Điểm báo từ ngày 6 đến ngày 12 tháng 11 năm 2018
12/11/2018
0
Điểm tin y tế từ các báo ngày 06 đến ngày 12 tháng 11 năm 2018
Công bố quyết định bổ nhiệm thứ trưởng bộ y tế Nguyễn Trường Sơn
Chiều ngày 9/11/2018, tại Hà Nội, Bộ Y tế đã long trọng tổ chức Lễ công bố Quyết định của Thủ tướng chính phủ bổ nhiệm Giám đốc Bệnh viện Chợ Rẫy Nguyễn Trường Sơn giữ chức Thứ trưởng Bộ Y tế.
Đến dự Lễ công bố có Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến; đồng chí Nguyễn Duy Thăng, Thứ trưởng Bộ Nội vụ; cùng đại diện Ủy Ban kiểm tra Trung ương, Văn phòng chính phủ, lãnh đạo các Vụ, Cục, Tổng cục, Văn phòng, Thanh tra Bộ Y tế, các đơn vị trực thuộc Bộ Y tế; đại diện lãnh đạo Bộ Nội vụ.
Trước đó ngày 2/11/2018 tại Quyết định số 1476/QĐ-TTg, Thủ tướng điều động, bổ nhiệm có thời hạn ông Nguyễn Trường Sơn, Giám đốc Bệnh viện Chợ Rẫy giữ chức vụ Thứ trưởng Bộ Y Tế.
Phát biểu tại Lễ công bố, Bộ trưởng Nguyễn Thi Kim Tiến chúc mừng đồng chí Nguyễn Trường Sơn được bổ nhiệm Thứ trưởng Bộ Y tế. Bộ trưởng mong muốn, với cương vị công tác mới, đồng chí Nguyễn Trường Sơn sẽ cùng tập thể lãnh đạo Bộ Y tế, Ban cán sự Đảng Bộ Y tế tạo thành một khối đại đoàn kết, thống nhất, phát huy sáng kiến cùng với ngành Y tế đưa hoạt động của Ngành ngày càng phát triển và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ mà Đảng, Chính phủ giao.
Nhận nhiệm vụ mới, Tân Thứ trưởng Nguyễn Trường Sơn bày tỏ quyết tâm, cố gắng trên tinh thần cao nhất, sát cánh đoàn kết với các thành viên trong ban lãnh đạo để những công việc chung của Bộ sẽ đạt được hiệu quả cao nhất. Đồng chí Nguyễn Trường Sơn cảm ơn sự tín nhiệm của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Bộ Y tế, Bộ Nội vụ… các cơ quan liên quan và Tân Thứ trưởng hứa sẽ kế thừa, phấn đấu tiếp bước những thế hệ đi trước, đóng góp vào sự nghiệp chăm sóc sức khỏe nhân dân. (Sức khỏe & đời sống, trang 2).
Phát hiện kháng sinh Pan- Amoclav trị nhiễm khuẩn đường hô hấp, tiết niệu giả
Cục Quản lý Dược vừa có thông báo phát hiện thuốc Pan-Amoclav - là kháng sinh kết hợp, được chỉ định điều trị các bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp, nhiễm khuẩn đường tiết niệu, nhiễm khuẩn đường mật, bệnh lậu… giả trên thị trường.
Theo đó, tại công văn số 21117/QLD-CL, Cục Quản lý Dược - Bộ Y tế thông báo thuốc kháng sinh giả Pan - Amiclav 1g có thông tin trên nhãn thuốc là Pan-Amoclav 1g (Amoxicllin & Acid Clavulanic), số lô: 0390618, hạn dùng: 180621, SĐK: VN-23986-17, nhà sản xuất: Panpharma S.A (Z1 Du Clairay-Lutre, 35 133 Forgeres-France), nhà nhập khẩu: Công ty TNHH MTV Dược Sài Gòn.
Cục Quản lý Dược cũng yêu cầu Sở Y tế các địa phương chỉ đạo bệnh viện công lập trực thuộc ngành, cơ sở y tế ngoài công lập, các doanh nghiệp kinh doanh thuốc, cơ sở bán lẻ thuốc trên địa bàn tuân thủ việc kinh doanh, mua bán thuốc có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng; rà soát hoạt động của cơ sở, nếu phát hiện thấy thuốc có thông tin như đã nêu, khẩn trương thông báo và phối hợp với cơ quan quản lý để có biện pháp xử lý.
Cục Quản lý dược cũng đề nghị các địa phương tuyên truyền trên các phương tiện truyền thông đại chúng về thông tin thuốc giả nói trên, nâng cao cảnh giác của người kinh doanh dược phẩm cũng như người dân.
Pan-Amoclav 1g là kháng sinh kết hợp, được chỉ định điều trị các bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp, nhiễm khuẩn đường tiết niệu, nhiễm khuẩn đường mật, bệnh lậu…
Liên quan đến thuốc giả này, Sở Y tế Hà Nội cũng đã có văn bản chỉ đạo các đơn vị y tế trong ngành triển khai thực hiện ngăn chặn thuốc giả Pan-Amoclav.
Để đảm bảo sức khỏe và quyền lợi của người tiêu dùng, Sở Y tế Hà Nội yêu cầu các cơ sở y tế công lập trực thuộc ngành, cơ sở y tế ngoài công lập, các doanh nghiệp kinh doanh thuốc, cơ sở bán lẻ thuốc trên địa bàn tuân thủ việc kinh doanh, mua bán thuốc có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng; rà soát hoạt động của cơ sở, nếu phát hiện thấy thuốc có thông tin như đã nêu, khẩn trương thông báo và phối hợp với cơ quan quản lý để có biện pháp xử lý.
Sở Y tế Hà Nội cũng yêu cầu Phòng y tế các quận, huyện, thị xã trên địa bàn thông báo đến cơ sở hành nghề trên địa bàn quản lý thực hiện kinh doanh thuốc có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng; tiến hành kiểm tra, giám sát việc thực hiện của các cơ sở. (Sức khỏe & đời sống, trang 2).
Gần 1.000 mẫu dược phẩm, mỹ phẩm, thuốc y học cổ truyền… không đạt chất lượng
Thời gian qua, các đơn vị trong ngành y tế đã kiểm tra, giám sát 44.826 mẫu dược phẩm, mỹ phẩm, thực phẩm chức năng (TPCN), dược liệu, vị thuốc y học cổ truyền. Kết quả phát hiện 946 mẫu không đạt tiêu chuẩn chất lượng, 417 mẫu bị đình chỉ lưu hành và thu hồi…
Bộ Y tế vừa ban hành Kế hoạch số 1136/KH-BYT tiếp tục triển khai Chỉ thị số 17/CT-TTg ngày 19/6/2018 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường đấu tranh chống buôn lậu, gian lận thương mại, sản xuất kinh doanh hàng giả, hàng kém chất lượng thuộc nhóm hàng dược phẩm, mỹ phẩm, thực phẩm chức năng.
Theo đó, từ tháng 11-2018 đến tháng 1-2019, Bộ Y tế thành lập 3 đoàn kiểm tra liên ngành nhằm đánh giá thực trạng hoạt động cấp phép sản xuất, lưu hành, quảng cáo, giám định, chứng nhận chất lượng, chứng nhận hợp quy, hợp chuẩn đối với lĩnh vực, mặt hàng dược phẩm, mỹ phẩm, thực phẩm chức năng (TPCN) dược liệu, vị thuốc y học cổ truyền của một số cơ quan, đơn vị.
Các đoàn kiểm tra liên ngành sẽ thanh, kiểm tra các cơ sở sản xuất, kinh doanh thuốc, mỹ phẩm, TPCN, dược liệu, vị thuốc y học cổ truyền tại 18 tỉnh, thành. Ngoài các đoàn liên ngành trung ương, Sở Y tế các tỉnh, thành cũng sẽ kiểm tra hoạt động này…
Đồng thời, cơ quan chức năng cũng tăng cường công tác đấu tranh chống buôn lậu, gian lận thương mại, sản xuất, kinh doanh hàng giả, hàng kém chất lượng đối với các mặt hàng trên trước, trong và sau dịp Tết Nguyên đán Kỷ Hợi 2019.
Bộ Y tế cho biết, từ năm 2017 đến hết 6 tháng đầu năm 2018, các đơn vị trong ngành y tế đã kiểm tra, giám sát 44.826 mẫu dược phẩm, mỹ phẩm, TPCN, dược liệu, vị thuốc y học cổ truyền. Trong đó có 946 mẫu không đạt tiêu chuẩn chất lượng, 417 mẫu bị đình chỉ lưu hành và thu hồi, 903 phiếu công bố sản phẩm mỹ phẩm bị thu hồi.
Chỉ tính riêng Thanh tra Bộ Y tế từ đầu năm đến nay đã xử phạt vi phạm hành chính 27 cơ sở sản xuất kinh doanh dược phẩm, mỹ phẩm, TPCN với tổng số tiền xử phạt trên 983 triệu đồng. (An ninh thủ đô, trang 4).
Siết chặt thanh tra, kiểm tra, ngăn chặn trục lợi bảo hiểm y tế
Theo số liệu mới nhất của Bảo hiểm xã hội Việt Nam, hiện tại 63/63 tỉnh, thành phố đã sử dụng vượt quỹ khám chữa bệnh BHYT. Bên cạnh lý do tăng chi phí khám chữa bệnh do tăng giá viện phí còn có nguyên nhân từ tình trạng trục lợi BHYT.
Bảo hiểm xã hội Việt Nam cho biết, thời gian qua, các cơ quan chức năng đã phát hiện ra nhiều bất thường trong khám, chữa bệnh BHYT tại một số bệnh viện, cơ sở y tế tại nhiều địa phương. Dù các cơ quan bảo hiểm xã hội đã quyết liệt xử lý và từ chối thanh toán đối với những chi phí bất hợp lý nhưng vẫn chưa thể giải quyết dứt điểm.
Cập nhật số liệu mới nhất về việc sử dụng quỹ khám chữa bệnh BHYT, Bảo hiểm xã hội Việt Nam cho biết, đến nay 63/63 tỉnh, thành phố sử dụng vượt mức cho phép. Trong đó, chín tỉnh, thành phố có tỷ lệ sử dụng vượt khoảng 30 % như Bình Dương, Cần Thơ, Đồng Tháp, Khánh Hòa, Kiên Giang, Quảng Nam, Quảng Ninh, Tiền Giang, Vĩnh Long.
Tại Hà Nội, mới đây, trong buổi làm việc giữa Đoàn giám sát Ban Văn hóa - Xã hội HĐND TP Hà Nội với Bảo hiểm xã hội Hà Nội, Sở Y tế về việc chấp hành các quy định của pháp luật về khám, chữa bệnh và công tác quản lý, sử dụng Quỹ BHYT của các cơ sở y tế công lập, Giám đốc Bảo hiểm xã hội Hà Nội Nguyễn Đức Hòa cho biết, chín tháng đầu năm, bội chi quỹ BHYT trên địa bàn đã lên đến khoảng 600 tỷ đồng.
Nguyên nhân được chỉ ra, một phần do tăng giá dịch vụ y tế, trong đó có nhiều giá bất hợp lý. Ngoài ra, do thông tuyến khám chữa bệnh và chỉ định thuốc, vật tư y tế, dịch vụ kỹ thuật và chỉ định vào điều trị nội trú không hợp lý.
Bảo hiểm xã hội Hà Nội cũng đã phát hiện một số dịch vụ kỹ thuật có quy trình thực hiện giống nhau nhưng giá khác nhau và chênh lệch nhiều, trong đó các bệnh viện thường lựa chọn dịch vụ kỹ thuật có giá cao hơn để thanh toán.
Bên cạnh đó, cơ cấu giá tính BHYT cho một ngày giường bệnh có cả phòng vệ sinh riêng, có điều hòa bật 24/24 giờ, có chế độ chăm sóc bệnh nhân, tuy nhiên, thực tế đi kiểm tra, bệnh viện không bật điều hòa, cơ sở vật chất và nhân lực không đáp ứng. Đặc biệt là tình trạng bệnh nhân đông y và liên chuyên khoa chỉ nằm viện ban ngày, các khoa khác vắng nhiều, thậm chí ở cả khoa hồi sức tích cực nhưng vẫn chi trả điều trị nội trú…
Nêu giải pháp quản lý quỹ BHYT hiệu quả bà Đàm Thị Hòa, Phó Giám đốc BHXH Hà Nội cho rằng, quan trọng nhất là phải thanh toán đúng đối tượng hưởng, đúng mục đích sử dụng, vừa bảo đảm cân bằng quỹ mà vẫn phải bảo đảm quyền lợi khám chữa bệnh của người dân.
Để việc thanh toán chi phí khám chữa bệnh BHYT đúng các quy định hiện hành, các cơ sở khám chữa bệnh cần thực hiện nghiêm túc việc gửi dữ liệu lên hệ thống, tổ chức khám chữa bệnh và có kế hoạch sử dụng hiệu quả, hợp lý trong phạm vi dự toán năm 2018 đã được UBND TP Hà Nội giao.
Cơ sở khám chữa bệnh chỉ đề nghị thanh toán các chi phí trong quy định, không đề nghị thanh toán các chi phí ngoài quy định tại các văn bản hướng dẫn của Bộ Y tế.
Theo ông Trần Thế Cương, Trưởng ban chuyên trách Ban Văn hóa - Xã hội HĐND TP Hà Nội, trong quá trình giám sát việc chấp hành các quy định của pháp luật về khám chữa bệnh cho nhân dân và công tác quản lý sử dụng quỹ BHYT, đoàn giám sát đã tiếp nhận hơn 60 kiến nghị, đề xuất từ các đơn vị.
Để việc quản lý, sử dụng quỹ khám chữa bệnh BHYT đạt hiệu quả, ông Trần Thế Cương đề nghị, trong thời gian tới Bảo hiểm xã hội thành phố và Sở Y tế cần phối hợp với nhau trong việc thanh tra, kiểm tra các cơ sở khám, chữa bệnh BHYT nhằm bảo đảm quyền lợi người bệnh; giải quyết các vướng mắc trong thanh, quyết toán của các cơ sở khám, chữa bệnh BHYT.
Đồng thời, cần đề xuất với Bộ Y tế, Bảo hiểm xã hội Việt Nam sớm thực hiện việc tính đủ cơ cấu giá khám, chữa bệnh và bảo đảm chi phí hoạt động thường xuyên; tiếp tục hoàn chỉnh các quy trình kỹ thuật chuyên môn để nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh... (An ninh thủ đô, trang 7).
Chuyên gia Bộ Y tế đề nghị quy định văn bằng bác sĩ phải cao hơn cử nhân
Theo TS. Nguyễn Minh Lợi, Phó Cục trưởng Cục Khoa học Công nghệ và Đào tạo - Bộ Y tế, trình độ, văn bằng của bác sĩ chuyên khoa sâu (chuyên khoa 1, 2, bác sĩ nội trú) chỉ quy định tương đương với trình độ cử nhân, thạc sĩ như hiện nay là không phù hợp.
Liên quan đến Luật Giáo dục đại học được Quốc hội cho ý kiến tại kỳ họp này, TS. Nguyễn Minh Lợi, Phó Cục trưởng Cục Khoa học công nghệ và Đào tạo, Bộ Y tế - thành viên Tổ tư vấn đổi mới của Bộ Y tế đã có những góp ý về một số quy định tại dự thảo luật từ góc độ của ngành y.
Theo TS. Nguyễn Minh Lợi, việc sửa đổi Luật Giáo dục đại học lần này có ý nghĩa rất lớn - đây là cơ hội lịch sử vì nếu không chúng ta sẽ làm chậm sự phát triển và hội nhập quốc tế thêm ít nhất là 10 năm nữa. Tuy nhiên, một số vấn đề liên quan đến đào tạo nhân lực y tế chưa thể hiện được tính nhất quán, đồng bộ trong dự thảo Luật, nhất là nội dung về trình độ và văn bằng giáo dục đại học.
Cụ thể, TS. Nguyễn Minh Lợi phân tích, để trở thành người bác sĩ hành nghề chuyên môn, sau khi hoàn thành chương trình đào tạo 6 năm ở trường đại học, người học còn phải đào tạo chuyên khoa, chuyên sâu và thường xuyên đào tạo cập nhật, phát triển nghề nghiệp, điều này khác hẳn với các chương trình đào tạo cử nhân thường chỉ học 4 năm đại học.
Hơn nữa, chương trình đào tạo, năng lực của chuyên khoa và chuyên khoa sâu (ở Việt Nam hiện nay là đào tạo bác sĩ chuyên khoa 1, chuyên khoa 2 và bác sĩ nội trú) cũng khác hẳn chương trình và năng lực đầu ra của thạc sĩ, tiến sĩ.
“Do vậy, đối với những đối tượng này không thể hòa cùng với trình độ và văn bằng cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ. Rất tiếc là điều này chưa được thể hiện trong Dự thảo Luật giáo dục đại học, nên cần thiết phải quy định về loại hình trình độ và văn bằng này trong dự thảo Luật” – TS Lợi nêu quan điểm.
Hiện tại, Luật giáo dục hiện hành của Việt Nam chỉ quy định các văn bằng được đào tạo gồm bác sĩ, dược sĩ, kỹ sư, không quy định trình độ và văn bằng chuyên sâu (trong y tế có chuyên khoa 1, chuyên khoa 2 và nội trú). Trong dự thảo Luật giáo dục đại học cũng không nói rõ về nội dung này.
“Câu hỏi đặt ra là các chương trình đào tạo bác sĩ, chuyên khoa, chuyên khoa sâu sau đào tạo bác sĩ thì là tương đương với chương trình đào tạo của trình độ nào? Quy định ở đâu? Các chương trình đào tạo này không thể tương đương với chương trình cử nhân, thạc sĩ hay tiến sĩ vì đây là theo định hướng đào tạo chuyên sâu nên phải quy định trình độ cụ thể như các nước đã làm” – ông Lợi nêu quan điểm.
Từ những phân tích đó, vị chuyên gia thành viên Tổ tư vấn đổi mới của Bộ Y tế góp ý nên quy định văn bằng chuyên gia đối với một số ngành đào tạo theo định hướng nghề nghiệp chuyên sâu.
“Tôi đề nghị cần ghi rõ trong Điều 6 dự thảo Luật là "Các trình độ đào tạo của giáo dục đại học quy định tại Luật này bao gồm trình độ đại học, trình độ thạc sĩ, trình độ tiến sĩ, trình độ chuyên gia", Điều 38 là "Văn bằng giáo dục đại học thuộc hệ thống giáo dục quốc dân gồm: bằng cử nhân, bằng thạc sĩ, bằng tiến sĩ, bằng chuyên gia"...” – TS Lợi nói. (An ninh Thủ đô, trang 2)
Cùng chủ đề Báo Sài Gòn giải phóng, trang 2: “Cần quy định đặc thù với văn bằng người làm nghề y”
Giảm gánh nặng từ các bệnh không lây nhiễm: Cần sự vào cuộc
của cả cộng đồng
|
Các bệnh không lây nhiễm (BKLN) gồm tăng huyết áp, đái tháo đường, tim mạch, ung thư, rối loạn tâm thần, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính… hiện nay đã và đang trở thành gánh nặng của nhiều quốc gia trên thế giới, nhất là đối với các nước đang phát triển, cả các nước kém phát triển. Nhằm từng bước giảm bớt gánh nặng đến từ các BKLN, Chính phủ, ngành y tế đã ban hành và triển khai nhiều cơ chế, chính sách và những giải pháp để ngăn chặn sự gia tăng tỷ lệ người dân mắc các bệnh này. |
|
Báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) cho thấy, trong tổng số gần 57 triệu người chết (năm 2016) trên thế giới, thì có đến 40,5 triệu người chết do các BKLN (chiếm 71%). Đáng chú ý, có đến hơn 31,5 triệu người chết do các BKLN xảy ra ở các nước có thu nhập thấp và trung bình, trong đó có khoảng 46% số người chết xảy ra trước tuổi 70 ở các quốc gia này. Theo báo cáo toàn cầu về BKLN của WHO, bệnh tim mạch chiếm tỷ lệ 46%; tiếp đến là ung thư 22%; bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) chiếm 10% về nguyên nhân tử vong do BKLN mọi độ tuổi. Đông - Nam Á và Tây Thái Bình Dương là những khu vực có tỷ lệ chết do BKLN cao so với các khu vực khác trên thế giới. Ước tính thiệt hại về kinh tế do bốn nhóm BKLN chính chiếm khoảng 47 nghìn tỷ USD trong vòng 20 năm tới. Tại Việt Nam, theo Phó Cục trưởng Y tế dự phòng (Bộ Y tế) Trương Đình Bắc, các BKLN là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong. Cứ mười người chết, thì có bảy người chết do các BKLN. WHO ước tính mỗi năm Việt Nam có hơn 520 nghìn người chết, thì trong đó chết do các BKLN khoảng 379 nghìn người (chiếm 73%) và 43% trong số này chết trước 70 tuổi. Tỷ lệ số dân mắc bệnh tăng huyết áp là 25%; đái tháo đường, bệnh tiểu đường là 5,8%, ở nhóm tuổi 20 đến 79 tuổi; bệnh COPD trong cộng đồng từ 15 tuổi trở lên là 2,2%. Cũng như nhiều nước khác trên thế giới, gánh nặng ung thư tại Việt Nam ngày càng gia tăng, với hơn 164 nghìn ca mới; gần 115 nghìn người chết do bệnh ung thư mỗi năm. Đáng lo ngại, phần lớn người bệnh bị ung thư ở Việt Nam thường đến khám, điều trị ở giai đoạn muộn, cho nên việc điều trị càng khó khăn, tốn kém… và đạt hiệu quả thấp. Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Viết Tiến cho rằng: Các BKLN hiện đang là vấn đề thời sự quan trọng của y học tất cả các quốc gia trên thế giới. Mọi lứa tuổi, mọi giới, mọi vùng địa lý đều có thể bị tác động của BKLN. Tỷ lệ mắc các BKLN thường rất cao ở các nước có thu nhập thấp, hoặc trung bình. BKLN không chỉ là vấn đề sức khỏe, mà còn là sự thách thức cho sự phát triển kinh tế - xã hội, là nguyên nhân dẫn đến đói nghèo do chi phí chữa bệnh rất lớn và làm giảm năng suất lao động. Tại Việt Nam, do tác động của biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường, chế độ dinh dưỡng, tỷ lệ người cao tuổi tăng nhanh và các dịch bệnh mới xuất hiện đã và đang tạo nhiều áp lực và thách thức cho ngành y tế. Mặt khác, hiện nay Việt Nam còn đang phải đối mặt sự gia tăng ngày càng trầm trọng và gánh nặng bệnh tật và tử vong do các BKLN gây ra. Mặc dù ngành y tế có rất nhiều nỗ lực trong việc kiểm soát, song tình trạng gia tăng căn bệnh này ở Việt Nam vẫn đang ở mức báo động. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng nêu trên là do nhiều người dân chưa có ý thức phòng ngừa bệnh; ô nhiễm môi trường; tỷ lệ người dân hút thuốc, sử dụng rượu, bia cao; chế độ dinh dưỡng chưa phù hợp (Nhân dân, trang 5). |
|
Dự phòng bằng cách kiểm soát những yếu tố nguy cơ |
|
Nguy cơ mắc bệnh không lây nhiễm (BKLN) chủ yếu do lối sống có hại cho sức khỏe, cũng như các yếu tố môi trường không thuận lợi gây nên. Do vậy, kiểm soát tốt các yếu tố nguy cơ cũng là biện pháp phòng bệnh hiệu quả nhất. |
|
Việt Nam hiện là một trong những quốc gia đang phải đối mặt với gánh nặng bệnh tật kép. Ngoài các bệnh truyền nhiễm thì các BKLN vẫn đang có những diễn biến phức tạp, gia tăng nhanh chóng, xảy ra ở mọi nhóm tuổi khác nhau. Các chuyên gia lĩnh vực y tế cho biết, bên cạnh yếu tố khách quan do quá trình toàn cầu hóa, đô thị hóa, già hóa dân số và các yếu tố xã hội khác, thì nguyên nhân chủ yếu thuộc về các hành vi, lối sống sinh hoạt thiếu lành mạnh hằng ngày như hút thuốc lá, dinh dưỡng không hợp lý, ít hoạt động thể lực, sử dụng rượu, bia ở mức có hại… Kết quả điều tra quốc gia yếu tố nguy cơ các BKLN (STEPS) do Bộ Y tế thực hiện cho thấy: Có hơn 77% nam giới uống rượu, bia, trong đó có 44% uống ở mức nguy hại; có khoảng 57,2% số dân trưởng thành ăn thiếu rau quả so với khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) là 400g/ngày, trong đó nam giới chiếm 63,1% và nữ giới chiếm khoảng 51,4%; có gần một phần ba số dân thiếu hoạt động thể lực so với khuyến cáo của WHO (có hoạt động thể lực cường độ trung bình ít nhất 150 phút/tuần hoặc tương đương); 15,6% số người dân Việt Nam hiện đang bị thừa cân béo phì và tỷ lệ này đang có xu hướng tăng nhanh theo thời gian (Nhân dân, trang 5). |
Tranh luận về đào tạo nhân lực ngành y tế: Quy định trình độ tương đương sẽ không minh bạch và khó kiểm soát
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học (GDĐH) sẽ được trình Quốc hội tại kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa XIV trong ngày 6-11. Tuy vậy, một số vấn đề liên quan đến đào tạo nhân lực y tế trong Dự thảo luật GDĐH vẫn chưa đạt được sự thống nhất, đồng thuận trong cách hiểu giữa hai Bộ, đặc biệt là từ phía Bộ Y tế.
Một số ý kiến từ Bộ Y tế cho rằng, dự thảo Luật GDĐH hiện chưa đề cập đến đặc thù trong đào tạo nhân lực y tế, trong đó có nội dung rất quan trọng của Luật là về trình độ và văn bằng giáo dục đại học. Chia sẻ với báo chí về vấn đề này, Bà Nguyễn Thị Kim Phụng, Vụ trưởng Vụ Giáo dục đại học, Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) khẳng định, việc quy định tên văn bằng gắn với tên vị trí việc làm (bác sỹ, dược sỹ, kỹ sư, kiến trúc sư…) trong hệ thống giáo dục quốc dân không phổ biến trên thế giới.
PV: Bộ Y tế cho rằng, Dự thảo Luật GDĐH hiện chưa đề cập đến tính đặc thù trong đào tạo nhân lực y tế, trong đó có nội dung rất quan trọng là trình độ và văn bằng GDĐH. Ý kiến của Ban soạn thảo về vấn đề này?
Bà Nguyễn Thị Kim Phụng: Khi sửa Luật GDDH, tiếp thu ý kiến của Bộ Y tế, ở một số Dự thảo trước, Ban soạn thảo đã đưa vào nhiều quy định về nhân lực (bác sĩ, dược sĩ…) như Điều 6 (quy định về trình độ đào tạo), Điều 33 (mở ngành đào tạo), Điều 37 (Tổ chức đào tạo), Điều 38 (Cấp văn bằng chứng chỉ), Điều 45 (liên kết đào tạo)... và giao cho Chính phủ quy định chi tiết các vấn đề đó. Tuy nhiên, trong quá trình lấy ý kiến góp ý của các chuyên gia, các Đoàn ĐBQH, Ban soạn thảo nhận được nhiều ý kiến khác nhau. Một số ý kiến cho rằng, các trình độ của GDĐH chỉ nên là Cử nhân, ThS, tiến sĩ như hầu hết các nước khác.
Nếu quy định trình độ tương đương thì không minh bạch; khó có cơ chế kiểm soát. Nếu quá nhiều điều giao cho Chính phủ quy định sẽ làm rối và có thể làm giảm hiệu lực của văn bản Luật…Để văn bản Luật có tính liền mạch, ổn định, tránh tình trạng mỗi điều, mỗi vấn đề lại có quy định riêng bên cạnh, đồng thời giao cho Chính phủ quy định cụ thể về quy định riêng đó (như đề xuất trong một số văn bản của Bộ Y tế); để thuận lợi trong quá trình hướng dẫn, tra cứu, triển khai và áp dụng vào điều kiện thực tế của Việt Nam, Ban soạn thảo đã tổng hợp các vấn đề cần quy định riêng trong nội dung sửa Điều 73 và giao cho Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành về xác định chỉ tiêu tuyển sinh, thời gian đào tạo, chương trình đào tạo, điều kiện tổ chức đào tạo, quản lý đào tạo, trình độ tương đương, văn bằng, chứng chỉ.
Ngoài Điều 73 quy định tổng hợp về 8 vấn đề cần quy định riêng cho chương trình định hướng nghề nghiệp chuyên sâu phù hợp với lĩnh vực sức khoẻ và một số lĩnh vực khác, Dự thảo còn 3 điều có quy định riêng cho lĩnh vực sức khoẻ là Điều 33 (mở ngành đào tạo), Điều 37 (Tổ chức đào tạo), Điều 45 (liên kết đào tạo). Như vậy, có thể nói hầu hết các đề xuất của Bộ Y tế đã được Ban soạn thảo tiếp thu, chỉ khác về kỹ thuật thể hiện trong Dự thảo mà thôi.
PV: Bộ y tế cho rằng, trong đào tạo y khoa là đào tạo song song theo cả 2 hướng hàn lâm và chuyên nghiệp, do vậy, nếu không quy định về trình độ cụ thể cho đối tượng đào tạo nhân lực này trong Luật, mà giao Chính phủ quy định về xác định chỉ tiêu, thời gian đào tạo… như ở Điều 73, sẽ chỉ làm rối hệ thống thêm mà không giải quyết được việc nâng cao chất lượng nhân lực ngành y tế. Quan điểm của bà như thế nào về ý kiến này?
Bà Nguyễn Thị Kim Phụng: Theo kinh nghiệm ở một số nước trên thế giới thì việc quản lý tổ chức đào tạo, quy định trình độ nghề và cấp chứng chỉ nghề nghiệp chuyên sâu thường thuộc thẩm quyền của hiệp hội nghề nghiệp hoặc của cơ quan quản lý chuyên môn.
Việc quy định tên văn bằng gắn với tên vị trí việc làm (bác sỹ, dược sỹ, kỹ sư, kiến trúc sư…) trong hệ thống giáo dục quốc dân không phổ biến trên thế giới, chỉ gặp trong mô hình đào tạo của Liên xô và một số nuớc Đông Âu trước đây.
Tuy nhiên, trong chuơng trình đào tạo lấy văn bằng của một số nước có tích hợp dạy một số học phần kỹ năng nghề nghiệp chuyên sâu. Những người đã học chương trình đó để lấy văn bằng có thể đuợc miễn các học phần này khi tham gia các chương trình đào tạo nghề nghiệp chuyên sâu.
Ban soạn thảo đã tham khảo Luật Giáo dục Đại học của một số nước như Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan, Malaysia Indonesia , Đức, Trung Quốc… thì chưa thấy có nước nào quy định về đào tạo bác sĩ chuyên khoa, bác sỹ nội trú trong Luật GDĐH.
Đồng thời, việc quy định như trong Dự thảo là phù hợp với phát biểu của Bộ trưởng Nguyễn Thị Kim Tiến tại Quốc Hội ngày 27/10/2018 là việc đào tạo nhân lực y tế “Đi theo hai hệ, một hệ hàn lâm là thạc sĩ, tiến sĩ, phó giáo sư là giảng dạy, nghiên cứu, còn hệ thực hành là bác sĩ chuyên khoa, rất quý giá trong thực hành. Hai hệ đó hoàn toàn khác nhau, không thể nói tương đương, không thể nói hệ này kém hệ kia mà mỗi hệ là một nghề, mặc dù chúng ta có thể gọi là bác sĩ.”
PV: Dự thảo đang quy định tiêu chuẩn giảng viên đại học tối thiểu là thạc sĩ, tiến sĩ. Trong khi đó, các bác sĩ công tác tại các bệnh viện chủ yếu là những người có bằng chuyên khoa 1, chuyên khoa 2 hay nội trú có trình độ chuyên môn tay nghề rất giỏi và đang tham gia giảng dạy, vậy thì công nhận họ thế nào, thưa bà?
Bà Nguyễn Thị Kim Phụng: Quy định chuẩn của chức danh giảng viên giảng dạy trình độ đại học là thạc sĩ trở lên không phải là vấn đề mới trong Dự thảo lần này mà đã có từ Luật GDĐH 2012. Khái niệm chuẩn giảng viên trong Luật GDĐH của hầu hết các nước đều đề cập đến là trình độ và văn bằng của các giảng viên giảng dạy tại cơ sở giáo dục đại học, theo hệ thống văn bằng giáo dục quốc gia.
Đa số các nước trong khu vực và trên thế giới còn quy định chuẩn giảng viên trong cơ sở GDĐH phải là tiến sĩ. Theo Luật hiện hành và tiếp nối theo Dự thảo, đối với người giảng dạy thực hành tại các cơ sở thực hành của khối ngành sức khoẻ có bằng chuyên khoa 1, chuyên khoa 2 hay nội trú vẫn là giảng viên, nếu đáp ứng các quy định của Nghị định số 111/2017 của CP. Nếu đồng thời có bằng ThS trở lên thì giảng viên đó được tính hệ số 1,0. Nếu chưa có bằng ThS trở lên thì giảng viên đó được tính hệ số giảng viên thấp hơn.
PV: Xin cảm ơn bà! (Công an Nhân dân, trang 6)
Đưa chất lượng phòng xét nghiệm vào tiêu chí đánh giá bệnh viện
Nghị định số 146/2018/NĐ-CP của Chính phủ về Quy định chi tiết và hướng dẫn biện pháp thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm y tế (BHYT) vừa được ban hành ngày 17-10-2018 sẽ chính thức có hiệu lực từ ngày 1-12-2018. Nghị định 146 vừa có thêm quy định bổ sung quỹ BHYT sẽ thanh toán trong trường hợp cơ sở khám, chữa bệnh (KCB) gửi mẫu bệnh phẩm, chuyển bệnh nhân đến cơ sở khác để thực hiện dịch vụ xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh. Trước thông tin liệu quy định này có dẫn tới việc lợi dụng để trục lợi quỹ BHYT, ông Vũ Trọng Khoa cho hay, Bộ Y tế đã ban hành tiêu chuẩn đánh giá xét nghiệm và danh mục xét nghiệm được liên thông để công nhận kết quả với ba lĩnh vực: huyết học, hóa sinh và vi sinh.
Việc chuyển mẫu bệnh phẩm đến cơ sở khác sẽ giúp người bệnh thuận lợi, được bảo đảm quyền lợi trong hưởng BHYT vì người bệnh được sử dụng xét nghiệm theo yêu cầu của chuyên môn.
Năm 2018, Bộ đang đánh giá chất lượng xét nghiệm của các bệnh viện hạng 1. Sau đó, Bộ sẽ công bố kết quả này để các bệnh viện có chất lượng xét nghiệm tương đương nhau có thể liên thông, bệnh viện ở mức thấp hơn phải sử dụng kết quả xét nghiệm ở bệnh viện ở mức cao hơn, giảm thiểu chi phí xét nghiệm trong thời gian tới. (Sức khỏe & Đời sống, trang 2)
Phẫu thuật nối ngón chân lên thay thế ngón tay cái
Do ngón tay cái có chức năng rất quan trọng, chiếm tới 50% chức năng của bàn tay, nên nhiều trường hợp không may bị tai nạn cụt ngón tay cái đã được Bệnh viện Việt Đức phẫu thuật chuyển ngón chân lên thay thế ngón tay cái…
Sáng nay, 8-11, thông tin tới báo chí, Bệnh viện Việt Đức cho biết, thời gian gần đây Bệnh viện đã thực hiện nhiều ca phẫu thuật chuyển ngón chân lên thay thế ngón tay cái nhằm phục hồi chức năng bàn tay cho các bệnh nhân không may khuyết tật hoặc bị tai nạn cụt mất ngón tay cai.
Lý do khiến các bác sĩ thực hiện kỹ thuật này vì ngón tay cái chiếm tới 50% chức năng bàn tay, có vai trò như một bên của gọng kìm nên nếu mất một bên sẽ làm khả năng cầm nắm, lao động hạn chế. Việc phẫu thuật phục hồi ngón tay cái bằng cách chuyển ngón chân lên thay đã giúp trả lại khả năng lao động cũng như chức năng bàn tay cho nhiều người kém may mắn.
TS.BS Đào Văn Giang, Phó Trưởng Khoa Tạo hình-Hàm mặt-Thẩm mỹ (Bệnh viện Việt Đức) cho biết, việc chuyển ngón chân lên thay thế cho ngón tay cái được thực hiện bằng kỹ thuật vi phẫu là chuyển cả phức hợp một ngón chân (bao gồm da, gân, móng chân), sau đó dùng vi phẫu nối mạch máu thần kinh... để phục hồi ngón cái.
Khi lấy ngón chân thay thế, các bác sĩ sẽ chọn ngón cái hoặc ngón trỏ ngay cạnh ngón cái, tùy thuộc vào sự tương đồng với ngón tay cái. Thông thường các bác sĩ lấy ngón chân giữa cạnh ngón cái vì có sự tương đồng, thẩm mỹ đẹp, chức năng của bàn chân không bị ảnh hưởng nhiều.
Khi chuyển ngón chân lên, các bác sĩ sẽ kết hợp xương, nối gân, mạch máu và nối thần kinh. Thời gian phẫu thuật thông thường mất khoảng 6-8 tiếng. Kết quả là ngón cái sau khi phục hồi có đầy đủ chức năng gập, duỗi và có thể cảm giác. (An ninh thủ đô, trang 8).
Fanpage
Youtube


















