Điểm báo điện tử ngày 11/12/2017
11/12/2017
0
Chiến lược phòng bệnh không lây gắn với phòng tác hại thuốc lá
Việt Nam là một trong 15 nước có số người sử dụng thuốc lá cao nhất thế giới, đây là một gánh nặng y tế lên các bệnh không lây nhiễm. Việt Nam đã đưa chương trình phòng chống bệnh không lây nhiễm gắn liền với phòng chống tác thuốc lá.
Tỷ lệ hút thuốc lá cao
Theo kết quả điều tra năm 2010, tỷ lệ hút thuốc lá ở nam giới từ 15 tuổi trở lên chỉ giảm 2% so với năm 2006, vẫn còn ở mức 47,4%, so với mục tiêu 20%. Trong số những người không hút thuốc, có 55,9% số người đang đi làm có tiếp xúc với khói thuốc tại nơi làm việc; tỷ lệ tiếp xúc thường xuyên với khói thuốc tại gia đình là 67,6% .
Đặc biệt, tỷ lệ hút thuốc lá của thanh thiếu niên Việt Nam vẫn ở mức cao và độ tuổi bắt đầu hút thuốc lá ngày càng trẻ. Có 43,6% nam thanh thiếu niên cho biết đã từng hút thuốc với độ tuổi trung bình khi bắt đầu hút thuốc lá là 16,9. Trong số những nam thanh niên đã từng hút thuốc, có tới 71,7% hiện nay vẫn đang hút.
Một nghiên cứu của Trường Đại học YTCC Hà Nội năm 2010 cho thấy nồng độ nicotin trong không khí được phát hiện ở tất cả các điểm nghiên cứu, cao nhất ở các điểm vui chơi giải trí (2.5 μg/m3 tại khu vực hút thuốc và 1.3 μg/m3 tại khu vực không hút thuốc) và cao nhất tại các trường học (0.03 μg/m3).
Mỗi năm, sử dụng thuốc là nguyên nhân gây tử vong của hơn 40.000 người Việt Nam, tức là khoảng hơn 100 người trong 1 ngày. Con số này sẽ tăng lên thành 70.000 người vào năm 2030 .
Thuốc lá và ung thư
Chỉ riêng bệnh ung thư theo các chuyên gia về ung bướu, tại Việt Nam mỗi năm có khoảng 1 triệu trẻ em chào đời. Do tăng dân số, già hóa dân số nên số bệnh nhân bị ung thư càng gia tăng. Hiện tượng gia tăng bệnh ung thư cũng xảy ra ở các nước đang phát triển đến các nước chậm phát triển.
Theo thống kê toàn cầu hiện có khoảng 23 triệu người đang sống chung với căn bệnh này, trong đó mỗi năm có hơn 14 triệu người mắc mới và 8,2 triệu người tử vong.
Tại Việt Nam, số trường hợp mắc mới ung thư tăng nhanh từ 68.000 ca năm 2000 lên 126.000 năm 2010 và dự kiến đến năm 2020 sẽ có khoảng 189 nghìn người mắc ung thư mỗi năm. Hiện nay, mỗi năm có khoảng 94 nghìn người chết vì ung thư, gấp gần 10 lần so với tai nạn giao thông.
Ngoài ra, tuổi bị ung thư ở Việt Nam thường từ 40 – 50, đây là lứa tuổi đang đóng góp cho lao động xã hội nhiều nhất. Các bệnh ung thư người Việt Nam mắc phải nhiều nhất là ung thư phổi, ung thư dạ dày, ung thư vú, ung thư đại trực tràng.
Trong khi đó, PGS Trần Văn Thuấn – Giám đốc Bệnh viện K Hà Nội cho biết, con đường dẫn đến ung thư được ông và các cộng sự nghiên cứu bao gồm cả yếu tố nội sinh và ngoại sinh. Yếu tố nội sinh do di truyền, số này chiếm tỷ lệ nhỏ. Bệnh ung thư vú hiện nay đã được khẳng định là có liên quan tới di truyền. Những người trong gia đình có chị, em, mẹ bị ung thư vú thì nguy cơ người đó mắc ung thư vú cao từ 4 – 6 lần so với người bình thường.
Yếu tố thứ hai đó là thuốc lá. PGS Thuấn cho biết con đường dẫn đến ung thư đầu tiên phải kể đến đó là hút thuốc. Đây là nguyên nhân gây ra 30% trong tổng số các loại ung thư như: Ung thư phổi, ung thư thanh quản, thực quản, khoang miệng, bàng quan, tụy, vú, dạ dày, cổ tử cung...
Hoạt động phòng chống tác hại thuốc lá tại nước ta đã bắt đầu được đưa vào chính sách quốc gia ở Việt Nam từ năm 2000 với Nghị quyết số 12/2000/NQ-CP của Chính phủ phê duyệt “Chính sách quốc gia phòng, chống tác hại của thuốc lá giai đoạn 2000 -2010”. Việt Nam đã phê chuẩn Công ước khung về kiểm soát thuốc lá của WHO vào năm 2004. Hoạt động PCTHTL ở Việt Nam bước sang một giai đoạn mới khi Luật PCTHTL được Quốc hội thông qua ngày 18/6/2012 và bắt đầu có hiệu lực từ 01/5/2013. Đây là văn bản có tính chất pháp lý cao nhất đối với hoạt động PCTHTL ở Việt Nam. Trên cơ sở đó, Bộ Y tế đã chủ trì và phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan xây dựng và trình phê duyệt các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật PCTHTL theo thẩm quyền quy định.
Công tác phòng chống tác hại thuốc lá vẫn được các bộ ngành, cơ quan trung ương, địa phương vào cuộc hết sức tích cực và gắn liền với chiến lược quốc gia phòng chống bệnh không lây nhiễm.
http://infonet.vn/chien-luoc-phong-benh-khong-lay-gan-voi-phong-tac-hai-thuoc-la-post246049.info
Phát hiện thuốc cai rượu "đóng băng" tế bào ung thư Một loại thuốc cai rượu phổ biến hàng thập kỷ có thể ngăn chặn sự phát triển của bệnh ung thư bằng cách ức chế một protein quan trọng.
Nghiên cứu trên tạp chí khoa học Nature của Viện Karolinska (Thụy Điển) đem đến tin mừng cho các bệnh nhân ung thư khi phát hiện khả năng "đóng băng" tế bào mang bệnh của một loại thuốc phổ biến – thuốc cai rượu Antabuse.
Nhóm nghiên cứu, gồm các chuyên gia hàng đầu đến từ 5 quốc gia, đã mất nhiều năm làm việc để chứng minh cơ chế sinh học mà Antabuse tác động lên các khối u.
Nghiên cứu được thực hiện trên cả chuột sống và các tế bào ung thư của người. Họ ghi nhận được rằng khi thuốc này chuyển hóa, nó sẽ khiến protein mang tên NPL4 kết hợp với enzyme p97 và làm bất động protein đó. Đây là một protein liên quan mật thiết đến sự phát triển của tế bào ung thư nên các tế bào bệnh này cũng bị "đóng băng" theo và chết dần sau đó.
Thuốc được chứng minh rất hiệu quả trong việc chữa trị ung thư tuyến tiền liệt, vú và ruột kết. Đặc biệt, các nhà khoa học cũng phát hiện chỉ các tế bào ung thư mới bị Antabuse giết chết, trong khi các tế bào thường hầu như không bị ảnh hưởng. Hiện họ vẫn chưa thể lý giải thực sự rõ ràng tác dụng "nhắm trúng đích" tuyệt vời đó.
Antabuse là một loại bột không mùi, gần như không vị. Nó gây ra những phản ứng vật lý khó chịu khi người dùng nó uống rượu như vã mồ hôi nhiều, tăng thị lực, buồn nôn, nôn… Thuốc can thiệp vào khả năng chuyển hóa rượu của cơ thể và đã trở thành một trong những loại thuốc cai rượu phổ biến từ nhiều thập kỷ trước.
http://nld.com.vn/khoa-hoc/phat-hien-thuoc-cai-ruou-dong-bang-te-bao-ung-thu-20171211095445359.htm
Thế giới có 2 tỷ người thừa cân, béo phì Báo cáo Dinh dưỡng toàn cầu 2017 cho biết thế giới hiện có khoảng 2 tỷ người thừa cân hoặc béo phì, trong khi tính đến tháng 10/2017, dân số thế giới khoảng 7,6 tỷ người.
Như vậy, số người thừa cân, béo phì đang chiếm gần 1/3 dân số thế giới.
Sau một giai đoạn báo động "đỏ", theo trang Quartz của Mỹ, tỷ lệ người béo phì tại các nước thu nhập cao đã phần nào chững lại nhưng tăng tốc ở các nước khác.
Quá trình đô thị hóa, chế độ ăn không hợp lý, lười vận động là những nguyên nhân chính dẫn tới việc tình trạng này ngày càng tăng cao tại các nước đang phát triển, nhất là ở châu Á và châu Phi.
http://vtv.vn/suc-khoe/the-gioi-co-2-ty-nguoi-thua-can-beo-phi-20171211091654142.htm
Cảnh giác bệnh hô hấp bùng phát mùa lạnh
Thời tiết lạnh là điều kiện thuận lợi cho các mầm bệnh hô hấp phát triển và tái phát. Bên cạnh đó, không khí môi trường ô nhiễm như hiện nay cũng khiến số bệnh nhân hô hấp gia tăng.
Cứ đông về lại gia tăng bệnh nhân hô hấp
Trời trở lạnh được hai ngày, cậu con trai lên 5 tuổi của anh Nguyễn Minh Hoàng lại ho như cuốc kêu, đặc đờm kèm theo ngạt mũi suốt đêm, cho dù vợ chồng anh Hoàng đã làm nhiều cách để giữ ấm cho con.
Theo TS. Ngô Quý Châu, Giám đốc Trung tâm Hô hấp BV Bạch Mai, thông thường, khi trời trở lạnh từ 3-5 ngày, số bệnh nhân hô hấp đến khám lại tăng lên. “Không khí lạnh làm đường hô hấp trên, các mạch máu dưới niêm mạc co lại, khả năng bảo vệ của niêm mạc chống lại virus, vi khuẩn qua đường thở giảm dần, các hoạt động bảo vệ khác cũng kém đi. Vì vậy, mọi người sẽ bị nhiễm bệnh hô hấp trên như: Viêm mũi họng, viêm khí quản, phế quản, viêm amidan, viêm phổi, màng phổi”, ông Châu phân tích.
Đối với những bệnh nhân đã có bệnh phổi mạn tính như bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, hen phế quản, ông Châu cho biết, thời tiết lạnh sẽ làm bệnh nặng thêm, thậm chí phải cấp cứu. “Dù chưa thống kê cụ thể nhưng sau đợt lạnh, đặc biệt là khi trời lạnh sâu và kéo dài, tỷ lệ bệnh nhân tăng lên đột biến sau 1 tuần. Các đối tượng bị ảnh hưởng nặng nhất là trẻ em, người lớn tuổi và người có bệnh phổi mạn tính. Trong đó, viêm phổi trẻ em vẫn là nguyên nhân quan trọng ảnh hưởng tới sức khỏe của trẻ”, ông Châu cho biết.
Riêng với trẻ nhỏ mắc bệnh lý hô hấp vào ngày đông, ông Châu chỉ dẫn cha mẹ có thể dùng dung dịch rửa mũi với trẻ em bị sổ mũi (nước mũi xanh, vàng đục). Điều này giúp thông thoáng đường hô hấp, trẻ có thể tự khỏi và không cần dùng kháng sinh và đặc biệt không bị lan lên tai, xuống phế quản. Tuyệt đối không tự ý dùng thuốc ức chế phản xạ ho của trẻ, vì nếu ức chế thì các chất tiết như đờm, vi khuẩn, virus ứ đọng trong phổi… tăng nặng bệnh cho trẻ. Ngoài ra, cha mẹ có thể dùng có một số chế phẩm giúp loãng đờm, giúp bệnh nhân ho khạc dễ hơn.
Theo PGS. TS. Vũ Văn Giáp, Phó giám đốc Trung tâm Hô hấp BV Bạch Mai, khi trẻ ho có thể do nhiều căn nguyên khác nhau. Vì thế, cha mẹ không được tự ý mua thuốc cho trẻ uống theo đơn thuốc cũ hoặc gợi ý từ người bán thuốc. Khi trẻ có dấu hiệu bệnh lý hô hấp thường do hai căn nguyên: Có thể trẻ bị hen với triệu chứng không điển hình; có thể ho thành đợt mỗi khi thay đổi thời tiết, hay tiếp xúc với dị nguyên, trong khi triệu chứng khò khè không rõ ràng khiến cho cha mẹ và bác sĩ có thể bỏ qua. Căn nguyên thứ hai là nhiễm trùng hô hấp trên, viêm tai mũi họng, viêm VA, viêm amidan… Do vậy, trẻ cần được khám chuyên khoa để có chẩn đoán chính xác và phác đồ điều trị hợp lý.
Cẩn trọng với ô nhiễm không khí
Hơn 1 tuần đầu tháng 12, các số liệu quan trắc chất lượng không khí (AQI) đo tại Đại sứ quán Mỹ, Hà Nội luôn thể hiện mức hơn 150. Đây là mức cảnh báo màu đỏ, ảnh hưởng tới sức khỏe con người.
Theo ông Châu, ô nhiễm không khí ảnh hưởng đến tất cả mọi người, không chỉ ảnh hưởng tới hệ hô hấp mà tác động tới tất cả các bộ phận của cơ thể. Chất ô nhiễm có trong không khí bao gồm bụi, bụi lớn không vào được sâu, nhưng các hạt bụi nhỏ có đường kính hạt bụi PM 10, PM 2,5, siêu nhỏ, có thể đi vào tiểu phế quản, phế nang. Bên cạnh bụi, còn có các chất độc hại khác như khí SO2, NO2, các kim loại nặng như chì, thủy ngân, chất đốt từ diesel cháy không hết sẽ đi vào trong, lắng đọng trên bề mặt phế quản, tiểu phế quản, niêm nhu mô phổi, từ đó vào máu tới các tạng khác.
Cơ quan hô hấp là cơ quan bị ảnh hưởng đầu tiên bởi ô nhiễm không khí. Khi hít thở không khí ô nhiễm sẽ làm sức bảo vệ đường thở kém, những người sống trong môi trường ô nhiễm dễ bị nhiễm virus, vi khuẩn. Những người đã bị các bệnh mạn tính làm các đợt cấp tăng lên. “Bên cạnh bệnh lý hô hấp, số bệnh nhân tim mạch cũng tăng lên. Ô nhiễm không khí còn ảnh hưởng tới các đối tượng là trẻ em”, ông Châu khuyến cáo.
Vì vậy, ông Châu cho biết, với những người có sẵn bệnh lý hô hấp, cần hạn chế tối đa tiếp xúc với không khí ô nhiễm. Những người không có việc phải ra đường nên ở nhà, tránh những chỗ có đông phương tiện tham gia giao thông,. Những người có thói quen tập thể dục, có thể tập tại nhà. Nếu buộc phải ra đường, mọi người có thể sử dụng các phương tiện phòng hộ như khẩu trang giấy, khẩu trang vải không ăn thua, có thể sử dụng khẩu trang chuyên dụng. Việc tham gia các phương tiện công cộng, hạn chế dùng xe cá nhân rất tốt bởi giảm được ô nhiễm không khí. Đặc biệt, các bà mẹ có con nhỏ, không nên đưa trẻ con ra ngoài đường bằng xe đẩy trong lúc môi trường ô nhiễm.
http://www.baogiaothong.vn/canh-giac-benh-ho-hap-bung-phat-mua-lanh-d236159.html
Báo động tác hại của ô nhiễm không khí với phát triển não bộ trẻ em
Theo báo cáo mới công bố của Quỹ Nhi đồng LHQ (UNICEF), gần 17 triệu trẻ em đang phải sống tại những khu vực có mức ô nhiễm không khí cao hơn ít nhất 6 lần so với giới hạn của quốc tế.
Điều này khiến các em phải thở không khí độc hại và bị đe dọa tới sự phát triển của não bộ.
Phóng viên TTXVN tại LHQ cho biết báo cáo có tên "Mối nguy hiểm trong không khí" cảnh báo việc phải hít thở không khí đặc biệt ô nhiễm có thể làm tổn thương các mô não và gây hại tới sự phát triển nhận thức, để lại hậu quả cả cuộc đời.
Giám đốc điều hành UNICEF, ông Anthony Lake cho biết không khí ô nhiễm không chỉ gây phương hại tới quá trình phát triển phổi ở trẻ sơ sinh mà còn gây ra tổn hại lâu dài tới sự phát triển não của trẻ.
Hình ảnh chụp qua vệ tinh cho thấy Nam Á là khu vực có tới 12,2 triệu trẻ em dưới 1 tuổi phải sống ở những khu vực mà mức độ ô nhiễm ngoài trời cao gấp 6 lần giới hạn quốc tế do Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ấn định.
Trong khi đó, Đông Á và Thái Bình Dương có khoảng 4,3 triệu trẻ em dưới 1 tuổi phải sống ở những vùng có không khí ô nhiễm cao gấp 6 lần giới hạn. Ông Lake nhấn mạnh rằng bảo vệ trẻ em trước tình trạng ô nhiễm không khí "không chỉ có lợi cho các em, mà còn cho xã hội thông qua làm giảm chi phí chăm sóc sức khỏe, tăng năng suất và môi trường sạch hơn an toàn hơn cho tất cả mọi người".
Cũng theo báo cáo trên, tình trạng ô nhiễm không khí, tương tự như việc trẻ không được cung cấp đủ dinh dưỡng và kích thích sự phát triển hay bị biến thành mục tiêu bạo lực trong 100 ngày đầu đời, có thể ảnh hưởng tới sự phát triển của não bộ.
Những phần tử ô nhiễm cực mảnh nhỏ đến mức có thể thâm nhập vào mạch máu, vào não và phá hủy hàng rào máu não, có thể gây ra chứng bệnh viêm thần kinh. Một số phần tử ô nhiễm có thể gây ra những chứng bệnh thoái hóa thần kinh trong khi một số khác có thể làm tổn thương những vùng não phục vụ việc học và phát triển.
Báo cáo của UNICEF đã khuyến cáo những biện pháp khẩn cấp để làm giảm tác động của tình trạng ô nhiễm không khí đối với sự phát triển não bộ của trẻ nhỏ: như các bậc phụ huynh cần ngay lập tức giảm sử dụng những sản phẩm độc hại như thuốc lá, lò vi sóng...
Báo cáo cũng đề xuất cần đầu tư những nguồn năng lượng sạch tài sinh để thay thế cho việc sử dụng nhiên liệu hóa thạch, cải thiện dịch vụ giao thông công cộng, tăng khu vực xanh ở đô thị, và đưa ra phương án quản lý rác thải tốt hơn để ngăn chặn việc đốt sản phẩm hóa chất độc hại ở ngoài trời.
Báo cáo khuyến khích giảm bớt tác động của không khí ô nhiễm đối với trẻ em bằng các biện pháp như đi lại vào thời điểm không khí ít độc hại hơn trong ngày, sử dụng mặt nạ lọc khí độc, và quy hoạch đô thị một cách hợp lý sao cho những "thủ phạm" chính gây ô nhiễm không được đặt gần trường học hay bệnh viện.
Báo cáo cũng khuyến cáo cải thiện sức khỏe nói chung của trẻ em để tăng sức đề kháng cho các em, đồng thời tăng cường việc nuôi con bằng sữa mẹ và dinh dưỡng tốt./.
http://bnews.vn/bao-dong-tac-hai-cua-o-nhiem-khong-khi-voi-phat-trien-nao-bo-tre-em/70334.html
44% người Việt mang vi khuẩn lao
Một thống kê cho thấy Việt Nam có khoảng 44% người mang vi khuẩn lao trong cơ thể.
Theo báo Tri thức trực tuyến, GS.TS Nguyễn Viết Nhung, Giám đốc Bệnh viện Phổi Trung ương, Chủ nhiệm Chương trình Chống lao Quốc gia cho biết, hiện có khoảng khoảng 126.000 người mắc lao.
Vi khuẩn lao trú ngụ ở các hang, hốc trong cơ thể. Tuy nhiên, không phải bất cứ ai mang vi khuẩn lao cũng mắc bệnh lao. Điều này có nghĩa những người khỏe mạnh vẫn đang có vi khuẩn lao trong người. Qua thống kê, có khoảng 44% người Việt mang vi khuẩn lao.
Theo PGS Nhung, hiện số người mắc bệnh lao đang giảm hàng năm khoảng 5-6%, số tử vong vì bệnh giảm nhanh hơn. Trong hai năm 2015-2016, cả nước đã giảm 3.000 người chết vì lao. Nguyên nhân là bệnh nhân được phát hiện sớm, chủ động và nhiều hơn.
Đặc biệt số bệnh nhân không được phát hiện, được gọi là tảng băng chìm cũng có xu hướng giảm. Mỗi năm, cả nước có khoảng 126.000 người mắc lao, trong đó chỉ 105.000-106.000 người được phát hiện bệnh, còn lại khoảng 20.000 người chưa được phát hiện.
“Bệnh lao không gây tử vong rầm rộ như tai nạn giao thông hay tai biến sản khoa mà chúng được báo trước, diễn biến một cách âm thầm nên được gọi là kẻ giết người thầm lặng”, PGS Nhung nói.
Những bệnh nhân lao chưa phát hiện bệnh có tỷ lệ tử vong cao. Đặc biệt, trong thời gian mắc bệnh và tử vong, họ đã làm lây lan bệnh trên cộng đồng.
“Mắc lao không có tội nhưng giấu bệnh không những có tội với bản thân mình mà còn có lỗi với những người xung quanh và cộng đồng. 40% người không phát hiện bệnh để được chữa trị sẽ tử vong”, PGS Nhung khuyến cáo.
Theo báo Giao thông, ông Nhung cho biết, hiện nay, Việt Nam đủ các trang thiết bị để điều trị bệnh lao từ rất sớm. Tuy nhiên, số lượng người chết vì bệnh lao của Việt Nam vẫn cao bởi nguyên nhân không có đầy đủ thông tin đúng và đầy đủ về bệnh. Mặt khác, nhiều bệnh nhân người còn mang tư tưởng mặc cảm với bệnh nên tự từ chối không khám và điều trị. "Nguy hiểm nhất là trong khoảng thời gian từ khi phát bệnh tới tử vong, người bệnh có nguy cơ lây bệnh cho rất nhiều người khác trong cộng đồng”, ông Nhung khuyến cáo.
GS. Nguyễn Viết Nhung cũng cho biết thêm bệnh lao chưa có vaccine phòng bệnh. Hiện chỉ có loại vaccine phòng một số bệnh lao nặng như lao não, lao kê (ở trẻ em).
Theo khuyến cáo của BS. Nhung, nếu có dấu hiệu ho nhiều, kéo dài kèm theo sốt cần phải đi khám sớm. Bệnh nhân chỉ cần chụp phim phổi, xét nghiệm đờm loại trừ bệnh lao. Một số trường hợp như ho dùng kháng sinh không dứt, ho có máu, đối tượng ngoài 40 tuổi thì yếu tố nguy cơ mắc bệnh lao càng cao.
Mới đây, tại Hội nghị cấp Bộ trưởng toàn cầu lần thứ nhất về Phòng chống Lao, tại Maxcova, Liên Bang Nga từ 16 -17/11/2017,Việt Nam đã cùng thông qua Tuyên bố chung Matxcova về chấm dứt bệnh lao thể hiện cam kết mạnh mẽ của toàn cầu về việc chấm dứt bệnh lao vào năm 2030.
http://antt.vn/44-nguoi-viet-mang-vi-khuan-lao-218779.htm
Fanpage
Youtube


















