Điểm báo điện tử ngày 30/10/2015.
31/10/2015
0
Cho con bú giúp giảm nguy cơ mắc ung thư vú thể tấn công
Một nghiên cứu mới của Mỹ chỉ ra rằng phụ nữ cho con bú có thể giảm 20% nguy cơ bị một dạng ung thư vú thể tấn công có tên gọi là thụ thể hormone âm tính.
Thường được chẩn đoán ở phụ nữ dưới 50 tuổi, ung thư vú thụ thể hormone âm tính (HRN) là loại ung thư vú tấn công và đe dọa tính mạng.
Ung thư vú HRN dễ gây tử vong hơn vì thường chỉ được chẩn đoán ở giai đoạn muộn, đáp ứng với ít phương pháp điều trị hơn và ít có khả năng chữa khỏi bằng các phương pháp hiện nay.
Theo Marisa Weiss, một trong các tác giả nghiên cứu từ Trung tâm Y Lankenau ở Pennsylvania, Mỹ, cho con bú là một chiến lược chi phí thấp, ngắn hạn dễ thực hiện mang lại hiệu quả bảo vệ tự nhiên lâu dài cho vú.
Phân tích trên 27 nghiên cứu khác nhau này bao gồm tổng cộng 36.881 trường hợp ung thư vú.
Phân tích gộp này chỉ ra hiệu quả bảo vệ của việc cho con bú chống lại ung thư vú HRN, thường phổ biến hơn ở phụ nữ trẻ và nhìn chung có tiên lượng kém hơn các kiểu ung thư vú khác.
Nghiên cứu nhấn mạnh sự cần thiết phải có thêm các chiến dịch y tế công cộng thông tin trực tiếp cho phụ nữ về lợi ích của việc cho con bú trước và trong những năm mang thai và sinh đẻ.
Nghiên cứu được công bố trên tờ Annals of Oncolog
Dấu hiệu nguy hiểm cần đưa bé đi khám ngay
Theo bác sĩ Trương Hữu Khanh, khi trẻ bị tím tái, ho nhiều khàn tiếng mà không thở nổi thì bố mẹ cần đưa bé đi khám ngay.
1. Dấu hiệu nguy hiểm cần đưa bé đi khám ngay
- Đang bệnh mà li bì khó đánh thức: Bé đang bệnh nào đó, ngủ li bì ngoài giờ ngủ, kêu thức dậy mở mắt nhìn xong ngủ tiếp
- Nôn ói tất cả mọi thứ: Ăn vào nôn ngay, nôn liên tục không chứa gì trong bụng được (Phụ huynh sau khi bé nôn không nên ép ăn hay uống sữa ngay).
- Tím tái: Cái này thì ai cũng biết - ho nhiều khàn tiếng mà thở không nổi - khó thở
- Co giật ở trẻ dưới 6 tháng hay trẻ trên 7 tuổi: Trẻ khác có thể do giật vì sốt nhưng sau khi hạ sốt mà bé tươi tỉnh thì có thể theo dõi thêm trước khi đưa bé đi khám.
2. Dấu hiệu có nguy cơ nguy hiểm
- Trẻ sốt cao run người, da nổi bông (hay da nổi vân tím).
- Trẻ dưới 3 tháng sốt cao mà không phải do chích ngừa.
- Trẻ sốt cao kèm tiêu chảy nhiều nhất là trẻ thừa cân vì rất khó nhìn mà biết được có mất nước hay không.
- Thở nhanh theo tuổi ngày càng nhanh - thở rút lõm ngực.
3. Trẻ bị bệnh nào thì nên chữa tuyến tỉnh
- Sốt xuất huyết mà bị sốc nhưng nặng quá, chờ tuyến huyện chữa ổn rồi chuyển.
- Tay chân miệng: Độ nặng - hiện tuyến tỉnh làm được hết.
- Bệnh liên quan đến não, màng não: Bé co giật hôn mê - bé sốt nôn ói nhức đầu ngày càng nhiều.
- Bố mẹ có cảm giác bất an về sức khỏe của con thì nên khám, tuy nhiên cần tìm hiểu thông tin để quyết định hợp lý.
4. Chọn nơi khám bệnh cho bé
- Đa số bé bệnh vặt, viêm mũi họng, viêm hô hấp trên, tiêu chảy cấp, rối loạn tiêu hóa, cảm, sốt vi rút đều chữa dễ dàng gần nhà.
- Ngay cả sốt sốt xuất huyết mấy ngày đầu, không nặng, tay chân miệng chưa biến chứng cũng chữa gần nhà và theo dõi tại nhà.
- Đa số phụ huynh lo lắng mang bé đến bệnh viện lớn, nhiều khi nửa đêm nửa hôm mang đến bệnh viện lại không bị gì đáng lo.
- Đa số bệnh nhi tại phòng khám bệnh viện lớn đều điều trị được gần nhà.
- Phụ huynh tìm phòng khám đáng tin cậy để theo dõi lâu dài cho bé và có vấn đề gì thì hỏi luôn.
http://khoe360.tienphong.vn/gia-dinh-suc-khoe/dau-hieu-nguy-hiem-can-dua-be-di-kham-ngay-922963.tpo
Ăn ít chất béo không phải là cách giảm cân tốt nhất
Việc áp dụng chế độ ăn kiêng ít chất béo trên thực tế không giúp con người giảm cân nhiền hơn so với việc áp dụng các chế độ giảm cân khác.
Theo một nghiên cứu mới công bố trên tạp chí y học "The Lancet" của Anh ngày 30/10, việc áp dụng chế độ ăn kiêng ít chất béo trên thực tế không giúp con người giảm cân nhiền hơn so với việc áp dụng các chế độ giảm cân khác.
Tác giả của nghiên cứu, bác sĩ Deirdre Tobias đến từ Bệnh viện Brigham, bang Massachusetts (Mỹ) cho biết kết quả tổng hợp phân tích các số liệu khảo sát khoa học đối với hơn 70.000 người từ nhiều quốc gia trên thế giới cho thấy không hề có căn cứ thuyết phục nào để khuyên mọi người nên áp dụng chế độ ăn kiêng ít chất béo.
Các kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra việc áp dụng các chế độ ăn kiêng ít carbohydrate (low-carb) ít đường và tinh bột lại mang lại kết quả giảm cân tốt hơn chế độ ăn ít chất béo. Cụ thể, trong khi chế độ ăn kiêng ít chất béo chỉ giúp con người giảm được 360g thì một chế độ ăn Low-carb với hàm lượng chất béo cao hơn lại giúp một người giảm được tới 1,15kg.
Trước thực trạng, dân số thế giới đang ngày càng béo hơn bao giờ hết thì việc tìm ra một chế độ ăn uống hợp lý giúp giảm cân đang là ưu tiên hàng đầu. Từ trước tới nay, việc hạn chế chất béo trong các bữa ăn vẫn luôn được áp dụng bởi theo lý thuyết cứ mỗi 1g chất béo chứa lượng calory cao gấp đôi lượng calory có trong 1g carbohydrate hay protein.
Và các nghiên cứu trong những năm gần đây đã chứng minh điều ngược lại. Tuy khẳng định tính thuyết phục cao của các kết quả nghiên cứu mới công bố, tác giả Tobias cũng cho rằng cần phải thực hiện nhiều nghiên cứu hơn nữa để tìm ra những cách giảm cân, giữ dáng lâu dài. Các chuyên gia khác đóng góp ý kiến cũng cho rằng việc giảm cân bằng cách áp dụng các chế độ ăn kiêng cũng giống như "mò kim đáy bể" bởi kết quả của nó là không rõ ràng. Tốt hơn hết con người nên duy trì một nếp sinh hoạt lành mạnh với tiêu chí "ăn ít đi và vận động nhiều hơn".
Xuất hiện nhiều vi khuẩn "siêu kháng thuốc" ở Việt Nam
Hiện nay, có một vài loại “siêu vi khuẩn” kháng lại mọi loại thuốc kháng sinh, phổ biến nhất là nhóm vi khuẩn gram âm đường ruột.
Theo đánh giá của các nhà khoa học, sự ra đời của kháng sinh là một thành tựu lớn của y học, nhờ kháng sinh, mỗi năm trên thế giới có hàng chục triệu người mắc các bệnh nhiễm khuẩn đã được chữa khỏi và cứu sống. Kháng sinh được coi như một vũ khí vĩ đại trong cuộc chiến của loài người nhằm chống lại vi khuẩn và các nhiễm khuẩn do chúng gây ra.
Tuy nhiên, có một thực tế đáng báo động là tình trạng kháng kháng sinh ở Việt Nam đang gia tăng chóng mặt, với số lượng vi khuẩn kháng thuốc, mức độ kháng ngày càng gia tăng. Thậm chí, có một vài loại “siêu vi khuẩn” kháng lại mọi loại thuốc kháng sinh, phổ biến nhất là nhóm vi khuẩn gram âm đường ruột.
PGS.TS Nguyễn Vũ Trung, Phó giám đốc Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương cho biết, trong nhiều trường hợp, mặc dù dùng kháng sinh điều trị nhưng tình trạng nhiễm khuẩn vẫn không được cải thiện, vi khuẩn vẫn tồn tại và phát triển.
Thậm chí có những trường hợp vi khuẩn đề kháng nhưng đó là đề kháng giả. “Ví dụ, khi vi khuẩn gây bệnh nằm trong các ổ áp xe, ổ mủ... có các tổ chức hoại tử, tổ chức viêm bao bọc khiến cho kháng sinh không thể thấm tới vị trí tổn thương được hoặc chỉ một lượng nhỏ kháng sinh có thể tới vị trí đó”, PGS Trung cho biết.
Theo đó, vi khuẩn có các gen đề kháng sẽ ít hoặc không chịu tác động của kháng sinh khi điều trị. Đặc biệt, việc điều trị một số vi khuẩn có vai trò quan trọng gây các nhiễm khuẩn ở bệnh viện, cộng đồng như viêm phổi, viêm đường tiết niệu, nhiễm khuẩn huyết... sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Nếu vi khuẩn đề kháng với nhiều loại kháng sinh hiện có, bệnh nhân có thể bị tử vong do thất bại điều trị.
Tuy nhiên vi khuẩn thường xuyên có sự thay đổi về cấu trúc hay sinh lý để kháng lại kháng sinh. Vì vậy, điều quan trọng là chúng ta phải tuân thủ nguyên tắc sử dụng kháng sinh, hết sức tránh việc lạm dụng kháng sinh nhiều hạn chế khả năng kháng thuốc của vi khuẩn.
Nói về việc quyết định cho người bệnh điều trị bằng kháng sinh, PGS Trung nhận định, theo nguyên tắc, nếu điều trị kháng sinh phải dựa vào kết quả định danh vi sinh và kháng sinh đồ, chứ không thể dựa vào kinh nghiệm hay thăm khám lâm sàng.
“Kể cả bác sĩ có kinh nghiệm hay dựa vào thăm khám lâm sàng đi chăng nữa thì cũng không thể nào cho được một phán đoán chính xác rằng, con vi khuẩn đấy là vi khuẩn gì và việc chỉ định kháng sinh chính xác để điều trị là rất khó”, PGS Trung nói.
BS Trung cho biết, những trường hợp nhiễm khuẩn, biện pháp điều trị là phải dùng kháng sinh và nguyên tắc khi dùng kháng sinh là phải xác định được vi khuẩn gây bệnh và làm kháng sinh đồ, có nghĩa là phải xác định được con vi khuẩn đó nhạy cảm với kháng sinh gì và kháng với kháng sinh gì sau đó bác sĩ sẽ chọn kháng sinh phù hợp để điều trị.
“Nếu một bệnh nhân điều trị không khỏi có nghĩa là bác sĩ chọn kháng sinh đồ không đúng. Việc chọn kháng sinh đồ không đúng sẽ dẫn đến kéo dài thời gian điều trị. Nếu bình thường điều trị 7 – 10 ngày là khỏi, nhưng vì xác định không đúng mà số thời gian điều trị phải tăng lên gấp đôi, kéo theo đó số tiền điều trị cũng tăng theo, thậm trí do điều trị không kịp thời có thể gây nguy hiểm”, PGS Trung cảnh báo.
http://khampha.vn/suc-khoe/xuat-hien-nhieu-vi-khuan-sieu-khang-thuoc-o-viet-nam-c11a366907.html
Thuốc đặt dưới lưỡi và cách dùng
Thuốc đặt dưới lưỡi không phải là một dạng bào chế mà là một cách dùng. Yêu cầu để đặt được dưới lưỡi là thuốc phải rã ra dưới lưỡi nhanh, không có mùi vị khó chịu, không gây kích ứng niêm mạc miệng và lưỡi.
Thuốc đặt dưới lưỡi không phải là một dạng bào chế mà là một cách dùng. Yêu cầu để đặt được dưới lưỡi là thuốc phải rã ra dưới lưỡi nhanh, không có mùi vị khó chịu, không gây kích ứng niêm mạc miệng và lưỡi.
Thực tế, có loại bào chế riêng như viên chuyên đặt dưới lưỡi (subligual tablets), viên ngậm (oral release tablets) nhưng cũng có loại không có cách bào chế riêng nhưng vẫn đặt được dưới lưỡi, nếu đạt được các yêu cầu trên. Ví dụ: viên nang hay viên dập nifedipin vốn là dạng thuốc uống, nhưng khi cần thiết có thể bẻ viên dập hay tháo bỏ viên nang ra đặt vào dưới lưỡi.
Ưu điểm
Thứ nhất: dưới lưỡi có hai tĩnh mạch lớn, trong miệng có nhiều mạch máu nhỏ. Đặt thuốc vào dưới lưỡi, thuốc sẽ ngấm vào hai tĩnh mạch lớn, hoặc ngậm thuốc ở miệng thuốc sẽ đi vào các mạch máu nhỏ và có thể cả tĩnh mạch lớn, rồi vào thẳng hệ tuần hoàn mà không bị phá huỷ bởi dịch vị hay enzym trong đường tiêu hoá, không bị gan chuyển hoá như khi uống. Các viên alphachymotrypsin, progesteron, mehtyltestosteron... thường có cách dùng này.
Thứ hai: thuốc đi thẳng vào hệ thống tuần hoàn nên có hiệu quả nhanh, không kém như khi tiêm. Ví dụ: trong cơn tăng huyết áp cấp tính, nếu không hạ cấp thời huyết áp xuống (hoặc trong 1giờ, hoặc trong 24 giờ tuỳ theo cơn cấp) thì các cơ quan đích sẽ bị tổn thương, có thể dẫn tới tử vong. Nhưng nếu dùng viên catopril 50 mg đặt dưới lưỡi, chỉ trong vòng 15 phút huyết áp giảm được 60mmHg. Như vậy bằng cách dùng này, có thể đưa huyết áp từ mức cao nguy hiểm (trên 200mmHg) xuống mức chấp nhận được (150-160 mmHg), tránh được các biến cố. Tương tự, trong bệnh xơ vữa động mạch vành, có lúc máu không đi đến và cung cấp đủ ôxy cho cơ tim, dẫn đến sự thiếu máu cục bộ, gây chứng đau thắt ngực. Đặt viên nitroglycerin vào dưới lưỡi, sẽ làm giãn ngay mạch, thư giãn hệ mạch chủ yếu vùng tĩnh mạch, làm giảm máu trở về tĩnh mạch, kéo theo sự giảm áp suất trong tim và sự tái phân bố luồng mạch vành vào các lớp dưới (nhạy cảm với sự thiếu máu cục bộ) trong tim; mức tiêu thụ oxy của cơ tim do đó giảm đi, lập lại sự cân bằng cung-cầu ôxy, huỷ chứng đau thắt ngực, tránh được các biến cố nhồi máu cơ tim, đột quỵ.
Một số thuốc có tác dụng tại chỗ như viên nystatin dùng chữa nấm miệng, viên metronidazol chữa viêm lợi, viên erythromycin chữa viêm họng... khi dùng không đặt thuốc dưới lưỡi cho thuốc ngấm vào tĩnh mạch lớn, mà chỉ cho thuốc vào miệng (ngậm lại, không nhai, không nuốt) cho thuốc tự rã ra có tác dụng kéo dài tại đó. Nhiều tài liệu không xếp các loại thuốc này vào thuốc đặt dưới lưỡi. Có loại thuốc không thể đặt dưới lưỡi như loại viên giải phóng hoạt chất chậm hay các viên sủi bọt, viên có mùi vị khó chịu, gây kích ứng. Nhiều tài liệu coi chúng là các loại thuốc cấm đặt dưới lưỡi.
Như vậy, trong phạm vi hẹp, nói chính xác, thuốc đặt dưới lưỡi là thuốc dùng đặt vào dưới vòm lưỡi nhằm tránh các tác dụng bất lợi khi dùng uống, nhằm có tác dụng nhanh.
Cách dùng
Co lưỡi lên vòm miệng trên. Đặt thuốc vào dưới, rồi hạ lưỡi xuống. Nếu viên thuốc to, khô, khó rã thì có thể thấm nước trước, hoặc ngậm một ít nước đun sôi để nguội, đợi một lúc viên thuốc ngấm đủ nước (nhưng không bị rã ra) thì nuốt nước đi, rồi cứ để viên thuốc tự rã ra dưới lưỡi. Nếu làm không khéo, làm ẩm thuốc quá nhiều hay ngậm quá nhiều nước, để quá lâu, thuốc bị rã ra khi nuốt sẽ nuốt cả thuốc vào ruột nên không đạt yêu cầu.
http://suckhoedoisong.vn/duoc-si-tu-van/thuoc-dat-duoi-luoi-va-cach-dung-2009120115555185.htm
Trùng trùng điệp điệp thuốc kháng sinh trong thịt, cá
- Nếu không quản lý thì kháng sinh sẽ tràn lan trên thị trường và sẽ bị sử dụng tùy tiện, bừa bãi, vô tội vạ.
Ngày 30-10, tại TP Đà Nẵng, Bộ NN&PTNT và FAO đã tổ chức hội thảo về quản lý và sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi.
Theo bà Hoàng Hương Giang (Phó phòng Thức ăn chăn nuôi, Cục Chăn nuôi), kháng sinh được sử dụng sẽ mang lại nhiều cái lợi cho người chăn nuôi như tăng khả năng sinh trưởng; tăng tỉ lệ thịt xẻ và thịt nạc; tăng năng suất sinh sản, sữa ở bò... Tuy nhiên, tại một số quốc gia tại châu Âu đã cảnh báo về mối nguy hiểm khi sử dụng kháng sinh trong thức ăn chăn nuôi với sức khỏe con người.
“Từ tháng 12-1998, các bộ trưởng nông nghiệp khối EU đã bỏ phiếu thống nhất cấm sử dụng các loại kháng sinh làm chất kích thích sinh trưởng trong thức ăn chăn nuôi như: Spiramycin, Tylosin Phosphate, Virginiamycin và Bacitracin-Zinc, Flavophospholipol, Avilamycin, Monensin Sodium, Salinimycin, 2N-Dioxides Carbadox và Olaquindox” - bà Giang nói.
Theo ông Đỗ Trọng Minh (Phòng Quản lý thuốc, Cục Thú y), hiện có gần 9.000 sản phẩm thuốc thú y đã được đăng ký lưu hành. Trong đó, thuốc thú y sản xuất trong nước là hơn 6.000 sản phẩm (gần 4.000 sản phẩm có chứa hoạt chất kháng sinh) và thuốc nhập khẩu là hơn 3.000 sản phẩm (gần 2.000 có chứa hoạt chất kháng sinh).
Từ năm 2005-2012, Cục Thú y đã lấy 2.463 mẫu thuốc thú y để kiểm tra chất lượng và phát hiện 379 mẫu (15,4%) thuốc thú y không đạt chất lượng. Năm 2013, đã phát hiện 14 mẫu thủy sản nuôi có dư lượng thuốc kháng sinh bị cấm Enrofloxacine với giá trị phát hiện từ 1,7 ppb đến 576,14 ppb. Ngoài ra, có hai mẫu phát hiện Ciprofloxacin vượt quá giới hạn cho phép gồm cá tra, cá lóc, cá rô đồng thương phẩm ...
“Mặc dù Enrofloxacin đã bị cấm sử dụng trong sản xuất kinh doanh thủy sản tại Việt Nam từ tháng 3-2012, tuy nhiên vẫn có tình trạng người dân lạm dụng để trị bệnh cho thủy sản nuôi, đặc biệt là kháng sinh Enrofloxacin và Ciprofloxacin thuộc nhóm Quinolones” -ông Minh nói.
Cũng theo ông Minh, năm 2013 tiến hành phân tích 110 mẫu thức ăn chăn nuôi thì phát hiện gần một nửa có chất kháng sinh... Còn kiểm tra mẫu thịt gà, heo thì có gần 10% tồn dư thuốc kháng sinh.
"Có hiện tượng dư lượng chất kháng sinh, sử dụng bừa bãi là do thú y cơ sở không được đào tạo đến nơi đến chốn. Trong khi người chăn nuôi thấy gia súc, gia cầm bỏ ăn là tiêm kháng sinh mà không cần biết bệnh do virus hay vi khuẩn" - ông Minh nói.
Ngoài ra, người chăn nuôi còn trộn kháng sinh vào thức ăn vừa để phòng bệnh vừa kích thích tăng trưởng; không tuân thủ thời gian ngừng sử dụng thuốc trước khi giết mổ, mặc dù có ghi trên nhãn thuốc. Việc kiểm soát chất tồn dư kháng sinh trong thực phẩm có nguồn gốc động vật chưa đồng bộ, chưa có chương trình chiến lược quốc gia...
“Nếu không quản lý và nâng cao kiến thức sử dụng thì kháng sinh sẽ tràn lan trên thị trường và sẽ bị sử dụng tùy tiện, bừa bãi, vô tội vạ. Những chủng kháng thuốc từ động vật có thể truyền lây sang người là gánh năng cho y tế cộng đồng và tổn thất của Chính phủ cũng như người dân không thể lường trước được” - ông nhận định.
http://phapluattp.vn/suc-khoe/trung-trung-diep-diep-thuoc-khang-sinh-trong-thit-ca-588014.html
Fanpage
Youtube


















