Điểm báo từ ngày 20 đến ngày 26 tháng 11 năm 2018
26/11/2018
0
Điểm báo từ ngày 20 đến ngày 26 tháng 11 năm 2018
Xây dựng hệ thống thông tin an toàn thực phẩm
Văn phòng Chính phủ vừa có thông báo kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Vũ Đức Đam tại cuộc họp về xây dựng hệ thống thông tin an toàn thực phẩm (ATTP).
Phó Thủ tướng giao Bộ Y tế chủ trì, phối hợp với các Bộ: Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Công Thương, Khoa học và Công nghệ tập trung chỉ đạo xây dựng hệ thống thông tin ATTP theo hướng là hệ thống thông tin mở, tin cậy, cập nhật về an toàn, vệ sinh thực phẩm một mặt phục vụ yêu cầu công tác quản lý nhà nước của các Bộ, ngành, địa phương (trước hết là của 3 ngành Y tế, Công Thương, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn); mặt khác hỗ trợ doanh nghiệp, người dân trong thực hiện các quy định về vệ sinh ATTP; giúp người tiêu dùng nhận biết, truy xuất thông tin về chất lượng, nguồn gốc của sản phẩm; giúp thúc đẩy sản xuất, kinh doanh các sản phẩm thực phẩm an toàn.
Là nội dung của Hệ tri thức Việt số hóa nhằm tăng cường phổ biến tri thức về vệ sinh ATTP, cung cấp nguồn dữ liệu để phát triển các ứng dụng trên môi trường mạng phục vụ công tác bảo đảm an toàn thực phẩm.
Phó Thủ tướng giao các Bộ Y tế, Công Thương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp chặt chẽ với Bộ Khoa học và Công nghệ khẩn trương triển khai các nhóm ngành sản phẩm như quy định tại Luật an toàn thực phẩm; khẩn trương tích hợp, cập nhật các thông tin về các sản phẩm thuộc diện đăng ký công bố sản phẩm và chứng nhận đủ điều kiện ATTP, hoàn thành trong năm 2018; huy động người sản xuất, kinh doanh thực phẩm và cộng đồng tham gia cập nhật thông tin về vệ sinh ATTP.
Thiết lập hệ thống báo cáo về ATTP qua mạng, công khai để người dân tham gia giám sát, góp ý, phản ánh về công tác quản lý nhà nước về ATTP của các ngành các cấp.
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tăng cường chỉ đạo, phối hợp với Hội Nông dân Việt Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam huy động hội viên tham gia cập nhật thông tin về sản xuất nông sản thực phẩm trong cộng đồng, thúc đẩy phát triển sản xuất thực phẩm sạch, nhận biết nguy cơ và đấu tranh với sản xuất thực phẩm không đảm bảo ATTP.
Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam tăng cường năng lực, chất lượng các chương trình phát thanh, truyền hình về ATTP; phối hợp truyền thông về hệ thống thông tin ATTP; tích hợp thông tin của chương trình, chuyên mục trên hệ thống thông tin ATTP. (Sức khỏe & Đời sống, trang 2)
89% bệnh nhân HIV/AIDS điều trị ARV có thẻ bảo hiểm y tế
Đây là những thông tin được đưa ra tại hội thảo hướng dẫn việc tiếp nhận, quản lý, sử dụng và thanh quyết toán thuốc ARV nguồn quỹ bảo hiểm y tế (BHYT) năm 2019 đối với các cơ sở điều trị HIV/AIDS do Cục Phòng chống HIV/AIDS (Bộ Y tế) tổ chức ngày 20-11.
Nhằm đảm bảo nguồn lực tài chính bền vững cho tiếp cận thuốc ARV cho người nhiễm HIV trong bối cảnh các nguồn tài trợ quốc tế đang giảm dần và có thể sẽ chấm dứt hỗ trợ cung cấp dịch vụ trực tiếp sau năm 2020, Quyết định số 1125/QĐ-TTg ngày 31-7-2017 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chương trình mục tiêu y tế và dân số giai đoạn 2016-2020 đã quy định “từ năm 2019, thanh toán thuốc từ Quỹ Bảo hiểm y tế cho các đối tượng có thẻ BHYT”.
Việt Nam là nước đầu tiên ở khu vực Đông Nam Á cam kết nhanh chóng đạt được mục tiêu 90-90-90 do UNAIDS khởi xướng. Việt Nam đã làm rất tốt việc kiểm soát dịch HIV. Dịch HIV ở VIệt Nam hiện tập trung vào một số nhóm nguy cơ cao như nhóm người nghiện chích ma tuý, phụ nữ mại dâm và nam quan hệ tình dục đồng giới. Tỷ lệ lây nhiễm HIV cả nước đã giảm đáng kể trong suốt một thập kỷ qua nhưng vẫn còn nhiều quan ngại về tình trạng nhiễm HIV gia tăng ở các nhóm nguy cơ cao đặc biệt là nam quan hệ tình dục đồng giới ở các khu vực thành thị như Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh và các đô thị lân cận.
Trong khi nguồn thuốc ARV viện trợ từ tổ chức quốc tế ngày càng cạn kiệt, việc tiếp tục điều trị ARV thông qua nguồn thuốc do BHYT chi trả là cơ chế tài chính bền vững cho điều trị thuốc kháng virus ở VIệt Nam.
Bà Dương Thúy Anh, Phó Chánh Văn phòng Cục Phòng chống HIV/AIDS cho biết, kể từ năm 2017 khi BHXH thanh toán cho các dịch vụ liên quan xét nghiệm, tải lượng virus, công khám, số người bệnh HIV/AIDS có thẻ BHYT tăng lên. Đặc biệt từ đầu năm 2018, sau khi Bộ Y tế đưa ra khung kế hoạch mua thẻ BHYT, các địa phương được bố trí ngân sách nên đồng loạt mua thẻ BHYT cho người nhiễm. Đến hết năm 2018, con số này sẽ đạt 90%.
Theo Cục Phòng chống HIV/AIDS, đến nay đã có 190 cơ sở điều trị tại 63 tỉnh, thành phố nhận thuốc ARV nguồn BHYT, tương ứng hơn 48 nghìn bệnh nhân trong năm 2019. 90% trong tổng số 433 cơ sở điều trị HIV/AIDS đã ký hợp đồng, 85% đã thanh toán ít nhất một dịch vụ nguồn BHYT đến hết 31-10-2018.
Đến nay, tỷ lệ bao phủ BHYT chung tại 63 tỉnh, thành phố đạt 89%, trong đó có bốn tỉnh đạt 100% như Ninh Thuận, Lai Châu, Cà Mau, Cao Bằng; có 42 tỉnh đạt hơn 90% và hiện còn khoảng 6 tỉnh đạt từ 70-80% (Nhân dân, trang 8).
40.000 người tử vong/năm do thuốc lá ở Việt Nam
Ngày 20.11 tại TP. Hội An (Quảng Nam) diễn ra hội nghị các nước ASEAN về xây dựng TP không thuốc lá lần thứ 6. Hội nghị do Quỹ Phòng chống tác hại (PCTH) của thuốc lá - Bộ Y tế phối hợp với Liên minh PCTH của thuốc lá Đông Nam Á, Tổ chức Y tế thế giới khu vực tây Thái Bình Dương tổ chức.
Theo Quỹ PCTH của thuốc lá, tại VN, nhờ đẩy mạnh xây dựng các mô hình TP du lịch không khói thuốc tại các tỉnh, thành như: Đà Nẵng, Hội An, Huế, Hạ Long, Nha Trang… cũng như nhiều cơ quan, đơn vị đưa quy định cấm hút thuốc lá nơi làm việc vào quy chế nội bộ cơ quan, thưởng phạt rõ ràng… đã giúp giảm tỷ lệ nam giới hút thuốc từ 47,4% năm 2010 xuống còn 45,3% năm 2016; nữ giới giảm từ 1,4% xuống còn 1,1%.
Đặc biệt, tỷ lệ phơi nhiễm với khói thuốc thụ động năm 2016 giảm đáng kể so với năm 2010, như tại các trường đại học, cao đẳng 16,4%; trên các phương tiện giao thông công cộng 15%; tại nơi làm việc 13,3% (Thanh niên, trang 3).
19% số ca ung thư dạ dày liên quan đến việc ăn thiếu rau và trái cây
Ngày 19-11, tại Hà Nội đã diễn ra “Hội thảo quốc tế về kiểm soát chế độ ăn uống liên quan đến bệnh không lây nhiễm tại Châu Á: Tiếp cận khu vực để nâng cao năng lực đáp ứng” - do Viện Vệ sinh dịch Tễ Trung ương đứng ra tổ chức. Theo các báo cáo tại hội thảo này, bệnh không lây nhiễm liên quan đến chế độ ăn uống đang gia tăng ở nhóm trẻ tuổi, gây ra gáng nặng kinh tế lâu dài cho xã hội.
GS.TS Đặng Đức Anh, Viện trưởng Viện Vệ dinh dịch Tễ Trung ương cho biết, với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế và quá trình đô thị hóa, môi trường thực phẩm và thói quen ăn uống của cộng đồng đang có những thay đổi bất hợp lý.
“Đây là thời điểm không sớm nhưng cũng không quá muộn để suy nghĩ nghiêm túc và hành động nhanh chóng để cải thiện môi trường thực phẩm và hành vi lựa chọn thực phẩm, tiến tới kiểm soát các bệnh không lây nhiễm liên quan đến chế độ ăn uống” – GS Đặng Đức Anh nói.
Tại hội thảo, Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Trường Sơn cho biết thêm, hiện tại, Việt Nam đang đối mặt với gánh nặng các bệnh không lây nhiễm, chủ yếu là bệnh tim mạch, tiểu đường, phổi tắc nghẽn mạn tính và ung thư. Ước tính có đến 8/10 ca tử vong ở Việt Nam là do bệnh không lây nhiễm.
Cụ thể, Việt Nam hiện có khoảng 12 triệu người mắc bệnh tăng huyết áp. Gần 60% số này chưa được phát hiện bệnh và trên 80% chưa được quản lý điều trị. Hơn 3 triệu người bị tiểu đường thì gần 70% chưa phát hiện bệnh…
Theo các chuyên gia, chế độ ăn ít rau và trái cây có liên quan đến 19% trường hợp ung thư dạ dày và ruột, 31% bệnh nhân thiếu máu tim cục bộ và 11% đột quỵ. Chế độ ăn nhiều muối là một trong những nguyên nhân gây đột quỵ, tăng huyết áp, ung thư dạ dày, suy thận, loãng xương và một số bệnh tim mạch khác...
Trong khi đó, điều tra của Bộ Y tế năm 2015 cho thấy, hơn 50% người trưởng thành ở nước ta ăn thiếu rau hoặc trái cây. Người dân ăn muối nhiều gấp 2 lần so với khuyến nghị của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO). Mặt khác, tỷ lệ thừa cân béo phì ở nước ta cũng đang tăng nhanh.
"Dinh dưỡng hợp lý và thực phẩm lành mạnh là ưu tiên hàng đầu trong dự phòng kiểm soát bệnh không lây nhiễm, nâng cao sức khỏe người dân" - Thứ trưởng Nguyễn Trường Sơn nhấn mạnh (An ninh thủ đô, trang 8).
Kỹ thuật mới tán sỏi túi mật qua da
Hơn 10 bệnh nhân được áp dụng kỹ thuật tán sỏi túi mật qua da bằng laser tại Bệnh viện Đại hoc Y Hà Nội. Với phương pháp này, bệnh nhân không cần gây mê, bảo tồn được túi mật, thời gian nằm viện chỉ khoảng 4-5 ngày. Nguyên nhân gây nên sỏi túi mật có liên quan nhiều đến rối loạn chuyển hóa mỡ khiến lượng cholesterol trong dịch mật tăng cao tạo thành sỏi hoặc do viêm nhiễm. "Có một điểm đáng chú ý là nếu như bệnh nhân sỏi túi mật ở đa số các nước là do béo phì (sỏi có màu vàng), thì tại Việt Nam bệnh nhân sỏi túi mật chủ yếu là do bị nhiễm khuẩn đường mật (sỏi có màu đen), gây nhiều triệu chứng khó chịu và có thể gây các biến chứng cho bệnh nhân"-ThS.BS Nguyễn Thái Bình - Khoa Chẩn đoán hình ảnh, Bệnh viện Đại học Y Hà Nội chỉ rõ.
Cũng theo BS. Bình, thông thường, với bệnh nhân mà chức năng co bóp túi mật còn khoảng 40% trở lên, túi mật khỏe mạnh, không bị viêm mạn, không xuất hiện các polyp, bị chia thành nhiều ngăn khác nhau... thì có thể áp dụng phương pháp bảo tồn túi mật tán sỏi túi mật qua da bằng laser. Đối với các trường hợp viêm túi mật cấp do sỏi nhưng tuổi cao, người có bệnh toàn thân nặng như hô hấp, tim mạch không mổ được thì đây cũng là biện pháp thay thế hữu hiệu. (Tiền phong, trang 6).
Hoại tử nặng vì hút mỡ bụng giảm béo
TS Nguyễn Huy Cảnh, Phó chủ nhiệm phụ trách khoa Y học thực nghiệm cho biết, bệnh nhân bị hoại tử sau khi thực hiện hút mỡ tạo hình thành bụng tại một thẩm mỹ viện.
Mới đây Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 tiếp nhận bệnh nhân N.T. H. (Hà Nội) trong tình trạng tổn thương da bụng sâu, phù nề cùng chằng chịt các vết khâu mổ (ảnh). TS Nguyễn Huy Cảnh, Phó chủ nhiệm phụ trách khoa Y học thực nghiệm cho biết, bệnh nhân bị hoại tử sau khi thực hiện hút mỡ tạo hình thành bụng tại một thẩm mỹ viện.
Bệnh nhân chia sẻ, do mặc cảm với bụng nhiều mỡ nên đã làm phẫu thuật tạo hình thành bụng và hút mỡ bụng ở một cơ sở y tế tư nhân nhưng bị hoại tử. Sau đó bác sĩ của cơ sở này đã mổ cắt lọc tổ chức hoại tử và khâu đóng vết thương tại chỗ nhưng vẫn để lại những vết khâu chằng chịt.
Bác sĩ Cảnh cho hay thường xuyên gặp các ca hoại tử do hút mỡ và tạo hình thành bụng. Hoại tử do hút mỡ và tạo hình thành bụng chủ yếu xuất phát từ việc làm sai kỹ thuật (hút mỡ sai vị trí, hút quá nông hoặc quá sâu) gây tổn thương đến các mạng mạch nuôi vùng da bụng. Hút mỡ không phải muốn hút bao nhiêu là được vì quá trình làm có thể gây tổn thương mạch máu, khi hút mỡ sẽ có lẫn máu. Hay bơm lượng dịch làm tan mỡ thì dịch của tế bào cũng sẽ vào đó và bị hút ra. Do đó hút nhiều mỡ đồng nghĩa với việc cơ thể sẽ mất nhiều dịch, thiếu máu, các chỉ số sinh hóa thay đổi, khối lượng tuần hoàn giảm… Tai biến do hút mỡ tạo hình thành bụng có thể gặp như hoại tử da, tắc mạch phổi, tai biến mạch máu não.
Bác sĩ Cảnh cho biết thêm, không nên hút mỡ quá 4-5% trọng lượng cơ thể. Mỡ là nơi dự trữ năng lượng, hút nhiều quá có thể gây ra rối loạn chuyển hoá của cơ thể. Nếu hút khoảng 1,5 lít trở xuống, các chỉ số sinh hóa không thay đổi. Hút trên 3 lít chắc chắn sẽ ảnh hưởng.
Nguy cơ đáng sợ nhất của hút mỡ là gây tắc mạch phổi. Vì vậy, một số phòng khám ở ngoài bệnh viện thỉnh thoảng có bệnh nhân tử vong là do yếu tố này. Theo các bác sĩ, tắc mạch phổi rất khó xử trí, có khoảng 0,5-1% số trường hợp có thể gây tắc mạch phổi, tỷ lệ tử vong cao. Ở một số nước dù tại bệnh viện, có hệ thống hồi sức cấp cứu tốt thì nguy cơ bệnh nhân bị tắc mạch phổi chết cũng chiếm khoảng 15-50%. TS Cảnh cảnh báo, hút mỡ ở phòng khám ngoài bệnh viện cơ hội cứu sống nếu bị tắc mạch phổi rất thấp. (Tiền phong, trang 6).
Nhiều đóng góp quan trọng trong điều trị ung thư vú
Trong bối cảnh tỷ lệ mắc ung thư vú gia tăng, người bệnh cũng ngày càng trẻ hóa, thì việc áp dụng các biện pháp mới trong chẩn đoán và điều trị giúp cho tỷ lệ chữa khỏi ung thư vú tại Việt Nam tương đương với các nước phát triển trong khu vực là một dấu ấn đáng tự hào của Việt Nam. Đặc biệt, tại Bệnh viện K, tỷ lệ chữa khỏi đạt trên 75%, ngang với Singapore.
Đây là một trong những kết quả của Cụm công trình khoa họcDịch tễ học, ứng dụng các tiến bộ mới trong chẩn đoán, điều trị và nâng cao chất lượng sống cho người bệnh ung thư vúvừa được nhận giải Nhất lĩnh vực Y dược Nhân tài Đất Việt 2018. Thành công này thuộc về nhóm tác giả: GS.TS Trần Văn Thuấn, GS.TS Nguyễn Bá Đức, PGS.TS Bùi Diệu, PGS.TS Tạ Văn Tờ và các cộng sự thực hiện, nhưng GS. Thuấn khẳng định đây là cụm công trình của tập thể nhiều thế hệ cán bộ y tế Bệnh viện K hơn 25 năm qua.
Công trình nghiên cứu trên cho thấy ung thư vú là bệnh ung thư phổ biến nhất ở phụ nữ Việt Nam và tăng qua các năm: Năm 2013 tỷ lệ mắc ung thư vú là khoảng 24.4/100.000 phụ nữ, đến năm 2018 tăng lên tới 26.4. Trung bình mỗi năm cả nước có hơn 15.000 chị em mắc ung thư vú, trên 6.000 trường hợp tử vong, thường xuyên có 42.000 chị em đang sống chung với bệnh này.
Điều đặc biệt, ung thư vú ở Việt Nam có xu hướng trẻ hơn các nước. Xu hướng mắc ung thư vú ở phụ nữ Việt Nam tăng từ độ tuổi 30-34 tuổi và tăng nhanh, đỉnh cao ở 55-59 tuổi với tỷ lệ là 135/100.000 dân. Đáng lưu ý là tỷ lệ người trẻ mắc ung thư vú cao hơn và khả năng chữa khỏi thấp hơn so với những người tuổi cao. Người trẻ mắc ung thư vú còn phải đối mặt với hàng loạt vấn đề tâm lý và xã hội trong và sau điều trị.
Nhưng những nghiên cứu của Bệnh viện K đã đưa ra được phương pháp kết hợp nhuần nhuyễn các các phác đồ kỹ thuật hiện đại của các nhóm chuyên gia khác nhau, giúp các bệnh nhân nữ không chỉ được chữa khỏi mà còn duy trì được hình thức thẩm mỹ của cơ thể, nâng cao chất lượng sống.
Không chỉ thế, các tác giả còn tìm giải pháp để nâng cao tỷ lệ chữa khỏi ung thư vú, đặc biệt là người trẻ và khẳng định: Quan trọng nhất vẫn là đi khám, phát hiện sớm bệnh. “Chúng tôi đưa ra khuyến cáo mới, thay vì sàng lọc, tầm soát từ 45 tuổi thì phụ nữ Việt Nam nên bắt đầu sàng lọc sớm hơn, từ 40 tuổi trở đi. Thực tế, khi sàng lọc phát hiện sớm với mẫu trên 100.000 phụ nữ, tỷ lệ phát hiện là 59,2 trên 100.000 dân gấp đôi so với tỷ lệ thông thường. Dù là bệnh phổ biến, ở giới đặc thù là chị em song tỷ lệ đến khám, chẩn đoán ung thư vú muộn khá cao trên 50%, ở các giai đoạn 3, 4. Khi đó khả năng chữa khỏi không còn cao như giai đoạn sớm. Chị em cũng cần có thói quen tự khám vú” -GS Thuấn cho biết.
Việc công trình áp dụng thành công hàng loạt các kỹ thuật chẩn đoán hiện đại, đi sâu vào mức độ phân tử như hóa mô miễn dịch, FISH…đã giúp các bác sỹ có cái nhìn sâu hơn về bệnh, để đưa ra phác đồ điều trị nhanh chóng, chính xác và hiệu quả, giải thích tại sao một số người bệnh có đặc điểm tương đồng về tuổi và giai đoạn lại có kết quả điều trị khác nhau xa.
Trước đây, khi mắc ung thư vú thì tiên lượng bệnh rất xấu vì dễ di căn, nguy cơ tử vong cao. Song nhờ áp dụng kỹ thuật mới trong chẩn đoán, điều trị, tỷ lệ sống sau 5 năm đã đảo chiều ngoạn mục. Tỷ lệ sống thêm sau 1-3 năm là 87-98%, kể cả ở các nhóm có di căn hạch tỷ lệ sống không bệnh sau 5 năm là trên 75%. Bệnh viện K là nơi đầu tiên áp dụng phương pháp FISH, để nâng cao tỉ lệ sống cho bệnh nhân.
Bệnh viện còn áp dụng hàng loạt kỹ thuật hiện đại giúp bảo tồn, tái tạo tuyến vú: Các kỹ thuật mổ xẻ hiện đại như oncoplasty gặp nhiều khó khăn do kích thước tuyến vú ở phụ nữ Việt Nam tương đối nhỏ, song Cụm công trình cũng đã giải quyết thành công vấn đề này, đem lại niềm tin cho người bệnh, được các đồng nghiệp trong nước và quốc tế đánh giá cao.
Bên cạnh đó xạ trị kỹ thuật cao như xạ trị điều biến liều IMRT cũng lần đầu được ứng dụng đã giúp tăng tính chính xác và giảm tác dụng phụ đối với các mô lành xung quanh tổ chức u, tăng hiệu quả điều trị ung thư vú, tác dụng phụ hạn chế, cho phép nâng cao liều xạ trị.
Đặc biệt, kết quảnghiên cứu ung thư vú, khảo sát đánh giá các loại ung thư của nhóm nghiên cứu cũng chỉ ra một v rất quan trọng: Ung thư không đáng sợ như suy nghĩ của người nhiều người và nếu được phát hiện sớm khả năng điều trị khỏi càng cao.
“Ở các nước phát triển họ quan niệm bệnh ung thư chỉ là bệnh mãn tính, viêm nhiễm như bệnh tiểu đường, không phải là bản án tử hình. Một số người nổi tiếng như Lance Armstrong bị ung thư tinh hoàn vẫn vô địch giải đua xe đạp Tour de France. Ở Việt Nam cũng nhiều tấm gương người bệnh chiến thắng bệnh tật. Bằng chứng là các y bác sĩ, những người thầy của tôi vẫn nhận được bó hoa chúc mừng của bệnh nhân sau 40-45 năm tặng. Điều đó cho thấy, ung thư hoàn toàn có thể chữa khỏi nếu quan tâm, đặc biệt là sàng lọc phát hiện sớm” -GS Thuấn nhấn mạnh.
Cũng theo GS. Thuấn, trên 95% người mắc ung thư vú được phát hiện sớm để điều trị sẽ khỏi bệnh. Tỷ lệ chữa khỏi ung thư vú của Bệnh viện K là trên 70% nhưng nhóm nghiên cứu vẫn kỳ vọng sẽ tăng tỉ lệ chữa khỏi lên nữa nếu nhiều trường hợp được phát hiện sớm hơn. Cơ sở cho mong muốn này chính là trình độ tay nghề phẫu thuật, kinh nghiệm của bác sĩ cũng như máy móc, trang thiết bị đã ngang tầm các nước phát triển.
GS. Thuấn mong muốn Bảo hiểm Xã hội Việt Nam sẽ chi trả cho chi phí sàng lọc phát hiện sớm bệnh, để tăng tỷ lệ chữa khỏi ung thư vú, giảm chi phí. Nếu phát hiện muộn việc điều trị tốn kém, lâu dài, hiệu quả không cao. (Công an nhân dân, trang 7).
Fanpage
Youtube


















