Điểm báo điện tử ngày 21/3/2016
21/03/2016
0
Tháng 4 mới có vắc xin não mô cầu cho người lớn
Bộ Y tế cho biết, tại Việt Nam hiện chỉ có vắc xin phòng não mô cầu cho trẻ em, dự kiến từ tháng 4 mới có vắc xin não mô cầu cho người lớn.
Trong các tuần qua, nhu cầu tiêm vắc xin phòng bệnh não mô có xu hướng tăng, do người dân lo nhiễm bệnh. Theo Bộ Y tế, tại Việt Nam hiện chỉ có vắc xin phòng não mô cầu cho trẻ em, dự kiến từ tháng 4 mới có vắc xin não mô cầu cho người lớn.
Hiện nay đã có vắc xin phòng bệnh do não mô cầu nhóm huyết thanh A, B, C, Y, W-135. Đây là vắc xin tiêm dịch vụ do người dân tự chi trả.
Thạc sĩ, bác sĩ Hồ Anh Tuấn, Khoa Truyền nhiễm (Bệnh viện Nhi T.Ư) lưu ý: trong nước, các vụ dịch não mô cầu chủ yếu do chủng A và C gây ra, nên các vắc xin này là phù hợp. Tuy vậy, với mỗi vụ dịch phải xác định chủng não mô cầu nào gây bệnh, để từ đó lựa chọn vắc xin tiêm hiệu quả. Ví dụ: vắc xin Meningo giúp phòng được chủng A và C. Vắc xin Menveo dự phòng được 4 chủng não mô cầu là A, C, W135 và Y.
Một lưu ý nữa là viêm màng não còn có thể do nhiều vi khuẩn khác gây ra nên vắc xin phòng não mô cầu sẽ không dự phòng được cho các loại viêm màng não khác.
Theo bác sĩ, vắc xin có hiệu lực sau tiêm 10 ngày và kéo dài 3 năm. Sau 3 năm nên tiêm nhắc lại, nếu như vẫn còn yếu tố nguy cơ tiếp xúc bệnh. Ngoài ra, phải dùng kháng sinh dự phòng cho người tiếp xúc gần hoặc tiếp xúc kéo dài với bệnh nhân não mô cầu.
Não mô cầu hay gặp hơn vào mùa xuân. Mọi đối tượng chưa có miễn dịch đều có khả năng mắc bệnh, hay gặp hơn là trẻ dưới 1 tuổi và nhóm trẻ thanh thiếu niên.
http://thanhnien.vn/doi-song/thang-4-moi-co-vac-xin-nao-mo-cau-cho-nguoi-lon-682670.html
Cẩn trọng với bệnh viêm não mô cầu
Thời gian gần đây bệnh viêm não mô cầu xuất hiện khiến nhiều người rất lo lắng, đổ dồn đưa con đi tiêm vắc xin. Theo khuyến cáo của các bác sĩ, phải cẩn trọng với loại bệnh này bởi nó để lại di chứng rất lớn, có thể ảnh hưởng đến tính mạng.
Bệnh viêm não mô cầu được gây ra bởi vi khuẩn Neisseria meningitidis (còn gọi là khuẩn màng não cầu). Vi khuẩn này được chia thành 13 nhóm huyết thanh ký hiệu bằng các chữ trong bảng chữ cái như A, B… Một số người có vi khuẩn sống tự nhiên trong mũi và họng. Ở một số ít người, chủng vi khuẩn nguy hiểm này có thể thâm nhập qua lớp niêm mạc họng, gây ra bệnh não mô cầu xâm lấn, có thể dưới hình thức nhiễm trùng máu hoặc viêm màng não.
Bệnh viêm não do mô cầu có thể xảy ra quanh năm nhưng phổ biến hơn vào mùa đông và đầu mùa xuân. Mặc dù ít gặp, nhưng đây là một bệnh nặng có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi. Đặc biệt, trẻ nhỏ dưới 5 tuổi là đối tượng có nguy cơ mắc bệnh cao nhất.
Bệnh viêm não mô cầu tiến triển rất nhanh, có triệu chứng giống với các bệnh viêm màng não do nhiễm siêu vi thông thường nên khó phát hiện trong giai đoạn đầu. Do đó, hệ quả của nó để lại có thể khiến người bệnh tàn tật suốt đời với di chứng nghiêm trọng như phải cắt bỏ các chi, tổn thương não hoặc tử vong trong vòng 24 tiếng đồng hồ.
Theo ông Trần Văn Hoàng - Giám đốc Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh (TTYTDP), thời gian qua, nhiều người đã đến trung tâm để tiêm phòng vắc xin bệnh viêm não mô cầu. Ông Hoàng cho biết, bệnh này có thể lây từ người sang người qua những hoạt động, sinh hoạt chung hàng ngày như dùng chung ly tách uống nước, sống chung khu tập thể, cắm trại, trong nhà trường, nhà trẻ, sinh hoạt cộng đồng… nên cần phải hết sức cẩn trọng để phòng tránh. Đối với trẻ dưới 1 tuổi và trẻ nhỏ khi mắc bệnh viêm màng não cầu thường có các triệu chứng: sốt, bỏ bú, quấy khóc, vật vã, mệt mỏi, tiêu chảy, co giật, phát ban thành những chấm đỏ, tím hoặc đám bầm tím lớn. “Ở khu vực nào phát hiện có người bị bệnh viêm não mô cầu, để tránh lây lan, bố mẹ cần cách ly trẻ khỏi vùng bệnh, tránh tiếp xúc với người đang bị mắc bệnh và chú ý tới sức khỏe của trẻ. Đặc biệt, khi trẻ có biểu hiện sốt cao đột ngột, đau đầu, bỏ bú,… bố mẹ cần đưa trẻ đến ngay cơ sở y tế để được khám và điều trị” - ông Hoàng nói. Ông Hoàng cũng nhắc nhở, bố mẹ cần thực hiện tốt vệ sinh cá nhân cho mình và cho trẻ, thường xuyên rửa tay bằng xà phòng, súc miệng, họng bằng nước muối hoặc các dung dịch sát khuẩn mũi họng thông thường; hạn chế đưa tay chạm vào mắt, mũi, miệng khi chưa được rửa sạch.
Chị Nguyễn Thanh Nhàn, trú tại xã Tam Đàn (Phú Ninh) cho biết, vừa qua có nghe nhiều thông tin về loại bệnh nguy hiểm này nên đã nhờ người tìm hiểu và đến TTYTDP tỉnh để tiêm phòng cho con gái vừa bước qua 1 tuổi. “Cứ tiêm phòng cho cháu mới yên tâm được, bởi bệnh này nguy hiểm quá” - chị Nhàn nói. Tương tự, chị Phạm Tuyết Mai, trú phường Hòa Hương (TP.Tam Kỳ) cũng đã gấp rút đưa con trai hơn 2 tuổi của mình đến tiêm phòng khi biết tại TTYTDP tỉnh đã có vắc xin phòng bệnh này.
Ông Trần Văn Hoàng cho biết, hiện nay trung tâm có sẵn loại vắc xin này với giá dịch vụ chưa đến 200 nghìn đồng/liều. “Viêm não mô cầu chưa từng lan ra thành dịch nên người dân cũng không nên quá lo lắng, nhưng cũng cần phải cẩn thận đối với loại bệnh này. Khi phát hiện bệnh, cần tổ chức cách ly và dự phòng tốt để khống chế các ca bệnh rải rác này không lây lan thành dịch. Bệnh nhân mắc bệnh nếu được phát hiện sớm, chẩn đoán và điều trị kịp thời thì khả năng hồi phục rất cao” - ông Hoàng cho hay.
http://tamnhin.net/can-trong-voi-benh-viem-nao-mo-cau-90579.html
“Trong vòng 30 năm qua, chiều cao của người Việt có cải thiện nhưng chậm. Chiều cao trung bình của nam giới là 164,4cm, nữ giới là 153,4cm. Tốc độ tăng chỉ 1-1,5cm trong một thập niên”, đó là nhận định của PGS.TS Lê Bạch Mai, Phó viện trưởng Viện Dinh dưỡng Quốc gia tại Hội thảo “Khuyến nghị sử dụng sữa và chế phẩm sữa cho người Việt Nam” vừa được tổ chức tại Hà Nội.
Tại hội thảo, Viện Dinh dưỡng cũng cho biết, chiều cao của thanh niên Việt Nam hiện đang thấp hơn so với thanh niên các nước châu Á khác như Nhật Bản, Singapore, Thái Lan 6-10cm. Trong khi những nước này, đặc biệt như Nhật khoảng những năm 50 của thế kỷ trước vẫn bị gọi là “Nhật lùn” do chiều cao hạn chế.
PGS.TS Lê Bạch Mai nhận định: “So với Nhật Bản, mấy thập niên trước họ còn bị gọi là lùn, thì nay chiều cao trung bình nam giới Nhật đã hơn 8cm so với nam giới Việt, nghĩa là chiều cao trung bình của họ đạt mức 172cm đối với nam và 157cm đối với nữ. Với tốc độ tăng chiều cao 1-1,5cm trong một thập niên, chúng ta phải chờ đợi từ 60 cho đến 80 năm nữa ta mới cao được như người Nhật”.
Lứa tuổi minh chứng rõ nhất cho người Việt vẫn chưa cao là 6-12 tháng tuổi và 6-11 tuổi. Theo phân tích của Bộ Y tế, nhóm tuổi này thấp hơn cả “chuẩn” mà Tổ chức Y tế Thế giới đã đặt ra. Bộ Y tế mà cụ thể là Viện Dinh dưỡng Quốc gia đã khảo sát, nghiên cứu, tìm hiểu các nguyên nhân và được biết chế độ dinh dưỡng của người dân Việt chưa phù hợp, vẫn thừa đạm, thiếu canxi do ít ăn thủy sản và ăn quá mặn, khẩu phần canxi chỉ đáp ứng 60% khẩu phần khuyến nghị. Nguồn thức ăn không đủ canxi, ví như sữa là nguồn giàu canxi, dễ hấp thụ, nhưng chưa là khẩu phần bình thường trong bữa ăn mà chỉ dành cho trẻ em, người ốm, người già. Trong khi đó, cua, tôm, cá nhiều canxi, song ăn để bổ sung canxi phải ăn cả mai và yếm cua, xương cá, tôm ăn cả vỏ… Mà như vậy thì không nhiều người Việt ăn.
Lượng canxi hấp thụ vào cơ thể vốn đã ít lại bị đào thải nhiều do thói quen ăn quá nhiều đạm, ăn quá mặn của người Việt. Viện Dinh dưỡng cho biết, người Việt ăn mặn gấp 3 lần khuyến cáo với hơn 15mg muối mỗi ngày. Đã vậy, chế độ ăn nhiều protein càng làm tăng bài xuất canxi theo nước tiểu.
Trong một khảo sát của Viện Dinh dưỡng đã từng được TS Lê Danh Tuyên, Viện Dinh dưỡng Quốc gia công bố trước đây, từ năm 1985 đến nay, mức năng lượng khẩu phần ăn của người Việt không thay đổi đáng kể, nhưng cơ cấu sinh năng lượng lại thay đổi rõ rệt. Nếu cách đây 10 năm, protein chỉ chiếm 11% năng lượng thì nay đã tăng lên mức hơn 15%. Đặc biệt, lượng lipit đã tăng lên gấp đôi, khi trung bình một người mỗi năm ăn khoảng 31kg thịt. Điều này cho thấy, người Việt ăn ngày càng nhiều chất đạm, hơn hẳn Hàn Quốc chỉ ăn khoảng 27kg thịt. Trong khi đó, rau xanh, hoa quả mỗi người chỉ ăn 160g, chỉ bằng 50% so với khuyến cáo của ngành y tế. Mà không phải khi trưởng thành mà từ khi lọt lòng, nhiều trẻ em Việt Nam đã được nuôi dưỡng theo “công thức” mất cân bằng ấy. Trong khi các nhà khoa học đã tính 5 năm đầu đời là khoảng thời gian nuôi dưỡng nền tảng, quyết định hình thể và thể chất trong tương lai của các em.
Cũng vì cách nuôi dưỡng thiên lệch như vậy mà tỷ lệ suy dinh dưỡng thấp còi ở nước ta vẫn ở mức cao gần 25%. Như vậy, tính trung bình mỗi năm có khoảng 1,9 triệu trẻ bị suy sinh dưỡng thấp còi. Số trẻ này khi lớn lên sẽ thiếu hụt khoảng 10cm chiều cao với bạn bè cùng tuổi.
Theo PGS.TS Lê Bạch Mai, khẩu phần vitamin D của người Việt rất thấp, dù đây là yếu tố giúp hấp thụ canxi tốt. PGS.TS Mai minh chứng, khẩu phần ăn của người Việt hiện chỉ đáp ứng được 10% nhu cầu khuyến nghị, 80-90% vitamin D của cơ thể chủ yếu tổng hợp từ tiền chất vitamin D dưới da nhờ tác động quang hóa của tia cực tím ánh nắng mặt trời. Nhiều người chưa có thói quen tắm nắng, phụ nữ đi ra đường lại che nắng quá nhiều mà không biết ánh nắng trước 10 giờ và sau 16 giờ rất cần thiết với cơ thể.
Trước hiện tượng thấp bé, nhẹ cân của người Việt, các nhà khoa học đã cho rằng, đây không phải là thuộc tính di truyền của người Việt. Và ngay cả các nghiên cứu trên thế giới cũng cho thấy điều này. Như nghiên cứu Nhật Bản cho thấy, các yếu tố ảnh hưởng đến chiều cao của con người gồm: chế độ dinh dưỡng chiếm đến 32%, vận động thể dục thể thao chiếm 20%, môi trường tâm lý và xã hội chiếm 16% và yếu tố chủng tộc di truyền chiếm 23%. Như vậy, có đến hơn 3/4 (77%) của những yếu tố ảnh hưởng lên chiều cao là các yếu tố có thể cải tạo được.
Hiểu rõ “cơ chế” này, nhiều quốc gia trên thế giới đã cải thiện chiều cao, tầm vóc bằng cách tập trung vào những yếu tố có thể cải tạo được - chính là chế độ dinh dưỡng cùng với rèn luyện thể thao. Từ thời Minh Trị thiên hoàng, người Nhật đã đưa ra một quốc sách là chương trình “Bữa ăn trưa học đường” gồm các món ăn được người ta chăm chút, chọn lựa cẩn thận, theo những tài liệu, hướng dẫn khoa học chính thống cho học sinh tại trường. Tại Hoa Kỳ, năm 2000, chính phủ tài trợ miễn phí 5,56 tỉ USD cho ăn trưa và 1,4 tỉ USD cho bữa ăn sáng ở các trường tiểu học và trung học. Còn tại Indonesia, có khoảng 600.000 trẻ em tuổi đi học được nhận sữa bò vô trùng miễn phí và khoảng 400.000 trẻ khác được nhận sữa đậu nành…
Để cải thiện chiều cao của người Việt và chế độ dinh dưỡng, Thủ tướng Chính phủ cũng đã ban hành Quyết định 641/QĐ-TTg ngày 28-4-2011 phê duyệt Đề án Tổng thể phát triển thể lực, tầm vóc người Việt Nam giai đoạn 2011-2030. Đề án bao gồm 4 chương trình lớn, trong đó có chương trình số 2: “Chăm sóc dinh dưỡng kết hợp với các chương trình chăm sóc sức khỏe, chất lượng dân số có liên quan”. Một trong 6 nội dung quan trọng của chương trình số 2 là xây dựng “Chương trình sữa học đường cho học sinh mẫu giáo và tiểu học”.
Theo PGS.TS Lê Bạch Mai, quan trọng nhất phải cải thiện chế độ thiếu canxi như hiện nay, có thể bằng cách bổ sung sữa, pho mai, sữa chua cùng các món ăn tôm, cua, cá… Bởi cứ 100g sữa tươi có 120mg canxi, 100g phomai có 720mg canxi, 100g sữa chua có 65-150mg canxi. Cụ thể, mức sữa phải tăng bình quân từ 11,8 lít/người/năm hiện tại lên mức 34 lít/người/năm vào năm 2025.
Nội lực của một quốc gia, dân tộc có phát triển bền vững, mạnh mẽ hay không phụ thuộc rất lớn vào sức khỏe của nguồn nhân lực, trong đó có chiều cao, tầm vóc. Nếu chúng ta không cải thiện được tầm vóc của người Việt thì không đáp ứng được yêu cầu phát triển của đất nước.
http://petrotimes.vn/nguoi-viet-van-lun-396826.html
Những con số giật mình về 'sát thủ thầm lặng'
(PLO) - Không nhìn thấy hậu quả trực tiếp như tai nạn lao động nhưng bệnh nghề nghiệp cũng nguy hiểm không kém đối với người lao động. Đó chính là “sát thủ thầm lặng” làm tổn hại sức lao động. Nhưng vì nhiều lý do khác nhau mà các động thái để “chặn tay” sát thủ thầm lặng này vẫn còn chậm trễ.
Năm 2015 số người lao động mắc BNN chiếm 31,9%
Xin đơn cử một căn bệnh nghề nghiệp (BNN) điển hình mà nhiều người mắc phải là bệnh bụi phổi silic - một trong những BNN lâu đời nhất cho đến nay và có thể gây tử vong.
Bệnh bụi phổi silic thường gặp ở các nghề mà môi trường sản xuất có nồng độ bụi silic cao như công nhân khai thác mỏ than, khoan các đường hầm giữa các mỏ than, công nhân khai thác quặng mỏ, công nhân khoan đường hầm đá...
Bệnh này hiện là bệnh chiếm tỷ lệ cao nhất trong 28 BNN được bảo hiểm hiện nay ở nước ta, chiếm tới 74,40% người mắc trong nhóm BNN. Tuy nhiên, theo PGS Khương Văn Duy, Bệnh viện Lao Phổi Trung ương, hiện nay bệnh phổi nghề nghiệp còn rất mơ hồ với người dân.
Mới đây, tại cuộc họp về an toàn lao động do Bộ LĐ-TB&XH tổ chức, Cục Quản lý môi trường y tế, Bộ Y tế đã công bố số liệu BNN trong năm 2015. Theo đó, qua 167.532 trường hợp được khám 25 loại BNN thì đã phát hiện được 8.966 trường hợp nghi mắc BNN (tăng 31,9%), tập trung vào các bệnh bụi phổi silic (1.369 trường hợp), bệnh bụi phổi bông (56 trường hợp), bệnh viêm phế quản nghề nghiệp (127 trường hợp), bệnh nhiễm độc chì và hợp chất của chì (181 trường hợp), bệnh điếc nghề nghiệp (6.567 trường hợp)…
Theo báo cáo của các địa phương và ngành, tổng cộng có 997.540 lượt người lao động đến khám chữa bệnh tại y tế cơ sở, trong đó các bệnh hô hấp chiếm 29,97%, tăng 6,87%; bệnh về đường tiêu hóa 15,59%, tăng 3,49%; bệnh về mắt 6,83%, tăng 4,1%; bệnh về cơ xương khớp 6,43%, tăng 0,83%...
Tại Bệnh viện Điều dưỡng và Phục hồi chức năng BNN TP HCM, nếu các năm trước tỉ lệ bệnh nhân là công nhân mắc các BNN chỉ chiếm 10 - 15% thì gần đây tỉ lệ này là 30%.
Các chuyên gia về lao động và y tế đều đưa ra cảnh báo trong xu thế hội nhập, với nhiều ngành nghề mới được phát triển, việc sử dụng nhiều hóa chất khác nhau sẽ dẫn đến số BNN tăng cao, cả cấp tính và mạn tính, đặc biệt khi để bệnh tích tụ lâu năm thì càng nguy hiểm, không có thuốc chữa, thậm chí tử vong.
Kinh phí phòng chống BNN chỉ đạt 25-30%
Theo Cục An toàn Lao động, Bộ LĐ-TB&XH, Việt Nam hiện có 30.000 người lao động mắc BNN. Tuy nhiên, con số thực tế cao hơn gấp nhiều lần. Nước ta chỉ mới công nhận 30 BNN, trong đó bệnh bụi phổi là phổ biến và nguy hiểm nhất (chiếm 74%), kế đến là điếc do tiếng ồn (17%), rồi các bệnh khác như nhiễm độc benzen; bệnh do tia X; sạm da nghề nghiệp, viêm da…
Mặc dù đối diện với nhiều nguy cơ mắc các bệnh do nghề nghiệp tác động song vì nhiều lý do khác nhau mà sức khỏe và tính mạng của người lao động chưa được người sử dụng lao động quan tâm đúng mức.
Trong năm 2015, kết quả đo môi trường lao động cho thấy số mẫu vượt tiêu chuẩn chưa có xu hướng giảm. Số mẫu đo, kiểm tra môi trường lao động năm 2015 vượt tiêu chuẩn cho phép là 10,25%, tập trung vào các yếu tố: ồn 17,46%, ánh sáng 15,84%, phóng xạ từ trường 19,9%, vi khí hậu 9,1%, hơi khí độc 5,5%, bụi 3,67%, rung 3,24%.
Tại TP HCM, tình trạng về môi trường lao động cũng có nhiều vấn đề để nói. Trong 1.424 cơ sở gồm công ty, xí nghiệp trực thuộc Nhà nước, các công ty liên doanh liên kết với nước ngoài, hợp tác xã, công ty cổ phần, tư nhân… được kiểm tra môi trường năm 2015, kết quả xác định nhiều mẫu vượt tiêu chuẩn cho phép như: điện từ trường 4,7%, hơi khí độc 5,3%, nhiệt độ 14%, tiếng ồn 13%, ánh sáng 22%.
Tình trạng ô nhiễm này ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe người lao động khiến nguy cơ gây BNN như bụi phổi, viêm phế quản mạn tính, nhiễm độc, điếc, bệnh về da… lên tới gần 65%. Công tác chăm sóc sức khỏe cho người lao động ở hầu hết các cơ sở vẫn chưa được quan tâm đúng mức, chỉ hơn 21% cơ sở có yếu tố nguy cơ thực hiện khám BNN cho người lao động.
Ở góc độ doanh nghiệp là vậy, còn ở góc độ quản lý nhà nước, theo bà Lương Mai Anh – Phó Cục trưởng Cục Quản lý môi trường y tế, hiện nay việc chỉ đạo quản lý công tác vệ sinh lao động, phòng chống BNN ở một số tỉnh, thành phố chưa được quan tâm đúng mức dẫn đến đầu tư và tổ chức khám BNN còn nhiều bất cập.
Kinh phí dành cho ngành Y tế cả Trung ương và 63 tỉnh, thành để phòng chống BNN chỉ đạt 25-30% so với nhu cầu. Nhận thức của người sử dụng lao động, người lao động về an toàn lao động, vệ sinh lao động, phòng chống BNN còn hạn chế. Do vậy, các cơ sở lao động chưa thực hiện nghiêm túc các quy định pháp luật về giám sát môi trường lao động, khám sức khỏe định kỳ và khám BNN.
http://baophapluat.vn/dan-sinh/nhung-con-so-giat-minh-ve-sat-thu-tham-lang-266434.html
Những dấu hiệu ung thư đại trực tràng ai cũng bỏ qua
Đau bụng, rối loạn tiêu hóa, đi ngoài ra nhầy kèm máu...dường như ai cũng gặp phải, nhưng nhiều người lại không nghĩ đó là dấu hiệu cảnh báo sớm ung thư đại trực tràng.
Cẩn trọng với những dấu hiệu đơn giản
Ung thư đại trực tràng là căn bệnh rất hay gặp phải, đặc biệt là những người trên 50 tuổi. Tuy nhiên đây là căn bệnh hoàn toàn có thể phòng chống, thậm chí là chữa khỏi hoàn toàn nếu phát hiện ở giai đoạn sớm. Theo các chuyên gia, để phát hiện bệnh ở giai đoạn sớm thì việc nhận biết các dấu hiệu bệnh ban đầu là vô cùng quan trọng.
Các chuyên gia cũng cho biết, đa số người dân thường nhầm lẫn các dấu hiệu bệnh ban đầu với các căn bệnh thông thường khác, bởi thế khi phát hiện ra bệnh ung thư đại trực tràng thường ở giai đoạn muộn hoặc rất muộn gây khó khăn trong quá trình điều trị.
Để giúp nhận biết các dấu hiệu sớm và dấu hiệu rõ ràng gây nên căn bệnh ung thư đại trực tràng, phóng viên đã có cuộc trao đổi với tiến sĩ - bác sĩ Nguyễn Quang Thái – Trưởng khoa Phẫu thuật Tổng hợp (Bệnh viện K cơ sở Quán Sứ).
Theo tiến sĩ Thái, đại tràng là nơi chứa phân để đi ngoài, vì thế dấu hiệu đầu tiên đó chính là rối loạn đại tiện mà dân gian hay gọi là rối loạn tiêu hóa với các biểu hiện cụ thể như: đi táo, đi lỏng, đi táo đi lỏng thất thường...
“Đặc biệt là dấu hiệu đi ngoài ra máu, ở đây có hai dạng đó là sau khi đi ngoài thì có máu tươi ngay sau đó phủ bên ngoài phân, đó thường là những tổn thường ngoài hậu môn và người ta thường nghĩ đến là bệnh trĩ.
Còn ung thư đại trực tràng là máu lẫn nhầy trong phân, vì vùng niêm mạc khi bị ung thư sẽ bị viêm và tiết dịch nhầy, bởi vậy máu thường lẫn với nhầy. Đây là dấu hiệu rất quan trọng cảnh báo bệnh ung thư đại tràng”, tiến sĩ Thái nói.
Ngoài ra, còn có một số dấu hiệu khác như đau bụng, đau quặn bụng từng cơn, gầy sút cân nhanh chóng, khi ung thư ở giai đoạn muộn có trường hợp còn sờ thấy cả khối u trên bụng.
Đồng quan điểm trên, phó giáo sư-tiến sĩ Nguyễn Văn Hiếu, nguyên phó giám đốc Bệnh viện K Trung ương cho biết, ung thư đại trực tràng là bệnh có khối u ác tính xuất phát từ trong lòng hoặc thành đại tràng hoặc trực tràng.
Theo phó giáo sư Hiếu, triệu chứng của bệnh phụ thuộc vào vị trí khối u, mức độ xâm lấn ra xung quanh và mức độ lan ra toàn cơ thể (di căn). Phần lớn các biểu hiện của bệnh không đặc trưng nên thường không nghĩ tới ung thư.
Theo đó, các dấu hiệu khi ung thư tại chỗ bao gồm chảy máu đường tiêu hóa dưới, thay đổi thói quen đại tiện, tắc ruột gây nên đau bụng, táo bón và nôn. Những dấu hiệu trên thường hay gặp, nhưng nhiều người bệnh thường chủ quan bỏ qua và coi nhẹ.
Khi khối ung thư đại trực tràng chuyển sang giai đoạn di căn thì dường như rất ít các triệu chứng, theo đó nếu di căn sang gan thường xuất hiện một số biểu hiện như vàng da, đau bụng do u xâm lấn bao gan, đường mật...
Soi đại tràng phát hiện ung thư như thế nào?
Theo các chuyên gia, nếu người nào thường có những biểu hiện như trên, hoặc những người trên 50 tuổi dù không có triệu chứng cũng cần phải tiến hành soi đại tràng. Nếu soi đại tràng hoàn toàn bình thường và không có polyp thì sau mười năm mới phải soi lại.
Theo đó, khi soi đại tràng phát hiện có từ 3-10 polyp loại tuyến ống (tubular adenomas) trở lên hoặc có loạn sản mức độ cao hoặc polyp có kích thước 1 cm bệnh nhân cần được soi lại tại thời điểm 3 năm sau đó. Nếu có nhiều hơn 10 polyp tuyến cần soi lại trong vòng trước 3 năm. Đối với polyp răng cưa (serrated polyp) 1cm cần soi lại tại thời điểm 3 năm sau đó.
Những người ít có nguy cơ ung thư đại trực tràng đó là khi soi đại tràng phát hiện có 1-2 polyp loại tuyến ống, hoặc polyp kích thước nhỏ <1 cm và không có loạn sản mức độ cao, những bệnh nhân này soi đại tràng lại sau 5-10 năm. Đối với polyp răng cưa <1cm và không có loạn sản soi lại tại thời điểm 5 năm sau đó. Đối với trường hợp polyp tăng sản (hyperplastic polyp) bệnh nhân cần soi lại tại thời điểm 10 năm sau đó.
Những người có tiền sử gia đình như: bố mẹ, anh em ruột và con bị ung thư đại trực tràng cần soi đại tràng để sàng lọc ở tuổi 40 hoặc trước 10 năm so với tuổi của người thân bị ung thư đại trực tràng.
Những người bị viêm loét đại tràng chảy máu hoặc bị bệnh đường ruột cần soi đại tràng hàng năm kể từ năm thứ 8 khi phát hiện bị tổn thương toàn bộ đại tràng hoặc từ năm thứ 12 đối với tổn thương toàn bộ đại tràng trái. Để phát hiện những tổn thương loạn sản.
Những người bị hội chứng polyp có tính chất gia đình (Familial adenomatous polyposis -FAP) cần soi đại tràng hàng năm.
http://khampha.vn/suc-khoe/nhung-dau-hieu-ung-thu-dai-truc-trang-ai-cung-bo-qua-c11a394085.html
WHO tiếp tục hỗ trợ ngành Y tế Việt nam
Thủ tướng Chính phủ vừa phê duyệt Chương trình hợp tác y tế cùng WHO hỗ trợ giảm gánh nặng các bệnh truyền nhiễm...
Thủ tướng Chính phủ vừa phê duyệt Chương trình hợp tác y tế cùng Tổ chức Y tế thế giới (WHO) với mục tiêu góp phần hỗ trợ giảm gánh nặng các bệnh truyền nhiễm, trong đó có HIV/AIDS, lao, sốt, tiêm chủng... giai đoạn 2016-2017.
Theo đó, WHO tiếp tục tài trợ kéo dài 2 năm hỗ trợ ngành Y tế Việt Nam thực hiện thêm các chiến lược quốc gia phòng, chống bệnh ung thư, tim mạch, đái tháo đường, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, hen phế quản và các bệnh không lây nhiễm khác; góp phần hỗ trợ giảm tỉ lệ bệnh tật, tử vong và nâng cao sức khỏe bà mẹ, trẻ em, trẻ sơ sinh và người cao tuổi theo hướng năng động và lành mạnh; hỗ trợ tăng cường hệ thống y tế với các trọng tâm; góp phần hỗ trợ công tác chuẩn bị, giám sát và quản lý có hiệu quả dịch bệnh nhằm đáp ứng các tình huống khẩn cấp về sức khỏe cộng đồng thông qua những hoạt động hỗ trợ kỹ thuật, xây dựng văn bản pháp lý và giám sát, ứng phó...
http://www.baogiaothong.vn/who-tiep-tuc-ho-tro-nganh-y-te-viet-nam-d142475.html
Fanpage
Youtube


















