Điểm báo điện tử ngày 19/6/2017
21/06/2017
0
Nguy cơ cao lây truyền HIV, viêm gan B... từ mẹ sang con Ngày 19/6, Vụ Sức khỏe Bà mẹ trẻ em (Bộ Y tế) tổ chức hội thảo “Lây truyền HIV, giang mai và viêm gan B từ mẹ sang con”.
Thông tin từ Vụ Sức khỏe Bà mẹ trẻ em cho biết: Hiện nay, tại Việt Nam phụ nữ mang thai nhiễm HIV đang có xu hướng gia tăng do lây nhiễm qua đường tình dục và tỷ lệ nữ nhiễm HIV tăng cao. Bên cạnh đó, Việt Nam nằm trong vùng lưu hành dịch tễ của vi rút viêm gan B (tỷ lệ nhiễm viêm gan B trên 8%). Đặc biệt, phần lớn số ca nhiễm viêm gan B là do lây truyền dọc từ mẹ sang con. Đồng thời, trẻ cũng có nguy cơ cao mắc bệnh giang mai từ mẹ.
Trước thực trạng trên, ngành y tế đã triển khai đồng bộ nhiều biện pháp hiệu quả. Cụ thể: Mạng lưới cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em không ngừng được củng cố và tăng cường chất lượng từ Trung ương đến thôn, bản; tỷ lệ quản lý thai gần đạt đến mức độ bao phủ phổ cập, kể cả ở các vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa (năm 2016 đạt 97,1%); tỷ lệ đẻ tại cơ sở y tế tăng đều qua các năm (năm 2016 đạt 96,7%); tỷ lệ phụ nữ đẻ do cán bộ y tế được đào tạo đạt 98,2%...
Tuy nhiên, hoạt động can thiệp lây truyền từ mẹ sang con đối với 3 bệnh trên còn gặp nhiều thách thức. Việt Nam hiện chưa có bằng chứng mạnh mẽ về gánh nặng bệnh viêm gan B và bệnh giang mai đối với phụ nữ mang thai và trẻ nhỏ; bảo hiểm y tế không chi trả các dịch vụ xét nghiệm sàng lọc dự phòng và khám sức khỏe định kỳ; mô hình cung cấp dịch vụ dự phòng lây nhiễm từ mẹ sang con trọn gói mới chỉ được thực hiện tại các bệnh viện phụ sản, khoa sản của bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh mà chưa được triển khai rộng tại tuyến xã, phường…
Tại hội thảo, các đại biểu đã chia sẻ kinh nghiệm trong công tác phòng chống lây truyền HIV, giang mai và viêm gan B từ mẹ sang con. Theo Trung tâm Phòng chống HIV/AIDS Thái Nguyên, mô hình dự phòng 3 bệnh (HIV, giang mai và viêm gan B) lây truyền từ mẹ sang con đã được triển khai thí điểm tại 18 xã của huyện Phổ Yên (tỉnh Thái Nguyên) từ tháng 10/2012 đến tháng 6/2014. Các can thiệp đã được triển khai gồm: Cung cấp xét nghiệm HIV, viên gan B và giang mai cho tất cả phụ nữ mang thai trong quá trình khám thai; thu thập mẫu máu khi phụ nữ mang thai đồng ý xét nhiệm; trẻ sinh ra từ mẹ nhiễm HIV, giang mai và viêm gan B đều được theo dõi cho đến khi tình trạng nhiễm bệnh được xác định.
Kết quả sau thời gian thí điểm mô hình cho thấy: Mô hình được triển khai đã giúp tăng tỷ lệ tiêm vắc xin viêm gan B liều sơ sinh; tiết kiệm chi phí lồng ghép xét nghiệm viêm gan B vào gói dịch vụ ngăn ngừa trẻ nhiễm viêm gan B từ mẹ; tỷ lệ phụ nữ mang thai thực hiện các xét nghiệm xác định 3 bệnh trên cao nhờ lồng ghép vào gói dịch vụ chăm sóc thai sản...
Các đại biểu tập trung thảo luận các nội dung như: Chiến lược toàn cầu về loại trừ HIV, giang mai và viêm gan B lây truyền từ mẹ sang con; thách thức trong hoạt động dự phòng lây truyền HIV, giang mai và viêm gan B từ mẹ sang con tại Việt Nam; tiến trình hướng tới mục tiêu loại trừ 3 bệnh (HIV, giang mai và viêm gan B) tại Việt Nam…
http://baotintuc.vn/suc-khoe/nguy-co-cao-lay-truyen-hiv-viem-gan-b-tu-me-sang-con-20170619142506917.htm
5 hậu quả khi cơ thể mất nước Giảm huyết áp, nhịp tim tăng, bị có giật là những hậu quả có thể xảy ra khi cơ thể bị mất nước quá nhiều.
Tình trạng mất nước có thể khiến bạn gặp phải một số biến chứng nguy hiểm do nước chiếm 60% cơ thể người và mỗi tế bào cần nước để hoạt động bình thường, theo Business Insider.
Nhịp tim tăng
"Nếu bị mất nước, thể tích máu trong cơ thể sẽ giảm xuống làm huyết áp giảm theo. Đây là nguyên nhân khiến nhịp tim tăng lên", Andy Bellatti, chuyên gia dinh dưỡng tại Đại học New York, Mỹ, cho biết. Kết quả là bạn cảm thấy đầu óc quay cuồng, ốm yếu, mệt mỏi và tức ngực.
Huyết áp xuống quá thấp
Trong những trường hợp mất nước nghiêm trọng nhất, huyết áp và lượng máu có thể xuống thấp đến mức cơ thể rơi vào trạng thái sốc giảm thể tích (hypovolemic shock), theo Mayo Clinic. Khi đó, tim không thể bơm máu đủ đi nuôi cơ thể khiến các cơ quan bắt đầu ngừng hoạt động.
Vấn đề về thận
Tỷ lệ mắc bệnh sỏi thận, nhiễm trùng đường tiết niệu và suy thận tăng nếu cơ thể thường xuyên mất nước. "Khi bạn mất nước, thận nhận được tín hiệu giữ lại nhiều nước hơn, bạn bắt đầu đi tiểu ít hơn, làm tăng nguy cơ hình thành sỏi thận", Bellatti nói.
Co giật
Chất điện giải là khoáng chất có điện tích như kali, canxi và natri, đóng vai trò trao đổi điện giữa các tế bào với nhau. Hiện tượng mất nước kéo theo sự mất cân bằng điện giải trong cơ thể, khiến bạn cảm thấy uể oải hoặc nặng hơn là co giật.
Sốc nhiệt
Sốc nhiệt, hình thức nghiêm trọng nhất của tổn thương nhiệt, xảy ra khi cơ thể tiếp xúc với ánh nắng Mặt Trời quá lâu khiến cơ thể không kịp làm mát. Mồ hôi tiết ra quá nhiều làm cho cơ thể mất nước, kèm theo chóng mặt, tim đập nhanh, lơ mơ, mất ý thức.
http://phununews.vn/suc-khoe/5-hau-qua-khi-co-the-mat-nuoc-189910/
Đất nước có nhiều trẻ béo phì nhất thế giới
Theo một nghiên cứu mới đây, tỷ lệ trẻ em béo phì tại tại đây thuộc vào nhóm cao nhất trên thế giới và có nguy cơ tăng hơn nữa trong vài năm tới.
Một chương trình nghiên cứu có tên là "Bệnh tật Toàn cầu" của Đại học Washington ở Seattle, Mỹ, đã chỉ ra rằng Trung quốc là nước dẫn đầu trong danh sách các quốc gia có tỷ lệ trẻ em bị béo phì nhiều nhất trên thế giới.
Nghiên cứu được thực hiện tại 195 quốc gia và được tờ New England Journal of Medicinet công bố chính thức vào tuần trước.
Ma Guansheng, giáo sư dinh dưỡng tại Đại học Bắc Kinh, cho biết nguyên nhân khiến trẻ em ở Trung Quốc béo phì nhiều đến vậy là do ít được vận động như đi xe đạp hoặc đi bộ đến trường. Ma nói thêm, áp lực học tập khiến thời gian ngồi tại bàn học nhiều hơn thời gian vui chơi bên ngoài.
Một nghiên cứu khác cũng chỉ ra rằng trẻ em béo phì một phần là do thực phẩm và đồ ăn vặt của phương Tây xuất hiện ngày càng nhiều ở Trung Quốc. Thực chất thói quen ăn uống và nguồn thức ăn liên quan đến việc béo phì ở trẻ em nhiều hơn là sự giàu có như nhiều người vẫn nghĩ.
Để chống lại sự gia tăng không mong muốn này, các trường học trên khắp cả nước bắt đầu khuyến khích các em nhỏ vận động và có các hoạt động tư duy lành mạnh. Một số trường mẫu giáo ở Thượng Hải đã bắt đầu cho trẻ em bị béo ăn nhiều rau quả và hạn chế trứng, thịt, bánh quy lại. Kế hoạch nhanh chóng gây ra sự tranh cãi lớn vì bắt đầu có hiện tượng phân loại trẻ em theo trọng lượng của chúng.
Tuy nhiên, một số khác lại cho hay việc làm này lại đang đi đúng hướng. Các chuyên gia tin rằng cách ăn như thế sẽ tạo thói quen tốt và lành mạnh cho cân nặng và sức khỏe của trẻ em ở Trung Quốc.
http://giaoducthoidai.vn/suc-khoe/dat-nuoc-co-nhieu-tre-beo-phi-nhat-the-gioi-3433253-l.html
TPHCM: Ca vượt cạn hy hữu, mẹ sinh đôi 2 con gái, 1 bé chào đời còn nguyên trong bọc ối
Một sản phụ đã “vượt cạn” thành công, sinh đôi hai bé gái, trong đó bé thứ 2 chào đời trong bọc ối còn nguyên vẹn.
TS.BS Nguyễn Hữu Trung, giảng viên khoa Phụ sản, ĐH Y Dược TP.HCM, hiện công tác tại BV Hùng Vương cho biết, ông vừa phẫu thuật thành công một ca sinh khó và rất thú vị.
Theo đó, sáng ngày 17/6, sản phụ V.T.H.A. (23 tuổi – Long An) đã có một chuyến “vượt cạn” thành công, không thể quên trong đời. Chị phải trải qua hơn 1 giờ đồng hồ sinh tử trên bàn đẻ và hạ sinh được 2 bé gái đáng yêu. Trong đó có một bé sinh ngôi ngược, đặc biệt bé ra đời trong bọc ối còn nguyên vẹn.
Sau khi sản phụ hạ sinh bé gái đầu tiên với cân nặng 2200 gram, các y – bác sĩ tại BV Hùng Vương đã phải đối mặt với khó khăn vì bé thứ 2 rơi vào tình trang ngôi thai mông.
Các bác sĩ dự định sẽ đưa tay qua đường âm đạo, cửa tử cung và vào buồng tử cung của sản phụ để nắm chân của thai nhi và xoay thành tư thế thuận rồi kéo thai nhi ra ngoài. Nhưng khi khám, các bác sĩ phát hiện cả bọc ối chứa thai nhi đã vào khung chậu của người mẹ và nước ối trong bọc rất ít. Vì vậy, việc xác định chân của thai nhi quá khó.
Theo BS Trung, nếu nắm không trúng chân của em bé mà nắm phải tay thì vô cùng nguy hiểm cho hai mẹ con. Tuy nhiên, lượng nước trong bọc ối còn ít và cân nặng của thai nhi không quá nặng lại là điểm thuận lợi. Nhờ đó, các bác sĩ tiếp tục cho sản phụ A. sinh theo ngả âm đạo và sinh em bé nguyên trong bọc ối.
Phương án tưởng chừng đơn giản vì không phải can thiệp nhiều nhưng đã khiến các bác sĩ nín thở. Trong trường hợp bọc ối vỡ lúc sinh thường phải nhanh chóng thực hiện phẫu thuật.
Sau hơn 1 giờ đồng hồ căng thẳng, bé gái nặng 2400 gram đã chào đời trong bọc ối còn nguyên vẹn. Sản phụ và các bác sĩ đã vô cùng vui mừng.
Được biết, số trẻ được đẻ ra trong bọc điều nguyên vẹn không nhiều. Một năm, bác sĩ Trung chỉ tiếp nhận khoảng 1-2 trường hợp. Đặc biệt, ca sinh này còn là trường hợp khó vì bé gái thứ 2 sinh ngược chứ không phải sinh ngôi thuận.
BS. Nguyễn Hữu Trung cho biết, không phải lúc nào cũng nên cho sinh em bé trong kiểu trong bọc ối mà phải tùy vào trường hợp. Với ca của sản phụ A. có thể sinh em bé trong bọc điều vì thai nhi không quá lớn; hai bé trong cặp song thai có bọc ối riêng biệt, lượng nước trong bọc của bé thứ 2 không còn nhiều.
Cảnh báo bệnh viêm não Nhật Bản khi vào hè Mùa hè là thời điểm thuận lợi để các bệnh truyền nhiễm gia tăng, trong đó có bệnh viêm não Nhật Bản. Mùa hè là thời điểm thuận lợi để các bệnh truyền nhiễm gia tăng, trong đó có bệnh viêm não Nhật Bản.
Viêm não nhật bản là căn bệnh nguy hiểm trong các bệnh nhiễm trùng thần kinh trung ương. Đặc biệt, nếu không được chữa trị kịp thời, bệnh viêm não Nhật Bản có thể để lại di chứng rất nặng.
Vì vậy, các bậc phụ huynh phải hết sức lưu ý những triệu chứng sốt bất thường của trẻ. Trẻ sốt cao đột ngột, buồn nôn, nôn liên tục, đau đầu, phản ứng lờ đờ, chậm chạp... là những dấu hiệu nghi ngờ bị viêm não Nhật Bản. Khi đó, cha mẹ phải ngay lập tức đưa trẻ đến các cơ sở y tế để điều trị kịp thời. Đồng thời, để phòng tránh bệnh viêm não Nhật Bản cũng như các bệnh viêm màng não nói chung, nên tiêm vaccine đầy đủ cho trẻ.
http://tbdn.com.vn/canh-bao-benh-viem-nao-nhat-ban-khi-vao-he_n25562.html
Phụ nữ Việt Nam bị trầm cảm sau sinh nhiều hơn so với thế giới
Con số thống kê trên thế giới cho thấy tỉ lệ trầm cảm sau sinh đối với các bà mẹ khoảng 10-20%, con số đó ở Việt Nam có thể lên tới 33%.
Chia sẻ với VOV.VN, chuyên gia tâm lý, TS.Trần Thành Nam (Giảng viên ĐHQGHN) cho biết, trầm cảm sau sinh là một rối loạn thường gặp ở những bà mẹ trẻ, xuất hiện khoảng 1 năm sau khi sinh. Phụ nữ bị trầm cảm sau sinh thường có triệu chứng lo âu, trầm buồn, thu mình; suy nghĩ gây hại bản thân hoặc gây hại cho đứa trẻ, trực tiếp ảnh hưởng đến sức khỏe của mẹ và sự phát triển của con.
Tỷ lệ trầm cảm sau sinh chiếm tới 33%
Con số thống kê trên thế giới cho thấy tỉ lệ trầm cảm sau sinh đối với các bà mẹ khoảng 10-20%. Tuy nhiên, những người mẹ có các triệu chứng liên quan đến trầm cảm nhưng chưa đáp ứng đủ các tiêu chuẩn để chẩn đoán trầm cảm sau sinh rất cao, chiếm 70 – 80% tỉ lệ các bà mẹ. Nhóm này được gọi là trầm buồn sau sinh (baby blues) nhưng nếu không được hỗ trợ đúng cách rất có thể dẫn đến trầm cảm sau sinh.
Tại Việt Nam, tỉ lệ trầm cảm sau sinh theo một số nghiên cứu sàng lọc có thể lên tới 33%.
Tỷ lệ cao này có thể là do các tục lệ kiêng khem theo truyền thống của người Á Đông, sự thiếu kiến thức về trầm cảm sau sinh trong cộng đồng, không sẵn có hệ thống dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần cho phụ nữ sau sinh.
Đối với phụ nữ Việt Nam, một nghiên cứu còn cho thấy việc các bà mẹ phải tuân thủ kiêng khem như phải nằm trên lửa, không được tắm gội, phải đeo gạc bông tai để tránh nghe tiếng động lớn, phải dùng thảo dược, phải ăn những thức ăn đặc biệt, phải hạn chế ra ngoài trong 30 ngày sau sinh… có nguy cơ bị trầm cảm sau sinh nhiều hơn.
Nghiên cứu đi trước cũng chỉ ra một số yếu tố bảo vệ các bà mẹ trẻ khỏi trầm cảm sau sinh đó là trình độ học vấn cao; công việc ổn định, hài lòng về cuộc sống hôn nhân; Có một hội/nhóm để trao đổi, chia sẻ nhận được sự chăm sóc sau sinh từ những người mà họ tin tưởng, TS.Trần Thành Nam cho biết.
Những nguyên nhân dẫn đến trầm cảm sau sinh
Theo TS.Trần Thành Nam, có ba nhóm nguyên nhân dẫn đến trầm cảm sau sinh đó là nhóm nguyên nhân sinh học, tâm lý và xã hội.
Nhóm nguyên nhân sinh học cho rằng sự tăng quá mức lượng hoocmon khi người phụ nữ trong quá trình mang thai và sau khi sinh dẫn đến trầm cảm. Đó là các hoocmon steroid, estradiol và progesterone.
Nhóm nguyên nhân tâm lý - xã hội bao gồm rất nhiều yếu tố trong đó các yếu tố có nguy cơ cao nhất bao gồm đã có lo âu, trầm cảm trong quá trình mang thai; đã có bệnh trầm cảm trước đó; có các sự kiện tiêu cực trong cuộc đời xảy ra trong giai đoạn ở cữ; không có sự hỗ trợ xã hội cần thiết.
Nhóm yếu tố nguy cơ cao thứ hai là mức độ căng thẳng trong quá trình chăm sóc con; tự đánh giá bản thân thấp kém; khí chất trẻ sơ sinh khó khăn; vị trí kinh tế xã hội của người phụ nữ; tình trạng hôn nhân, mẹ đơn thân...
Nhóm yếu tố nguy cơ thấp hơn là các biến cố trong quá trình mang thai và sinh nở; mức độ căng thẳng trong quá trình mang thai; thiếu sự hỗ trợ của chồng và gia đình trong quá trình mang thai; mang thai không mong muốn.
Chứng trầm cảm sau sinh có thể gây ra nhiều hậu quả đáng tiếc
Trầm cảm sau sinh gây ra những tổn hại thể chất và tinh thần cho người mẹ, khó phục hồi và không thể hoàn thành chức năng của người mẹ trong việc chăm sóc con, không tạo được sự gắn bó sớm an toàn giữa mẹ con từ đó ảnh hưởng đến cả sự phát triển nhận thức và hành vi của trẻ.
Con của những người mẹ trầm cảm sau sinh thường tăng cân chậm; quấy khóc, phàn nàn đau cơ thể; gặp khó khăn trong học tập; không đạt các mốc phát triển và có nhiều vấn đề cảm xúc khi lớn lên.
Một số bằng chứng cho thấy mẹ bị trầm cảm sau sinh thì con có nguy cơ bị tăng động giảm chú ý cao hơn, nguy cơ chậm phát triển các chức năng nhận thức như chậm nói cũng lớn hơn. Khi lớn lên, những đứa trẻ này cũng thường có tỉ lệ cao mắc lo âu, trầm cảm.
Hậu quả nặng nề nhất của trầm cảm sau sinh là việc các bà mẹ tự sát hoặc tệ hơn là giết con rồi tự sát. Người ta thấy rằng tỉ lệ “đột tử” ở trẻ là con của những người phụ nữ bị trầm cảm sau sinh (bao gồm cả các trường hợp bà mẹ trầm cảm giết con hoặc bỏ mặc con cho đến chết) là khá cao.
Nhận diện sớm phụ nữ bị trầm cảm sau sinh qua các biểu hiện tâm lý và sinh lý
Về tâm lý, người phụ nữ trầm cảm sau sinh thường thể hiện ra qua các cảm xúc, nhận thức tiêu cực. Cảm xúc của họ thường khởi đầu bằng buồn rầu, trống rỗng, ủ rũ, thất vọng. Một số người than phiền đau lưng, đau tay, trở nên cáu gắt và né tránh giao tiếp. Họ dần mất hứng thú với những hoạt động trước đây vốn yêu thích, giảm hứng thú tình dục và không hài lòng với bất cứ việc gì người khác làm. Ở mức độ nặng hơn họ có cảm giác tội lỗi hoặc xấu hổ vì cho rằng mình không phải là bà mẹ tốt như mong đợi nên có thể có ý tưởng tự sát.
Về mặt nhận thức, họ thường than phiền trí nhớ giảm sút, thường quên những việc lặt vặt. Làm gì cũng thấy mệt và đòi hỏi phải có một nỗ lực lớn. Họ mất tin tưởng vào bản thân, cho mình vô dụng, tự buộc tội mình vì tình trạng hiện tại hoặc những hành vi đã xảy ra trong quá khứ.
Về mặt hành vi, họ lúng túng và khó tương tác với con. Họ có thể khóc mà không biết khóc vì điều gì, có các cơn giận bùng phát (quát, hét, đạp, phá đồ) một cách không phù hợp và lặp lại
Về sinh lý, họ có thể mất cảm giác ngon miệng dẫn đến chán ăn và sụt cân. Nhiều người mất ngủ hoặc ngủ quá nhiều, luôn cảm thấy cạn kiệt sức lực mặc dù không phải làm gì nhiều, TS.Trần Thành Nam chia sẻ./.
Trẻ hít phải khói thuốc lá thụ động dễ bị viêm khớp khi trưởng thành
Nghiên cứu chỉ ra rằng trẻ em tiếp xúc với khói thuốc lá có nhiều nguy cơ sẽ phát triển chứng viêm khớp sau này trong cuộc đời. Nghiên cứu trước đây đã tìm ra mối liên quan giữa những người hút nhiều thuốc lá và bệnh viêm khớp dạng thấp, cho thấy phụ nữ hút thuốc tăng gần gấp đôi nguy cơ mắc bệnh này.
Trong nghiên cứu này các chuyên gia khẳng định rằng nguy cơ phát triển bệnh viêm khớp dạng thấp cũng xuất hiện nếu người hút thuốc hít phải khói thuốc thụ động khi còn nhỏ.
Các chuyên gia y tế Pháp đã báo cáo rằng nguy cơ này tăng tới 79 %ở trẻ tiếp xúc khói thuốc thụ động.
Đây là nghiên cứu đầu tiên cho thấy có mối liên quan giữa tình trạng đau và sự tiếp xúc sớm với khói thuốc.
Kết quả nghiên cứu được trình bày tại Hội nghị Viêm khớp châu Âu ở Tây Ban Nha.
Khoảng 1,5 triệu người Mỹ bị viêm khớp dạng thấp và phụ nữ có nguy cơ mắc bệnh này cao hơn gấp 3 lần so với nam giới.
Giáo sư Raphaèle Seror, tác giả chính của nghiên cứu từ Bệnh viện Đại học South Paris cho biết: "Nghiên cứu của chúng tôi nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tránh môi trường thuốc lá cho trẻ em, đặc biệt là với những người có tiền sử gia đình mắc bệnh viêm khớp dạng thấp".
Nghiên cứu này theo dõi 70.598 phụ nữ hút thuốc lá, sinh ra giữa năm 1925 và 1950, từ 1990 đến 2014.
Trong số đó, 1.239 bệnh nhân cho biết họ bị viêm khớp dạng thấp và chỉ có 350 trường hợp trong nhóm này đáp ứng được yêu cầu cho nghiên cứu.
Fanpage
Youtube


















