp đang bị động kinh nên càng khó khăn hơn. Vì sức khỏe Diệp yếu nên số cơn động kinh xuất hiện có tăng lên, một tuần trước cháu lên cơn động kinh 7-8 lần/ngày, đêm 19-10 cháu cũng lên cơn động kinh 2 lần. Nhưng giờ gia đình chúng tôi vẫn đang hy vọng một phép màu, Diệp được ghép gan lần 2 và được sinh ra lần thứ 3" - bà Thoa nói.
Theo PGS.TS Bùi Văn Mạnh (giám đốc Trung tâm Hồi sức và Chống độc Bệnh viện 103, thành viên ca ghép gan cho Nguyễn Thị Diệp), sau ca ghép 2-3 năm, người từng gặp cháu Diệp có dịp gặp lại cháu đều không nhận ra, cháu đã thay đổi rất nhiều. Năm 2018-2019 cháu trưởng thành, đến làm việc tại bệnh viện chúng tôi, tất cả mọi người đều vui mừng.
Tính từ ca ghép gan cho cô bé Diệp, sau 16 năm đến nay đã có 244 ca ghép gan được thực hiện, các Bệnh viện 103, 108, Bệnh viện Việt Đức, Bệnh viện Chợ Rẫy... đều đã ghép được gan và nhiều mô tạng khác. Trên thế giới, đã có người ghép gan sống được trên 30 năm. Tại Việt Nam, Diệp là bệnh nhân được ghép gan đầu tiên và đến nay đã trải qua 16 năm sống bằng lá gan mới (Tuổi trẻ, trang 14).
http://t5g.org.vn/diem-bao-ngay-21102020
Báo động trẻ thừa cân, thiếu chất
Tình trạng trẻ thừa cân, béo phì có xu hướng gia tăng đáng báo động, nhất là ở khu vực đô thị của Việt Nam. Không ít trẻ bị thừa cân nặng nhưng lại rơi vào tình trạng thiếu các chất dinh dưỡng cần thiết làm ảnh hưởng đến sự phát triển toàn diện. Trong khi đó, các bậc phụ huynh chưa nhận thức rõ vấn đề này để có giải pháp can thiệp kịp thời. Hệ quả của việc nhận thức không đúng.
Theo Viện Dinh dưỡng quốc gia (Bộ Y tế), tỷ lệ thừa cân, béo phì đang có xu hướng gia tăng nhanh chóng, nhất là ở khu vực đô thị. Cụ thể, tỷ lệ thừa cân, béo phì ở trẻ dưới 5 tuổi (năm 2019) là 9,7%. Kết quả điều tra của Viện Dinh dưỡng quốc gia tiến hành với 5.000 học sinh của 75 trường tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông thuộc 25 xã, phường tại một số tỉnh, thành phố cũng cho thấy, tỷ lệ thừa cân, béo phì chung ở học sinh là 29%.
Tỷ lệ này ở khu vực nông thôn là 17,8%; khu vực thành thị là 41,9%.
Dù tỷ lệ béo phì ở trẻ gia tăng nhưng theo một cuộc điều tra tại Hà Nội cũng do Viện Dinh dưỡng quốc gia thực hiện, có đến 53% phụ huynh khi được hỏi không nhận thức đúng tình trạng thừa cân của con em mình. Thậm chí, nhiều người còn thích con mập, cho con ăn đồ ăn nhanh, nhiều dầu mỡ, uống nước ngọt, bánh kẹo… khiến trẻ thừa cân nhưng lại thiếu vi chất dinh dưỡng.
Mới 4 tuổi nhưng con gái chị Lê Thu V. (ở quận Cầu Giấy, Hà Nội) đã nặng tới 25kg. Được khen “mát tay” nuôi con nên trong thời gian dài, chị V. thường ép con ăn mà không quan tâm đến việc con thừa cân. Đến khi con bị ốm, phải nhập viện điều trị, chị mới tá hỏa khi bác sĩ cho biết, bé bị thiếu chất dinh dưỡng.
Đưa con đến khám tại Viện Dinh dưỡng quốc gia, bác sĩ cho biết bé bị dư thừa chất béo, chất đạm nhưng lại thiếu một số vi chất, như: Canxi, sắt, kẽm…
Liên quan đến vấn đề này, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trương Tuyết Mai, Phó Viện trưởng Viện Dinh dưỡng quốc gia cho biết, chúng ta không nên nghĩ béo phì nghĩa là cái gì cũng thừa. Có những bé béo phì nhưng vẫn bị thiếu máu, thiếu sắt, thiếu canxi do chế độ ăn nhiều nhưng không đầy đủ các nhóm chất.
Thậm chí, ngày nay trẻ có xu hướng tiêu thụ nhiều thức ăn nhanh, thức ăn chế biến sẵn ít có lợi cho sức khỏe; ăn nhiều chất đạm (chủ yếu là thịt) so với nhu cầu, khả năng hấp thụ của cơ thể, trong khi đó lại ăn ít rau, trái cây và ăn chưa đủ nhu cầu về sữa và sản phẩm từ sữa.
Bác sĩ Trương Hồng Sơn, Viện trưởng Viện Y học ứng dụng Việt Nam cũng cho rằng, trẻ thừa cân, béo phì do khẩu phần ăn giàu năng lượng và protein nhưng mức độ tham gia các hoạt động thể lực lại thấp.
Qua khảo sát về thói quen vận động của trẻ đến khám tại Trung tâm Điều trị béo phì và hội chứng chuyển hóa của Viện Y học ứng dụng Việt Nam năm 2019 thì 88% trẻ thừa cân, béo phì dành nhiều thời gian xem ti vi, sử dụng thiết bị điện tử và ít tập luyện thể dục thể thao.
Theo số liệu thống kê, thời gian vận động ở nhóm trẻ béo phì trung bình là 49 phút/ngày, trong khi ở trẻ thường là 68 phút/ngày. Ngược lại, thời gian dành cho các hoạt động tĩnh, đặc biệt là xem tivi ở trẻ béo phì là hơn 82 phút/ngày (trẻ bình thường là 50 phút/ngày).
Tăng vận động, hạn chế thực phẩm kém lành mạnh
Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Lê Bạch Mai, nguyên Phó Viện trưởng Viện Dinh dưỡng quốc gia, chế độ dinh dưỡng cung cấp đủ chất như chất đạm, chất béo, chất bột đường, đặc biệt là các vi chất dinh dưỡng sẽ giúp trẻ tăng trưởng cả chiều cao, cân nặng và trí tuệ. Nếu chế độ dinh dưỡng không đầy đủ sẽ làm trẻ chậm tăng trưởng, hay mắc bệnh vào thời điểm giao mùa.
Đưa ra lời khuyên về chế độ dinh dưỡng bảo đảm cho sự phát triển toàn diện ở trẻ, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trương Tuyết Mai cho rằng, giai đoạn trẻ từ 6 đến 11 tuổi là thời điểm cơ thể phát triển mạnh cả về thể chất cũng như trí tuệ. Đây còn là giai đoạn tích lũy dưỡng chất để chuẩn bị cho quá trình dậy thì. Ở giai đoạn này, nếu trẻ bị thiếu hụt chất sẽ gây ảnh hưởng đến việc hoàn thiện tầm vóc cũng như trí lực khi bước vào giai đoạn trưởng thành.
“Ngoài việc cho trẻ ăn đa dạng thực phẩm, trong bữa ăn nên bổ sung rau xanh, hoa quả tươi, uống nước hoa quả. Hạn chế cho trẻ ăn các loại thực phẩm kém lành mạnh như đồ ăn nhanh, nước ngọt…”, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trương Tuyết Mai nói.
Bác sĩ Trương Hồng Sơn, Viện trưởng Viện Y học ứng dụng Việt Nam cũng đưa ra khuyến cáo, để trẻ phát triển toàn diện, ngoài chế độ dinh dưỡng hợp lý còn cần tăng hoạt động thể lực, thời gian hoạt động ở mức trung bình ít nhất 60 phút/ngày. Trẻ dưới hai tuổi không nên xem ti vi, trẻ lớn hơn chỉ được xem ti vi dưới 2 giờ/ngày hoặc dưới 14 giờ/tuần.
Mặt khác, trẻ cần ngủ đủ giấc để hỗ trợ hệ thống miễn dịch cũng như phát triển cơ thể toàn diện; với trẻ từ 0 đến 5 tuổi ngủ đủ 11 giờ/ngày, từ 5 đến 10 tuổi ngủ đủ 10 giờ/ngày, trên 10 tuổi ngủ đủ 9 giờ/ngày… (Hà Nội mới, trang 5).
http://t5g.org.vn/diem-bao-ngay-26102019
Fanpage
Youtube


















