Điểm báo điện tử ngày 03/7/2017
03/07/2017
0
Trung Quốc lai tạo thành công gạo tím phục vụ việc chữa bệnh ung thư
Các nhà khoa học Trung Quốc đã lai tạo thành công loại gạo tím biến đổi gene giàu chất chống oxy hóa phục vụ việc chữa trị bệnh ung thư và các bệnh khác.
Hãng tin Tân hoa xã ngày 2/7 dẫn kết quả nghiên cứu được công bố trên tạp chí Molecular Plant cho biết lợi ích đối với sức khỏe con người của loại gạo mới này là do nó giàu hợp chất mầu hữu cơ tự nhiên anthocyanin.
Hợp chất này nằm trong nhóm sắc tố để tạo nên chất chống oxy hóa và nhiều màu sắc khác nhau cho hoa mầu và cây trái.
Theo công trình nghiên cứu trên, việc ăn nhiều gạo giàu hợp chất anthocyanin mang lại rất nhiều lợi ích cho sức khoẻ của con người, làm giảm các nguy cơ của một số căn bệnh ung thư, tim mạch, tiểu đường và các căn bệnh mãn tính khác.
Loại hợp chất này có ở nhiều loại hoa quả và rau có màu tím, màu đỏ và màu xanh.
Trước đây, các nỗ lực sử dụng kỹ thuật biến đổi gene để sản xuất hợp chất anthocyanin trong gạo đã thất bại do quá trình trao đổi chất diễn ra hết sức phức tạp.
Nhà nghiên cứu Yao-Guang Liu thuộc Đại học Nông nghiệp Nam Trung Hoa và các cộng sự lần đầu tiên xác định được các gene có liên quan đến việc tạo thành hợp chất anthocyanin trong các loại gạo khác nhau.
Các nhà khoa học đã phát triển cái gọi là "hệ thống sử dụng hoán đổi gene năng suất cao" và sử dụng 8 gene cần thiết để sản xuất hợp chất anthocyanin trong các loại gạo, với mong đợi tạo ra loại gạo tím giàu hợp chất màu hữu cơ tự nhiên và hoạt tính cao chống oxy hóa.
Nhà nghiên cứu Yao-Guang Liu nhấn mạnh "đây là can thiệp đầu tiên của kỹ thuật biến đổi gien trong chuỗi phản ứng phức hợp ở thực vật." Kế hoạch của các nhà khoa học trong tương lai là có thể sử dụng kỹ thuật trên để sản xuất các chất dinh dưỡng quan trọng và các tiền chất sản xuất thuốc chữa bệnh.
Hiện, các nhà nghiên cứu đang có kế hoạch kiểm chứng độ an toàn của gạo tím mới trong quá trình trao đổi sinh hóa ở thức ăn và cố gắng dùng kỹ thuật biến đổi gene để tổng hợp chất anthocyanin trong các loại cây trồng khác như các loại ngũ cốc có màu tím./.
Việc cần làm ngay khi nghi ngờ bị phơi nhiễm HIV
Khi bị nghi ngờ phơi nhiễm HIV, cần phải tiến hành xét nghiệm và điều trị dự phòng bằng thuốc ARV.
Sau sự việc 24 người bị phơi nhiễm HIV khi cứu người bị tai nạn giao thông (trong đó có 1 trường hợp nhiễm HIV đã tử vong), rất nhiều người đã đặt ra những câu hỏi như: Phơi nhiễm HIV là gì? Khi tiếp xúc với người nhiễm HIV cần phải làm gì? Nếu nghi ngờ bị phơi nhiễm HIV thì phải xử lý như thế nào?...
Để trả lời câu hỏi trên, BS Nguyễn Hải Hà – khoa Nội (Bệnh viện 09 Hà Nội) cho biết, thực chất phơi nhiễm HIV chỉ là thuật ngữ dùng để chỉ sự tiếp xúc niêm mạc hay da của người không bị bệnh với máu, mô hay các dịch cơ thể của người nhiễm HIV dẫn đến nguy cơ lây nhiễm HIV.
Đối với những trường hợp nghi ngờ phơi nhiễm HIV, việc đầu tiên cần làm là tiến hành các xét nghiệm cần thiết theo quy định, đồng thời uống thuốc kháng HIV (ARV).
"Tất cả người phơi nhiễm HIV đều phải điều trị bằng thuốc kháng phơi nhiễm ARV. Đây là phác đồ điều trị bậc một áp dụng chung cho mọi trường hợp trong vòng một tháng. Giá ngoài thị trường của loại thuốc này là từ 700.000 đồng đến 1,1 triệu đồng. Sau đó, người phơi nhiễm dùng thuốc và xét nghiệm lại sau 3, 6, 9 tháng. Khi xác định nhiễm HIV, họ sẽ được điều trị theo phác đồ cụ thể", bác sĩ Hà cho hay.
Theo BS Hà, việc uống thuốc ARV sẽ cho hiệu quả tối đa, tức ngăn ngừa HIV 100% nếu người bệnh uống trong vòng 24 tiếng sau phơi nhiễm. Còn nếu uống sau 72 giờ thì hiệu quả sẽ giảm còn 52% và nếu uống sau 72 khi phơi nhiễm thì sẽ không có kết quả.
BS Hà cho rằng, trong cuộc sống, chúng ta có thể gặp phải những trường hợp được gọi là phơi nhiễm HIV do bị kim đâm vào khi làm thủ thuật y tế tiêm truyền hoặc lấy máu làm xét nghiệm; vết thương do dao mổ hay các dụng cụ sắc nhọn chọc, đâm vào gây chảy máu; bị tổn thương qua da do các ống đựng máu hoặc chất dịch của người bệnh bị vỡ đâm vào; máu, chất dịch của người có HIV bắn vào các vùng da bị tổn thương, vào niêm mạc (mắt, mũi, họng).
Khả năng bị phơi nhiễm cũng xảy ra tương đối phổ biến khi bị người khác dùng kim tiêm đã sử dụng có máu (có chứa virus HIV) đâm vào hoặc những người trong khi làm nhiệm vụ (công an, bác sĩ…), cấp cứu tai nạn giao thông, bắt tội phạm…
Trong đó, nguy cơ nhiễm HIV chỉ cao trong trường hợp tổn thương qua da sâu, chảy máu nhiều hoặc máu và các dịch của người có HIV bắn vào vết thương, niêm mạc bị loét rộng từ trước.
Với các tổn thương da xây xát nông và không chảy máu hoặc chảy máu ít, máu và chất dịch cơ thể bắn vào niêm mạc không bị tổn thương, viêm loét, nguy cơ mắc bệnh rất thấp.
Trường hợp bị máu và chất dịch cơ thể của người bệnh bắn vào vùng da lành, không bị tổn thương, chúng ta sẽ không bị lây nhiễm.
Bác sĩ Hà cho biết trong thực tế, không phải trường hợp nào người bị phơi nhiễm HIV cũng đồng nghĩa với việc bị nhiễm HIV.
http://khampha.vn/suc-khoe/can-phai-lam-gi-khi-nghi-ngo-phoi-hiem-hiv-c11a544385.html
Trẻ em có IQ cao hơn, sống lâu hơn
Các nhà khoa học thấy rằng trí thông minh (IQ) cao hơn khi còn bé sẽ có nguy cơ tử vong thấp hơn.
Nghiên cứu theo dõi 65.000 người kể từ khi sinh ra cho đến năm 79 tuổi tại Anh, cho thấy IQ thời thơ ấu có liên quan mật thiết đến tuổi thọ.
Kết quả nghiên cứu chỉ ra những trẻ em có chỉ số IQ cao ở tuổi 11 ít bị chết vì bệnh tim, đột quỵ hay ung thư cũng như ít có nguy cơ tử vong vì thương tích, bệnh tiêu hóa và chứng sa sút trí tuệ hơn.
Cụ thể, nghiên cứu được xuất bản trên Tạp chí Y học Anh British Medical Journal, đã xem xét dữ liệu của 33.536 nam giới và 32.229 phụ nữ sinh ra ở Scotland năm 1936. Họ được kiểm tra trí thông minh khi 11 tuổi và được theo dõi trong 68 năm, tức là đến tháng 12 năm 2015.
Tính đến nay, đây là nghiên cứu lớn nhất báo cáo nguyên nhân tử vong ở nam giới và phụ nữ trong suốt cuộc đời, và những phát hiện cho thấy lối sống, đặc biệt là hút thuốc lá, là một thành phần quan trọng trong ảnh hưởng của trí thông minh đến sự khác biệt về tỉ lệ tử vong. Các nghiên cứu trước đây phần lớn dựa vào dữ liệu từ nam giới độ tuổi trung niên.
Sau khi xem xét kiểm soát một số yếu tố có thể ảnh hưởng đến kết quả như tuổi, giới tính và tình trạng kinh tế - xã hội, các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra những người có kết quả kiểm tra IQ lúc trước cao hơn có liên quan đến việc giảm 28% nguy cơ tử vong do bệnh hô hấp, giảm 25% nguy cơ tử vong do bệnh mạch vành và nguy cơ tử vong do đột qụy thấp hơn 24%.
Giới nghiên cứu đưa ra nhiều lý thuyết để giải thích, chẳng hạn như những người thông minh hơn tự chăm sóc bản thân tốt hơn - ít hút thuốc và tuân theo lối sống lành mạnh hơn. Họ cũng có xu hướng tập thể dục nhiều hơn và tìm kiếm sự chăm sóc y tế khi bị ốm.
Bên cạnh đó, một số bằng chứng khác cho thấy di truyền học cũng có thể đóng vai trò trong mối liên hệ giữa khả năng nhận thức và tuổi thọ.
Giáo sư Ian Deary của Đại học Edinburgh, người đứng đầu nghiên cứu, nói: "Tôi lạc quan về những kết quả này. Tôi hi vọng nó có nghĩa là nếu chúng ta có thể tìm ra những gì người thông minh làm và sao chép chúng, thì chúng ta có cơ hội sống lâu hơn và khỏe mạnh hơn”.
"Chúng ta vẫn chưa biết thật sự tại sao trí thông minh từ thời thơ ấu và tuổi thọ liên quan đến nhau. Phong cách sống - chẳng hạn như không hút thuốc - giáo dục, đọc viết về sức khoẻ, ít bị tước đoạt và di truyền học có thể đóng vai trò một phần nào đó. Chúng tôi và các nhóm nghiên cứu khác đang thử nghiệm những ý tưởng này”, nhà khoa học nói.
Các chuyên gia từ Viện Karolinska ở Thụy Điển trong một bài xã luận cũng xuất bản trên BMJ, cho biết: "Điều quan trọng là nó chỉ ra rằng IQ thời thơ ấu có liên quan chặt chẽ với nguyên nhân gây tử vong, phần lớn phụ thuộc vào các yếu tố nguy cơ đã biết. Việc hút thuốc lá và sự phân bố của nó dọc theo phổ kinh tế xã hội có thể có tầm quan trọng đặc biệt ở đây. IQ báo hiệu một điều gì đó sâu hơn, có thể là di truyền, liên quan đến tuổi thọ”.
Các nghiên cứu sâu hơn nên được tiến hành để làm rõ vai trò của IQ với tuổi thọ.
http://khampha.vn/khoa-hoc-cong-nghe/tre-em-co-iq-cao-hon-song-lau-hon-c7a543520.html
Bộ Y tế cấm dùng phương pháp gây tê tủy sống với sản phụ đẻ mổ
Bộ Y tế khuyến cáo sử dụng phương pháp gây mê nội khí quản thay vì gây tê tủy sống trong mổ lấy thai với các sản phụ có nguy cơ tai biến.
Gây tê tủy sống là một phương pháp sinh không đau bằng vô cảm được nhiều sản phụ lựa chọn trong mấy năm gần đây. Ưu điểm của phương pháp này là giúp bà bầu hô hấp bình thường trở lại nhanh hơn, tỉnh táo và ý thức hơn về môi trường xung quanh, khả năng di chuyển sớm hơn sau khi mổ lấy thai, giảm các triệu chứng như lo âu, nôn ói, buồn nôn và kiểm soát cơn đau tốt hơn.
Tuy nhiên, các chuyên gia y tế cảnh báo phương pháp gây tê tủy sống khi mổ lấy thai cũng kéo theo hàng loạt biến chứng nguy hiểm cho sức khỏe sản phụ gồm nguy cơ không đạt được phong bế đau đầy đủ, nhức đầu, liệt thần kinh sọ, đau lưng, sốt, tổn thương thần kinh gây yếu, mất cảm giác hoặc liệt, xuất huyết, tụt huyết áp,…
Đặc biệt, trẻ sơ sinh có mẹ đẻ mổ thường bị xét nghiệm để tìm nguyên nhân gây sốt và điều trị bằng thuốc kháng sinh, ngay cả khi những em bé này không tăng nguy cơ nhiễm trùng máu.
Chính vì những lý do trên, mới đây Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Viết Tiến đã ký văn bản gửi tới các đơn vị y tế trên toàn quốc gồm Sở Y tế các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; các bệnh viện trực thuộc Bộ Y tế; Cục Quân y trực thuộc Bộ Quốc Phòng; Cục Y tế trực thuộc Bộ Công an; cơ quan y tế của các bộ ngành về việc áp dụng phương pháp vô cảm (trong đó phổ biến nhất là gây tê tủy sống) trong mổ lấy thai.
Văn bản nêu rõ, Bộ Y tế đã tiến hành theo dõi, giám sát và thẩm định những trường hợp sản phụ tử vong tại các địa phương cũng như tiếp thu ý kiến phản ánh của một số đơn vị. Qua đó nhận thấy, sản phụ có các triệu chứng sản giật, tiền sản giật nặng, rau bong non, có rau tiền đạo thể bán trung tâm hoặc trung tâm,… có nguy cơ tai biên cao (suy đa tạng, rối loạn đông máu, ngừng tim, tắc mạch ối) nếu áp dụng gây tê tủy sống khi mổ lấy thai.
Vì vậy, Bộ Y tế khuyến cáo các đơn vị y tế trên toàn quốc (bao gồm cả bệnh viện ngoài công lập) áp dụng phương pháp gây mê nội khí quản đối với những sản phụ nói trên, không được thực hiện phương pháp gây tê tủy sống nhằm giảm nguy cơ xảy ra biến chứng với sản phụ đẻ mổ.
http://doisongvietnam.vn/bo-y-te-cam-dung-phuong-phap-gay-te-tuy-song-voi-san-phu-de-mo-24654-9.html
Khuyến cáo tiêm phòng vaccine viêm não Nhật Bản cho trẻ
Bộ Y tế vừa khuyến cáo, để chủ động phòng, chống bệnh viêm não virus, trong đó có viêm não Nhật Bản, các gia đình nên đưa trẻ đi tiêm phòng vaccine đầy đủ và đúng lịch.
Nếu có các dấu hiệu sốt cao và kèm theo những rối loạn ở hệ thống thần kinh trung ương như co giật, rối loạn vận động, lơ mơ, hôn mê thì người dân phải đến ngay cơ sở y tế để được tư vấn và điều trị kịp thời…
Cục Y tế dự phòng Bộ Y tế cho biết trong sáu tháng đầu năm, cả nước ghi nhận 62 trường hợp mắc viêm não Nhật Bản, trong đó có một trường hợp tử vong tại tỉnh Sơn La. Số ca mắc bệnh xuất hiện rải rác, chủ yếu tại các tỉnh khu vực miền Bắc, miền Nam. Các tỉnh, TP có số mắc cao là Hưng Yên, Nghệ An, Hà Nội, Sơn La, Khánh Hòa, Kiên Giang và Kon Tum.
Trong năm 2017, Bộ Y tế đã phê duyệt kế hoạch tổ chức chiến dịch tiêm vaccine phòng viêm não Nhật Bản bổ sung cho đối tượng 6-15 tuổi tại 16 tỉnh, TP hiện lưu hành dịch bệnh viêm não Nhật Bản và có nguy cơ bùng phát dịch.
http://plo.vn/xa-hoi/khoe-360/khuyen-cao-tiem-phong-vaccine-viem-nao-nhat-ban-cho-tre-712566.html
Việt Nam ghi dấu ấn tại hội nghị toàn thế giới về bệnh phổi trẻ em
Tại hội nghị “Bệnh phổi trẻ em toàn thế giới” lần thứ 16 vừa diễn ra tại Tây Ban Nha vào cuối tháng 6-2017, PGS.TS. Nguyễn Tiến Dũng – nguyên Trưởng khoa Nhi (Bệnh viện Bạch Mai) là đại diện duy nhất của Việt Nam được mời tham dự với báo cáo “Đặc điểm dịch tễ và yếu tố nguy cơ của viêm phổi nặng do sởi biến chứng ở Việt Nam”.
Đây là hội nghị thường niên qui tụ các giáo sư, bác sỹ giỏi trong các lĩnh vực chuyên sâu về bệnh phổi hiếm gặp cũng thường gặp như viêm phổi cộng đồng; các kỹ thuật thở máy hiện đại vv…
Các chuyên gia của các nước từ đến từ châu Âu, châu Mỹ, Australi, Nam phi, châu Á vv… đã cùng trao đổi và báo cáo những thành tựu nghiên cứu mới nhất trong chẩn đoán và điều trị các bệnh phổi nhiễm trùng và không nhiễm trùng; các bệnh phổi mạn tính và cấp tính từ tuổi sơ sinh đến 18 tuổi; các bệnh phổi thường gặp cũng như hiếm gặp; các bệnh hay gặp ở các nước phát triển cũng như các nước đang phát triển.
“Đặc điểm dịch tễ và yếu tố nguy cơ của Viêm phổi nặng do sởi biến chứng ở Việt Nam” của PGS.TS. Nguyễn Tiến Dũng là sự đúc kết kinh nghiệm điều trị đầy sáng tạo của ông trong dịch sởi năm 2014 đã đi vào lịch sử ngành y, khi ông đã cứu sống nhiều bệnh nhi bị bệnh rất nặng từ cõi chết trở về.
Báo cáo đã được các chuyên gia quốc tế đánh giá cao và tại hội nghị về bệnh phổi trẻ em này, PGS.TS Nguyễn Tiến Dũng đã được mời vào Ban cố vấn quốc tế. Đây là niềm tự hào không chỉ của riêng PGS.TS. Nguyễn Tiến Dũng, mà là của cả ngành y tế Việt Nam khi đã cho thấy các thầy thuốc của Việt Nam đã không ngừng sáng tạo trong nghiên cứu khoa học, với mục tiêu cao cả là chữa bệnh cứu người và khẳng định được vị thế y học của Việt Nam với các nước.
Fanpage
Youtube


















