Điểm báo điên tử ngày 28/12/2016
30/12/2016
0
Năm 2016 cả nước có 152 trường hợp nhiễm vi rút Zika
Nguồn tin từ Tổng Cục thống kê về tình hình dịch bệnh, ngộ độc thực phẩm thì tính đến nay cả nước có 152 trường hợp nhiễm vi rút Zika.
Ngoài ra, cả nước có gần 47.500 trường hợp mắc bệnh tay chân miệng (1 trường hợp tử vong), 106.300 trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết (36 trường hợp tử vong), 469 trường hợp mắc bệnh thương hàn, 962 trường hợp mắc bệnh viêm não vi rút (34 trường hợp tử vong), 59 trường hợp mắc bệnh viêm màng não do não mô cầu (5 trường hợp tử vong) và 152 trường hợp nhiễm vi rút Zika.
Bên cạnh đó, tổng số người nhiễm HIV của cả nước hiện còn sống tính đến thời điểm 17/12 là 231.600 người, trong đó 87.800 trường hợp đã chuyển sang giai đoạn AIDS. Số người tử vong do AIDS của cả nước tính đến thời điểm trên là 89.500 người.
Về tình hình vệ sinh an toàn thực phẩm, trong năm 2016, trên địa bàn cả nước xảy ra 129 vụ ngộ độc thực phẩm nghiêm trọng, làm 4.139 người bị ngộ độc, trong đó 12 trường hợp tử vong.
http://www.nguoitieudung.com.vn/nam-2016-ca-nuoc-co-152-truong-hop-nhiem-vi-rut-zika-d52394.html
Bác sĩ quên kéo trong bụng bệnh nhân suốt 18 năm?
Một bệnh nhân nam 54 tuổi đột nhiên phát hiện bác sĩ quên kéo trong bụng mình suốt 18 năm qua sau khi đi khám.
Nam bệnh nhân bị bác sĩ quên kéo trong bụng suốt 18 năm qua là ông Ma Văn Nhật ở xã Bình Trung, Chợ Đồn, Bắc Kạn.
Theo thông tin mà người bệnh cung cấp được đăng tải trên báo Công lý ngày 28/12, thì và tháng 6/1998, ông Nhật bị tai nạn giao thông khiến ghi đông xe đâm vào mạn sườn. Ông được đưa vào Bệnh viện huyện Chợ Đồn để cấp cứu, nhưng ngay sau đó do tình trạng nguy hiểm ông tiếp tục được chuyển viện lên Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Kạn. Tại đây, ông Nhật đã được chỉ định phẫu thuật. Sau khi phẫu thuật xong và hồi phục bệnh nhân này đã được ra việc, mọi hoạt động ăn uống, sinh hoạt lao động vẫn bình thường.
Tuy nhiên, gần đây ông Nhật bị tai nạn và đến khám tại Bệnh viện Gang thép Thái Nguyên thì phát hiện có một dị vật trong bụng bệnh nhân này giống như chiếc kéo dài 15 cm.
Kết quả siêu âm của Bệnh viện Gang thép Thái Nguyên và Bệnh viện đa khoa Bắc Kạn xác định dị vật trong bụng ông Nhật là một chiếc panh chuyên dùng để mổ của ngành y.
Hình ảnh chụp X-quang cũng cho thấy chiếc kéo mổ hiện nằm trong ổ bụng của ông Nhật. Có thể chiếc kéo nằm trong ổ bụng bệnh nhân này là do bác sỹ quên khi phẫu thuật từ 18 năm trước.
http://kienthuc.net.vn/khoe-dep/bac-si-quen-keo-trong-bung-benh-nhan-suot-18-nam-802511.html
Hà Lan: Cấy nhầm tinh trùng cho 26 phụ nữ
Một nửa phụ nữ trong số này đã mang bầu hoặc sinh con trong sự cố chưa từng có tiền lệ ở Hà Lan và thế giới.
Cơ quan y tế Hà Lan đang điều tra vụ việc sai sót nghiêm trọng khiến 26 phụ nữ bị cấy nhầm tinh trùng. Báo Hà Lan cho biết do quy trình xảy ra nhầm lẫn nên từ tháng 4.2015 đến tháng 11.2016, quá trình thụ tinh trong ống nghiệm đã gặp sự cố.
“Trong lúc cấy trứng, tinh trùng được chọn trước của 26 cặp vợ chồng hiếm muộn đã bị thực hiện sai quy trình”, thông báo của cơ quan y tế Hà Lan viết. Dù đơn vị này khẳng định khả năng sai sót là rất thấp nhưng hoàn toàn có thể xảy ra tình trạng cấy nhầm tinh trùng.
Khoảng 13 phụ nữ được cấy tinh trùng đã mang bầu hoặc sinh em bé. Các cặp đôi cũng được thông báo về sự cố hy hữu này.
Cơ quan y tế Hà Lan rất tiếc vì sự việc xảy ra và cam kết làm hết sức có thể để giải quyết trong thời gian sớm nhất. Thụ tinh trong ống nghiệm là thủ thuật giúp các cặp vợ chồng hiếm muộn hoặc có vấn đề về gene sinh con như người bình thường.
Trứng của người mẹ sẽ được cấy tinh trùng trong phòng thí nghiệm. Sau đó, các nhà khoa học đưa trứng chứa tinh trùng (hợp tử) vào tử cung của bà mẹ. Quy trình thụ tính kéo dài khoảng 2 tuần.
Quá trình thực hiện thụ tinh trong ống nghiệm hoàn toàn có thể xảy ra sai sót. Năm 2012, một người mẹ Singapore đã kiện lên tòa vì phòng khám sở tại cấy nhầm tinh trùng người lạ vào trứng của cô. Người mẹ nhận ra sự khác biệt khi đứa con của cô chào đời có màu da và tóc khác hẳn chồng mình.
http://danviet.vn/the-gioi/ha-lan-cay-nham-tinh-trung-cho-26-phu-nu-734187.html
'Choáng' với top 10 bé sơ sinh nặng nhất thế giới, có bé đẻ thường nặng 10kg
Nếu như một em bé bình thường khi chào đời chỉ nặng từ 3-3,5kg thì những em bé này sẽ khiến bạn choáng ngợp vì trọng lượng “hơn người”.
#10. Bà mẹ tuổi teen Ấn Độ đẻ con nặng 6,75kg
Một phụ nữ trẻ 19 tuổi người Ấn Độ có tên Nandini đã hạ sinh bé gái đầu lòng nặng tới 6,75kg, dài 62cm hồi tháng 5 vừa qua. Ca sinh mổ của bà mẹ trẻ diễn ra trong 30 phút tại một bệnh viện ở Karnataka. Với cân nặng vượt chuẩn, các bác sĩ đã rất lo lắng rằng em bé có thể sẽ bị tiểu đường và những nguy cơ khác, tuy nhiên may mắn cả 2 mẹ con đều có sức khỏe tốt. Đây là trường hợp em bé sơ sinh nặng cân nhất được ghi nhận ở Ấn Độ cho đến nay.
#9. Em bé Anh chào đời với cân nặng 7kg
Vào ngày 11/2/2013, một phụ nữ 21 tuổi có tên Jade Packer đã hạ sinh một bé trai nặng tới 7kg tại Bệnh viện Hoàng gia Gloucester. Em bé chào đời muộn 2 tuần so với ngày dự sinh và được hạ sinh theo cách tự nhiên. Theo bố mẹ em bé, chính bác sĩ và bố mẹ cũng không biết em bé chào đời lại nặng vượt chuẩn nhiều như thế. Trong quá trình chào đời, vì quá lớn nên bé bị mắc kẹt và ngạt thở suốt 5 phút. Khi đó, bác sĩ đã kết luận em bé chỉ có 10% cơ hội sống sót và được chuyển tới bệnh viện St Michaels. Sau 4,5 tuần nằm viện, em bé đã được về nhà.
#8. Em bé chào đời ở California, Mỹ nặng 7,25kg – một trong những em bé sơ sinh nặng nhất trong lịch sử
Năm 2013, sản phụ Sosefina Tagula of California đã hạ sinh bé trai nặng tới 7,25kg và được đặt tên Sammisano Joshua Talai Otuhiva. Theo người mẹ này,em bé đã được chào đời sớm hơn ngày dự sinh vì các bác sĩ lo lắng bé sẽ quá nặng cân. Nếu chờ đủ ngày tháng, có thể em bé sẽ nặng tới 8kg.
#7. Bé trai chào đời tại bệnh viện Texas Mỹ nặng 7,2kg
Năm 2011, sản phụ Janet Johnson đã hạ sinh một em bé nặng tới 7,2kg và dài 61cm tại bệnh viện Longview ở Texas. Đây là em bé được sinh ra nặng nhất tại bệnh viện này.
Theo các bác sĩ, chính căn bệnh tiểu đường của chị Janet là nguyên nhân khiến bé JaMichael có cân nặng vượt trội như thế. Ngay sau sinh, bé được chăm sóc đặc biệt để hỗ trợ ăn uống và hô hấp.
#6. Người mẹ ở Cape Town sinh con nặng 7,6kg
Năm 2007, bà mẹ có tên Cathleen Abels đã hạ sinh một bé gái Chesner nặng tới 7,6kg tại bệnh viện Tygerberg ở Cape Town. Theo các nhân viên bệnh viện, đây là em bé lớn nhất được sinh ra tại bệnh viện này. Cathleen Abels đã từng nghĩ cô mang thai đôi vì bụng bầu quá lớn cho đến khi em bé chào đời. Được biết, bà mẹ này đã hạ sinh con bằng phương pháp đẻ thường và sau sinh bé đã gặp một chút khó khăn về đường thở nhưng may mắn sau đó có sức khỏe bình thường.
#5. Bà mẹ Brazil hạ sinh em bé khổng lồ nặng 8kg
Năm 2005, bà mẹ Franasca dos Santos đã hạ sinh em bé nặng 8kg bằng phương pháp mổ lấy thai tại một bệnh viện ở Salvador Brazil. Khi sinh con, bà mẹ này 38 tuổi. Các bác sĩ cho rằng cân nặng bất thường của bé là do căn bệnh tiểu đường của người mẹ. Bé Ademilton dos Santos cũng được coi là em bé sơ sinh nặng cân nhất Brazil cho tới nay. Vì cân nặng quá lớn nên khi chào đời, bé cũng gặp rắc rối ở hệ hô hấp nhưng không quá nguy hiểm.
#4. Bà mẹ người Nga hạ sinh em bé nặng 7,85kg
Bà mẹ 43 tuổi Tatyana Khalina đã hạ sinh em bé nặng 7,8kg vào tháng 9/2004 tại một bệnh viện vùng Altai của Siberia bằng phương pháp mổ lấy thai. Bé gái được bố mẹ đặt tên là Nadia. Bà mẹ này cho biết trong thai kỳ, vì gia đình nghèo nên cô ăn uống bình thường: “Tôi ăn tất cả mọi thứ, chúng tôi không có tiền mua thực phẩm đặc biệt nên tôi chỉ ăn khoai, mì và cà chua.”
#3. Mẹ Indonesia sinh con nặng 8,55kg
Vào tháng 9/2009, cặp vợ chồng Hananudlin và Ani đã chào đón bé trai nặng tới 8,55kg và dài 62cm có tên Akbar. Em bé sinh ra tại bệnh viện Abdul Manon ở Kisaran Sumatra. Bà mẹ bị mắc bệnh tiểu đường đã trải qua 40 phút trong ca mổ đẻ phức tạp, tại thời điểm sinh con, Ani đã 41 tuổi.
#2. Bé sơ sinh người Ý chào đời nặng 10,2kg
Năm 1955, bé trai có tên Carmelina Fedele đã chào đời với cân nặng 10,2kg tại Ý. Đây là em bé được ghi nhận chào đời với cân nặng nặng nhất trong lịch sử và được được ghi danh vào sách kỷ lục Guinness.
#1. Em bé chào đời dài 71cm
Năm 1879, một người phụ nữ Canada có tên Anna Bates đã hạ sinh bé trai nặng 10kg và chiều dài 71cm. Cô đã hạ sinh con bằng phương pháp tự nhiên tại nhà ở Ohio, Mỹ. Theo sách kỷ lục Guinness, cô Anna Bates có chiều cao nổi trội 2,26m. Tuy nhiên, không may mắn, em bé này đã qua đời 11 giờ sau khi chào đời. Bé được ghi danh vào sách kỷ lục Guinness là một trong những em bé sơ sinh lớn nhất thế giới.
Gói hút ẩm - 'Sát thủ giấu mặt' làm mù mắt, loét miệng trẻ nếu chẳng may nghịch
Theo các chuyên gia, nếu nhà có con nhỏ cha mẹ nên thận trọng trước những gói hút ẩm bởi nó tiềm ẩn nhiều hiểm họa gây hại cho trẻ.
Thông tin trên báo Gia đình & Xã hội, phần lớn mọi người đều biết trên gói chống ẩm được cảnh báo không được ăn, nhưng ít ai tìm hiểu lý do vì sao…Họ bỏ qua mà không biết rằng đằng sau cái gói nho nhỏ ấy, chứa một nguy cơ không hề nhỏ. Nếu chỉ một chút sơ xuất, rất có thể để lại những di chứng đến khó lường.
Thông tin về các vụ tai nạn từ gói hút ẩm không còn mới, nhưng mỗi khi nhắc đến người ta lại thấy rùng mình vì những di chứng từ gói hút ẩm để lại cho các nạn nhân.
Trước đó, một vụ tai nạn bất ngờ ập đến với bé trai 2 hơn tuổi ở TP Bắc Giang do nghịch gói chống ẩm trong túi bánh gạo. Cháu bé được đưa đến điều trị khoa Kết – Giác mạc (Bệnh viện Mắt Trung ương). Tại đây, cháu bé nhập viện trong tình trạng mắt trái sưng húp, không mở được. Sau 4 ngày điều trị ở viện bé mới có thể mở mắt nhưng toàn bộ mắt trái của cháu mờ đục, ở tròng đen mắt xuất hiện những đốm mờ trắng. Bệnh nhi được xác định bỏng giác mạc và sẽ phải phẫu thuật điều trị.
Một tai nạn đáng thương khác xảy ra với bé trai 8 tuổi tại Trung Quốc. Do tò mò nên cháu bé đã đưa vào mũi ngửi, sau đó cháu hòa nó vào cốc nước, không ngờ chiếc cốc phát nổ, bắn mạnh ra xung quanh và bắn cả vào mắt của cháu bé. Hậu quả để lại là cháu bé bị mù vĩnh viễn.
Từ sự việc trên, theo các chuyên gia, không phải mọi trường hợp gói chống ẩm khi hòa vào nước đều phát nổ. Những gói hút ẩm mà chúng ta thường thấy được làm từ silica gel hoặc vôi bột. Silica gel tuy không hút ẩm tốt bằng vôi bột, nhưng an toàn hơn.
Còn những loại gói chống ẩm có thành phần từ vôi, cấu tạo chủ yếu gồm calcium oxide, khi gặp nước sẽ dẫn tới phản ứng hóa học cực mạnh, tỏa ra lượng nhiệt rất lớn, trong một số trường hợp có thể phát nổ và gây bỏng cho những người xung quanh, theo báo Sức khỏe & Đời sống.
Còn nếu trường hợp trẻ nuốt phải hạt chống ẩm từ vôi bột có thể bị bỏng khoang miệng, loét họng tùy theo mức độ hóa chất mà trẻ tiếp xúc. Bên cạnh loại túi chống ẩm dạng hạt thì trên thực tế vẫn có loại túi chống ẩm dạng bột màu trắng, mịn được sử dụng.
Các loại sản phẩm này sẽ nguy hiểm hơn rất nhiều dạng hạt, đặc biệt nếu bao bì bên ngoài chất lượng kém, dễ xé hoặc rách khiến bột ở bên trong tung ra ngoài. Khi hít phải loại bột này, trẻ có thể bị bỏng hô hấp. Hơn nữa, bỏng do kiềm nguy hiểm hơn nhiều so với bỏng do axít vì dễ bỏng sâu và lan rộng. Trường hợp trẻ vô tình hít phải loại bột chống ẩm này sẽ gây ra tình trạng bỏng, rát mũi, khó thở.
Tai nạn hay xảy ra nhất là các hạt chống ẩm bắn vào mắt khi trẻ đùa nghịch. Tùy từng loại hạt chống ẩm mà mức độ nguy hiểm sẽ khác nhau. Nhưng dù là hạt chống ẩm dạng nào thì cũng sẽ gây ra những ảnh hưởng không tốt đến đôi mắt của trẻ. Đặc biệt, với loại chống ẩm từ vôi bột thì sẽ gây ra những hậu quả nghiêm trọng, khiến giác mạc bị bỏng, sưng phù, thậm chí trẻ có thể mù vĩnh viễn.
Vì vậy, nếu không may rơi vào trường hợp này, cần hướng dẫn trẻ bình tĩnh chớp mắt, nhỏ nước muối, thậm chí chỉ là nước lã từ từ để hạt chống ẩm no nước và bong ra, tuyệt đối không được dụi mắt hay lôi vội ra sẽ dễ làm rách giác mạc mắt. Với loại túi chống ẩm là bột mịn, cha mẹ cũng sơ cứu tương tự cho trẻ trong suốt quá trình đưa trẻ tới cơ sở y tế gần nhất để bác sĩ chuyên môn cấp cứu kịp thời, tránh hậu quả khiến mắt trẻ khó hồi phục.
http://vietq.vn/goi-hut-am-sat-thu-giau-mat-cha-me-cho-coi-thuong-d111708.html
GS. Nguyễn Văn Tuấn: Sai sót y khoa là nguyên nhân thứ 3 gây tử vong tại Mỹ
Một trong những thông tin gây sốc trong năm 2016 (1) là những sai sót trong y khoa trở thành nguyên nhân gây tử vong đứng vào hàng số 3 (sau bệnh tim mạch và ung thư) tại Mỹ.
Tuy thông tin này gây sốc cho công chúng, nhưng trong giới y khoa thì chẳng ai ngạc nhiên. Vấn đề là tìm cách giảm sai sót trong y khoa, và biện pháp có lẽ bắt đầu từ hệ thống.
Từ đâu mà các nhà nghiên cứu thuộc Đại học Johns Hopkins có con số này? Họ phân tích dữ liệu tử vong, kể cả chứng chỉ tử vong (death certificate), và lấy mẫu để phân tích sai sót y khoa trong 8 năm và đi đến một ước số qui mô. Họ ước tính rằng hơn 25% bệnh nhân nhập viện ở Mĩ chết vì sai sót y khoa. Con số 25% này tương đương với 250,000 bệnh nhân mỗi năm.
Cá nhân tôi thấy con số này quá cao, và thấy có vài nghi ngờ. Cần nói thêm rằng trước đây Viện Y khoa Mĩ (IoM) ước tính rằng tỉ lệ sai sót trong y khoa dẫn đến cái chết cho bệnh nhân là khoảng ~4%, tương đương với gần 100,000 tử vong. Một vài nghiên cứu khác thì cho ra tỉ lệ sai sót là khoảng 7-8%. Những khác biệt này chủ yếu là do định nghĩa thế nào là "sai sót y khoa" hay "medical error" (2). Có những trường hợp không dễ dàng phân định đó là sai sót y khoa hay chỉ là "tai nạn" (3). Nhưng dù là 4%, 8% hay 25% thì con số này vẫn nói lên một thực tế không thể bỏ qua: sai sót trong y khoa là một nguyên nhân quan trọng gây tử vong.
Bộ phận nào trong bệnh viện là nơi nguy hiểm nhất? Theo nghiên cứu của giáo sư Lucian Leape (Harvard, Mĩ) và bác sĩ Wilson (Úc), khoảng 40% tới 50% các tai nạn y khoa xảy ra ở phòng giải phẫu. Nơi "nguy hiểm" thứ hai là những khu điều trị (tức wards), chiếm 27% trong tổng số tai nạn. Những khu điều trị có kĩ thuật cao như ED (emergency department), ICU (intensive care unit) và khu sinh sản cũng là những nơi mà sai sót y khoa có thể xảy ra, nhưng ở một tỉ lệ thấp hơn (khoảng 3% tới 5%).
Trong khi những lỗi lầm y khoa trong bệnh viện được điều tra tương đối có hệ thống, nhưng những lỗi lầm ở ngoài bệnh viện như trong các phòng mạch bác sĩ, các nhà dưỡng lão, v.v. lại ít khi được đề cập và nghiên cứu. Trong bài tường trình của bác sĩ Wilson, khoảng 8% các tai nạn y khoa xảy ra ở phòng mạch bác sĩ, khoảng 2-3% xảy ra tại nhà của bệnh nhân, và 1-2% tại các nhà dưỡng lão. Bệnh nhân càng lớn tuổi càng có nguy cơ bị tai nạn trong chữa trị, có lẽ vì người già thường có nhiều bệnh tật cùng một lúc hơn người trẻ tuổi. Vì số lượng bệnh nhân đến khám tại các phòng mạch tư nhiều hơn trong bệnh viện, người ta đoán rằng số tai nạn và thương tích còn nhiều hơn con số mà các nhà nghiên cứu đã công bố.
Ở nước ta, chưa có những nghiên cứu tương tự để biết qui mô của vấn đề. Tuy nhiên, nếu chấp nhận tỉ lệ tai nạn 7% (tần số trung bình ở Mĩ, Úc, Canada và Âu châu), với tổng số bệnh nhân điều trị nội trú 10 triệu (số liệu Bộ Y tế), chúng ta có thể ước tính rằng hàng năm con số bệnh nhân trải qua “tai nạn” y khoa ở nước ta là 700,000 trường hợp. Và, vẫn theo kinh nghiệm ở Mĩ (khoảng 14% “tai nạn” y khoa dẫn đến tử vong) có thể ước tính rằng nước ta có khoảng 100,000 bệnh nhân bị chết do sai sót y khoa hàng năm. Đó là một con số tử vong rất lớn, chiếm khoảng 15% tổng số tử vong của cả nước. Tuy nhiên, các ước tính này thấp hơn thực tế, vì chưa tính đến số bệnh nhân được điều trị ngoại trú (khoảng 5.511.000 bệnh nhân).
Các nước phương Tây rất quan tâm đến sai sót y khoa, và đưa vấn đề vào trong chương trình nghị sự của Quốc hội. Tổng thống Clinton từng trực tiếp chỉ đạo và điều hành các cuộc nghiên cứu khoa học về sai sót y khoa. Úc là một nước rất tự hào về an toàn y khoa, nhưng khi kết quả của một nghiên cứu vào giữa thập niên 1990s làm cho cả nước và giới y khoa bàng hoàng. Theo nghiên cứu này, 14% bệnh nhân nằm viện trải qua ít nhất là một sai sót y khoa. Các nhà nghiên cứu còn ước tính rằng mỗi năm, có khoảng 18.000 người Úc bị thiệt mạng và 50.000 người bị thương tật vĩnh viễn do những lỗi lầm trong bệnh viện gây ra và những lỗi lầm này có thể phòng ngừa. Từ thực tế này, Úc lập ra một uỷ ban chuyên trách về sai sót y khoa, không phải để tìm thủ phạm, mà để cải tiến hệ thống sao cho tốt hơn.
Tiếp cận vấn đề từ quan điểm hệ thốngMột trong những nghịch lí trong y học ngày nay là y khoa càng ngày càng hiểu nhiều về bệnh lí và cách điều trị, thì lại càng không biết nhiều về cách tự chữa lấy lỗi lầm của chính mình! Điều này đúng vì một quan điểm có tính truyền thống trong y khoa cho rằng sai sót là tội lỗi. Trong các trường y, sinh viên thường được dạy không được nhầm lẫn, vì giới y khoa Tây phương cho rằng nhầm lẫn là tội lỗi, là sự thiếu sót về đạo đức nghề nghiệp. Điều này cũng có nghĩa là người thầy thuốc không muốn, hay không có can đảm, nói về nhầm lẫn của mình hay đồng nghiệp, bởi vì nó quá đau lòng. Cố nhiên, đó là một quan niệm rất ư là thụ động, sai lầm, và có khi nguy hiểm.
Hiện nay, mỗi khi có sai sót và sự cố xảy ra, người ta thường nhắm đến cá nhân. Cách giải quyết này chú trọng vào cá nhân (bác sĩ, nhà giải phẫu, y tá, dược sĩ, v.v.) và cho rằng lỗi lầm là do sự sai lệch trong quá trình suy tính, như lãng quên, thiếu chú ý, thiếu động cơ thúc đẩy, bất cẩn, cẩu thả, và liều lĩnh. Cách làm giảm những hành động này, do đó, thường tập trung vào việc trừng phạt (cảnh cáo, cách chức kiện cáo). Nói cho cùng, người ta thích khiển trách, đổ thừa cho nhau, vì việc làm đó thường mang lại cho họ một sự thỏa mãn cá nhân. Anh phạm lỗi, tôi không phạm lỗi; suy ra, tôi là người tốt, giỏi hơn anh. Vì tính đơn giản của nó, quan điểm cá nhân trên rất phổ biến trong mọi ngành nghề, kể cả y khoa, rất lâu đời, thậm chí đã trở thành truyền thống.
Nhưng cách giải quyết trên thường không đem lại hiệu quả cao. Một cách giải quyết vấn đế tốt hơn là xem xét đến hệ thống vận hành của bệnh viện. Theo quan điểm mới, sai sót y khoa là một hệ quả (thay vì nguyên nhân), xuất phát không hẳn hoàn toàn từ con người mà là từ hệ thống tổ chức. Vì thế, theo quan điểm này, khó mà thay đổi điều kiện con người (tức biến con người thành một cái máy), và cách giảm lỗi lầm hữu hiệu nhất là thay đổi guồng máy tổ chức. Và do đó, muốn thay đổi hệ thống chăm sóc, thay vì chú trọng vào việc tìm lỗi phải từ cá nhân, các nhà nghiên cứu lâm sàng đang tìm cách sửa đổi lề lối tổ chức và vận hành của các bộ phận có quan hệ tới việc chăm sóc, chữa trị các bệnh nhân với bệnh nặng và khẩn cấp.
Bệnh viện ngày nay đã dần dần biến thành những trung tâm cấp cứu, chuyên chữa trị những bệnh ngặt nghèo. Điều này có nghĩa là bệnh nhân nhập viện thường ở trong một tình trạng nguy kịch và nguy cơ bị tử vong cũng cao hơn các nơi khác. Trong những trường hợp khẩn cấp, kinh nghiệm cho thấy những dấu hiệu lâm sàng quan trọng có liên hệ đến tính mạng bệnh nhân như sự suy yếu của hệ thống hô hấp, tuần hoàn có khi bị bỏ lơ , suy diễn sai, hay không được quản lí tới nơi tới chốn bởi bác sĩ và y tá. Theo một nghiên cứu vào thập niên 1980s, có đến 60% tới 84% trường hợp bệnh nhân bị ngừng tim (cardiac arrest) đã có những dấu hiệu suy giảm về áp huyết, hệ thống hô hấp, và thậm chí hôn mê trước đó khoảng 8 giờ, nhưng lại không được quan tâm đúng mức và không có biện pháp gì để đối phó với tình hình nguy kịch đó. Nói cách khác, có đến 60% tới 80% trường hợp ngừng tim có thể cứu được nếu nhân viên y tế theo dõi và có biện pháp cấp cứu kịp thời. Điều này nói lên sự thiếu nhịp nhàng, thiếu tổ chức trong các bệnh viện, mà đặc biệt là ở các khu cấp cứu.
Ở Úc, một số bệnh viện lớn có những "biệt đội" như MET (Medical Emergency Team) sẵn sàng cấp cứu 24/24 khi biến cố xảy ra trong bệnh viện. MET là một ý tưởng của một ông bạn tôi là chuyên gia nổi tiếng về ICU. Trước đây, ông và tôi từng có thời gian thiết kế và có tài trợ để làm nghiên cứu về MET và thấy cách làm này có hiệu quả tốt cứu sống bệnh nhân và giảm tỉ lệ tử vong trong bệnh viện.
Hệ thống y tế, cũng giống như bất cứ hệ thống nào khác, chỉ an toàn khi nào sai sót được ghi nhận như là một điều không thể tránh khỏi, và hệ thống y tế được tổ chức sao cho tối thiểu hóa sai sót và hệ quả. Thay vì tập trung vào những đổ lỗi cho cá nhân người thầy thuốc, hay đi tìm những câu trả lời cho những câu hỏi sai, chúng ta cần tiếp cận vấn đề sai sót y khoa từ quan điểm hệ thống.
http://suckhoedoisong.vn/gs-nguyen-van-tuan-sai-sot-y-khoa-la-nguyen-nhan-thu-3-gay-tu-vong-tai-my-n126411.html
Fanpage
Youtube


















