Điểm báo từ ngày 3 đến ngày 9 tháng 11 năm 2020
09/11/2020
0
Điểm báo từ ngày 3 đến ngày 9 tháng 11 năm 2020
Tỷ lệ điều trị khỏi COVID-19 ở nước ta trên 96%
Theo Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Trường Sơn: Sự tham gia tích cực và chủ động của Tiểu ban điều trị, sự nỗ lực không ngừng nghỉ của các y bác sĩ trong thời gian qua đã giúp tạo nên thành công trong điều trị ca bệnh COVID-19 tại các cơ sở khám chữa bệnh, thể hiện bằng tỷ lệ điều trị khỏi cao - tới 96,4%
Ngày 6/11 tại Thanh Hóa, Bộ Y tế tổ chức Hội nghị sơ kết và triển khai thực hiện công tác điều trị COVID-19 trong giai đoạn mới
Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Trường Sơn- Phó trưởng Ban Chỉ đạo Quốc gia phòng chống dịch COVID-19, Trưởng Tiểu ban Điều trị; Thứ trưởng Bộ Y tế Đỗ Xuân Tuyên- Phó trưởng Ban Chỉ đạo Quốc gia phòng chống dịch dự hội nghị.
Dự Hội nghị còn có đại diện lãnh đạo tỉnh Thanh Hóa, các Vụ, Cục của Bộ Y tế, các thành viên Tiểu ban Điều trị, Hội đồng chuyên môn các bệnh truyền nhiễm; Hội đồng xây dựng tài liệu kiểm soát nhiễm khuẩn; đại diện các tổ chức quốc tế tại Việt Nam, các nhà quản lý, các cán bộ y tế trực tiếp chăm sóc và điều trị bệnh nhân COVID-19 tại hơn 30 cơ sở điều trị bệnh nhân COVID-19 và các bệnh viện trên cả nước.
Nhiều sáng kiến, giải pháp hay, tiếp cận kinh nghiệm tiên tiến trên thế giới
Phát biểu tại Hội nghị, PGS.TS Nguyễn Trường Sơn cho biết, đến thời điểm này, Việt Nam đã bước sang ngày thứ 65 không phát hiện ca bệnh COVID-19 tại cộng đồng...
“Đây là một điều rất hạnh phúc trong bối cảnh thế giới dịch COVID-19 đang rất căng thẳng với trên 47 triệu người mắc và trên 1,2 triệu người tử vong. Trong những ngày này, một số nước tiên tiến hàng đầu thế giới đã phải tái áp dụng biện pháp phong tỏa (lock down), biện pháp cuối cùng không ai mong muốn. Hiện Việt Nam đã ghi nhận 1.210 ca bệnh, 1.069 ca được chữa khỏi ra viện, 35 ca tử vong vì COVID-19 và không có ca bệnh COVID -19 nặng”- Thứ trưởng Nguyễn Trường Sơn nhấn mạnh
Theo Thứ trưởng Bộ Y tế, để đạt được những kết quả đáng ghi nhận trong công tác điều trị cho người bệnh như vậy, điều quan trọng đầu tiên đó là sự chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ, luôn quán triệt tinh thần "chống dịch như chống giặc," “không được chủ quan, không để dịch lây lan” và “chấp nhận một số thiệt hại về kinh tế để bảo vệ tính mạng, sức khỏe người dân"; sự vào cuộc của các bộ, ngành và nỗ lực của các thầy thuốc, sự hợp tác của người bệnh, đồng lòng của người dân từ việc cách ly điều trị ban đầu cho đến triển khai đồng bộ các giải pháp.
“Ngày hôm nay, chúng ta có thể thoải mái đi lại giữa các tỉnh nội địa, các hội nghị được tổ chức, học sinh được đến trường…, cả nước nói chung và ngành y tế nói riêng đã nỗ lực không ngừng, áp dụng, triển khai nhiều giải pháp tích cực phòng, chống dịch”.- Thứ trưởng Nguyễn Trường Sơn chia sẻ.
Đó là Tiểu ban Điều trị đã có nhiều sáng kiến, giải pháp hay, khoa học, hiện đại, tiếp cận với các kinh nghiệm tiên tiến trên thế giới với những nỗ lực cao nhất để cứu chữa người bệnh. Rất nhiều sáng kiến đã được áp dụng, tiêu biểu như thành lập Trung tâm hỗ trợ chẩn đoán chuyên môn điều trị COVID-19, thành lập các đội cơ động phản ứng nhanh, phân tuyến điều trị ca bệnh dương tính, xây dựng và ban hành Bộ tiêu chí bệnh viện an toàn phòng chống dịch bệnh COVID-19 và bệnh viêm đường hô hấp cấp...
“Sự tham gia tích cực và chủ động của Tiểu ban điều trị trong thời gian qua, sự nỗ lực không ngừng của các y bác sĩ đã giúp tạo nên thành công của công tác điều trị ca bệnh COVID-19 tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thể hiện bằng tỷ lệ điều trị khỏi cao (tới 96,4%), tỷ lệ các ca bệnh nặng, bệnh nền được chữa khỏi cao; khống chế tối đa tỷ lệ tử vong và hạn chế được tỷ lệ lây nhiễm chéo trong cơ sở khám bệnh, chữa bệnh”, Thứ trưởng Nguyễn Trường Sơn cho biết.
Các yếu tố đặc biệt quan trọng làm nên thành công trong điều trị
Tại Hội nghị, PGS.TS Lương Ngọc Khuê, Cục trưởng Cục quản lý Khám, chữa bệnh, Phó trưởng Tiểu Ban Điều trị, Giám đốc Trung tâm hỗ trợ chẩn đoán chuyên môn điều trị COVID-19 cho biết, với tinh thần “chống dịch như chống giặc”, toàn ngành Y tế đã chủ động, cảnh giác cao độ để thực hiện phòng, chống dịch bệnh lây nhiễm trên diện rộng và điều trị cho bệnh nhân COVID-19.
Theo Cục trưởng Lương Ngọc Khuê, những yếu tố quan trọng, góp phần dẫn đến thành công trong điều trị COVID-19, đó là phân tuyến điều trị hợp lý với 4 tuyến điều trị theo mức độ diễn biến của người bệnh gồm tuyến xã, huyện, tỉnh và tuyến Trung ương.
Bên cạnh đó cập nhật thường xuyên hướng dẫn chẩn đoán và điều trị theo khuyến cáo của Tổ chức Tế thế giới và kinh nghiệm điều trị của các nước trên thế giới; cập nhật Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị 4 lần; xem xét các phương pháp điều trị như sử dụng thuốc kháng virus, thuốc chống sốt rét; sử dụng huyết tương thay thế;
Xây dựng các tài liệu hướng dẫn chăm sóc sức khỏe cho các đối tượng khác nhau từ người mắc các bệnh mãn tính, đến hướng dẫn chăm sóc sức khỏe cho người khuyết tật và xây dựng 37 tiêu chí bệnh viện an toàn trong phòng chống COVID-19.
Cùng với đó là thành lập Trung tâm hỗ trợ chẩn đoán chuyên môn điều trị COVID-19 tập hợp và thống nhất đội ngũ chuyên gia giỏi trong hội chẩn bệnh nhân COVID-19 nặng và điều hành khi các bệnh viện bị đóng cửa; thành lập các đội cơ động phản ứng nhanh xuống hỗ trợ trực tiếp cho các bệnh viện điều trị bệnh nhân COVID-19.
Đến nay cả nước có hàng trăm đội cơ động phản ứng nhanh, tinh nhuệ, giỏi về chuyên môn sẵn sàng hỗ trợ cho các bện viện.
Yếu tố tiếp theo được PGS.TS Lương Ngọc Khuê nhắc đến là ngành Y tế đã chú trong mở rộng công tác xét nghiệm, từ chỗ chỉ có 3 đơn vị được xét nghiệm SARS-CoV-2, Tiểu ban Điều trị đã tham mưu mở rộng công tác xét nghiệm tại các cơ sở khám, chữa bệnh.
Hiện đã có trên 50 bệnh viện đủ năng lực xét nghiệm SARS-CoV-2, góp phần giúp các bệnh viện chủ động trong công tác xét nghiệm, giảm thời gian chờ đợi của người bệnh, giảm quá tải cho hệ thống y tế dự phòng trong xét nghiệm các đối tượng nguy cơ...
Ngoài các yếu tố trên, theo Cục trưởng Lương Ngọc Khuê, công tác khám chữa bệnh đã thực hiện tốt và phối hợp với toàn hệ thống cơ sở y tế trên cả nước để thực hiện đồng bộ các nhóm giải pháp phòng chống dịch.
“Đặc biệt phải kể tới là sự chủ động tích cực và sẵn sàng lao vào tâm dịch để hỗ trợ, chăm sóc, điều trị ca bệnh COVID-19 của các cán bộ y tế, sự hỗ trợ của đội ngũ chuyên gia hồi sức cấp cứu, truyền nhiễm, xét nghiệm… tại các bệnh viện tuyến trên đã thường xuyên liên tục theo dõi sát sao từng ca bệnh tại tất cả các cơ sở khám chữa bệnh trên cả nước để cùng hội chẩn và đưa ra hướng điều trị tối ưu cho người bệnh, thông qua hình thức giao ban trực tuyến với các cơ sở có điều trị”- PGS.TS Lương Ngọc Khuê nhấn mạnh.
Toàn hệ thông khám chữa bệnh không được chủ quan, xem nhẹ phòng chống dịch
Cũng theo Thứ trưởng Nguyễn Trường Sơn, có thể nói rằng, chúng ta đã đạt những thành công rất quan trọng trong phòng chống và điều trị COVID-19. Tuy nhiên hiện nay trên thế giới, dịch bệnh đang diễn biến vô cùng phức tạp. Các chuyến bay thương mại đã được mở lại. Nguy cơ dịch bệnh tại Việt Nam rất cao.
Sau 65 ngày không phát hiện dịch trong cộng đồng, chúng ta đang bước vào trạng thái bình thường mới. Hiện nay các bệnh viện đang triển khai Bộ tiêu chí Bệnh viện an toàn phòng chống dịch COVID-19 và các dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp theo Quyết định 3088/QĐ-BYT ngày 16/7/2020 của Bộ trưởng Bộ Y tế. Bộ tiêu chí đã được các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nghiêm túc thực hiện.
"Để tiếp tục duy trì những thành công trong công tác phòng, chống dịch COVID-19, trong thời gian tới các Sở Y tế và bệnh viện cần tiếp tục quán triệt sâu sắc để áp dụng và cải tiến các hoạt động phòng, chống dịch, rà soát các nguy cơ để sớm khắc phục ngay. Đồng thời cần xác định rõ các nguy cơ, tuyệt đối không được chủ quan, lơ là, xem nhẹ dịch bệnh"- Thứ trưởng Nguyễn Trường Sơn yêu cầu./.
https://moh.gov.vn/tin-noi-bat/-/asset_publisher/3Yst7YhbkA5j/content/ty-le-ieu-tri-khoi-covid-19-o-nuoc-ta-tren-96-
Rà soát tất cả các kịch bản, chuẩn bị ứng phó với tình huống dịch COVID-19 trong mùa đông
Thời gian qua ngành y tế đã chủ trì, phối hợp với các bộ ngành rà soát lại toàn bộ các hướng dẫn chuyên môn kỹ thuật trong công tác phòng chống dịch; rà soát tất cả các kịch bản, chuẩn bị ứng phó với các tình huống dịch trong mùa đông… Điều này được đưa ra tại cuộc họp Ban Chỉ đạo quốc gia phòng chống COVID-19, chiều 2/11. Phó Thủ tướng Chính phủ Vũ Đức Đam- Trưởng Ban Chỉ đạo chủ trì cuộc họp.
Bộ Y tế thành lập 6 đoàn kiểm tra, giám sát công tác xét nghiệm SARS-CoV-2
Báo cáo của Bộ Y tế cho biết, số ca nhiễm COVID-19 được ghi nhận trên thế giới sắp đạt mốc 47 triệu người, trong đó có 1,2 triệu người tử vong. Mỹ là quốc gia có số người mắc COVID-19 cao nhất với 9,4 triệu người, hơn 236 ca tử vong. Số lượng người mắc vẫn tiếp tục gia tăng nhanh, chỉ trong 2 tuần qua đã tăng 10% số ca mắc.
Châu Âu hiện đang là tâm dịch của COVID-19 với tốc độ lây lan nhanh khó kiểm soát, đặc biệt khi khu vực này bước vào mùa đông. Nhiều nước châu Âu tái phong tỏa toàn quốc bao gồm lệnh giới nghiêm vào ban đêm và yêu cầu đóng cửa toàn bộ các quán cà phê, nhà hàng, quán bar.
Tại Việt Nam, chúng ta đã trải qua 60 ngày không ghi nhận ca lây nhiễm trong cộng đồng. Cơ bản các ổ dịch đã được kiểm soát, tuy nhiên, nguy cơ dịch COVID-19 xâm nhập luôn thường trực, đặc biệt khi tăng số lượng các chuyến bay đưa công dân Việt Nam, chuyên gia về nước (trong đó có các chuyến bay thương mại, quốc tế) và số lượng ca mắc trên thế giới liên tục gia tăng. Ngoài ra, thời gian tới là mùa đông, xuân, điều kiện thời tiết thuận lợi cho một số các bệnh truyền nhiễm phát triển, lây lan.
Thời gian qua, cùng với các hoạt động chuyên môn, Bộ Y tế triển khai “Bản đồ chung sống an toàn với dịch COVID-19” (www.antoancovid.vn) nhằm kiểm soát dịch bệnh trên quy mô toàn quốc. Trước mắt, bản đồ được triển khai trong hệ thống các cơ sở y tế và giáo dục sử dụng ứng dụng, cập nhập các công việc đảm bảo môi trường an toàn phòng, chống COVID-19.
Hiện tại danh sách 1.530 bệnh viện toàn quốc,145 trung tâm cách ly, 6.539 khách sạn từ 3 sao trở lên, 53.839 trường học đã được cập nhật lên bản đồ. Bộ Y tế tiếp tục thúc đẩy hoạt động hợp tác, nghiên cứu sản xuất vaccine, ứng dụng khoa học - công nghệ trong phòng, chống dịch. Bộ Y tế đã có tờ trình báo cáo Thủ tướng Chính phủ về tiếp cận vaccine phòng COVID-19.
Đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát các địa phương trong công tác chuẩn bị, đáp ứng với dịch COVID-19, Bộ Y tế đã thành lập 6 đoàn đi kiểm tra, giám sát công tác xét nghiệm SARS-CoV-2 và đã thực hiện giám sát tại Hà Nội (ngày 30/10). Dự kiến, bộ sẽ tiếp tục thực hiện giám sát tại Nha Trang (3/11) và Thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 6/11.
Ngành y tế đã chủ trì, phối hợp với các bộ ngành rà soát lại toàn bộ các hướng dẫn chuyên môn kỹ thuật trong công tác phòng chống dịch để cập nhật bổ sung; tập huấn, kiểm tra, giám sát việc thực hiện phòng, chống dịch tại các bộ ngành, địa phương; tăng cường công tác truyền thông; rà soát tất cả các kịch bản phòng chống dịch, chuẩn bị ứng phó với các tình huống dịch trong mùa đông…
Phải thực hiện nghiêm các quy định về đeo khẩu trang
Tại cuộc họp, Ban Chỉ đạo đã thảo luận kỹ và thống nhất một số giải pháp phòng, chống dịch cần phải thực hiện nghiêm trong thời gian tới.
Các thành viên Ban Chỉ đạo, chuyên gia một lần nữa nhấn mạnh yêu cầu phải thực hiện nghiêm các quy định về đeo khẩu trang theo đúng chỉ thị của Thủ tướng, đây là biện pháp quan trọng hàng đầu phòng, chống COVID-19. Hiện nay, TP Hồ Chí Minh, TP. Hà Nội đã yêu cầu người dân bắt buộc đeo khẩu trang ở nơi công cộng, có biện pháp xử phạt các trường hợp vi phạm.
Thời gian tới, các tỉnh, thành phố cũng phải tăng cường kiểm tra, xử lý trường hợp vi phạm quy định đeo khẩu trang, đặc biệt tại cơ sở y tế; chợ, siêu thị, trung tâm thương mại; phương tiện giao thông công cộng; cơ sở lưu trú, khách sạn; các cơ sở thực hiện cách ly; bến xe, cảng hàng không, ga tàu; nhà máy, xí nghiệp; các sự kiện văn hóa, thể thao tập trung đông người… Thực hiện quy định bắt buộc đeo khẩu trang không chỉ ở những đô thị lớn, mật độ dân cư đông, người qua lại mà cả các những thị trấn, thị tứ..
Trên tinh thần “làm từng bước, chắc chắn, đảm bảo an toàn”, các chuyên gia cho ý kiến về việc giao cho các hãng hàng không Việt Nam có phương án cụ thể nhằm tổ chức các chuyến bay an toàn, dưới sự hướng dẫn, giám sát chặt chẽ của cơ quan y tế, các ngành chức năng.
Các thành viên Ban Chỉ đạo bàn rất kỹ phương án, giải pháp nhằm thực hiện hiệu quả chủ trương của Chính phủ về mở chuyến bay thương mại với một số nước để đón nhà đầu tư, chuyên gia nước ngoài vào Việt Nam, phục vụ mục tiêu kép, vừa chống dịch, vừa phát triển kinh tế. Tinh thần là làm từng bước, chọn nơi an toàn, thận trọng, chắc chắn.
Tại cuộc họp, các thành viên Ban Chỉ đạo khẳng định quyết tâm phải giữ an toàn khi mùa đông đến. (Sức khỏe & Đời sống, trang 3; Hà Nội mới, trang 1).
http://t5g.org.vn/diem-bao-ngay-3112020
Làm chủ công nghệ giúp Việt Nam kiểm soát thành công Covid-19
Ngày 5-11, tại Hà Nội, Bộ TT-TT phối hợp với Bộ Y tế, Bộ Ngoại giao tổ chức hội thảo “Chia sẻ ứng dụng khoa học công nghệ trong việc phòng chống và điều trị Covid-19” với sự tham gia của đại diện sứ quán nhiều nước và các tổ chức quốc tế, một số bộ ngành liên quan. Tại hội thảo, Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế Bộ TT-TT Triệu Minh Long cho biết, thời gian qua, Việt Nam được đánh giá là quốc gia chống dịch tốt, duy trì được cuộc sống sinh hoạt bình thường. Một trong những yếu tố giúp Việt Nam thành công nằm ở việc phát triển và ứng dụng các công nghệ mới vào công tác phòng chống và điều trị Covid-19.
Tại Việt Nam, bên cạnh các biện pháp chuyên môn của ngành y tế thì chiến lược ứng dụng công nghệ vào việc kiểm soát, phòng chống và điều trị Covid-19 đã được đẩy mạnh. Trong đó phải kể đến: Bluezone, ứng dụng cảnh báo và truy vết khi có tiếp xúc gần với người mắc Covid-19; ứng dụng thiết bị thở Oxy lưu lượng cao HFNC trong điều trị Covid-19; phát triển thành công bộ Kit xét nghiệm tìm người mắc Covid-19; phần mềm khai báo y tế NCOVI… Tối 5-11, Ban Chỉ đạo quốc gia phòng chống dịch Covid-19 cho biết, trong ngày cả nước ghi nhận thêm 1 ca mắc mới Covid-19 (thứ 1.207) là một phụ nữ Việt Nam từ Oman nhập cảnh về sân bay Nội Bài nên được cách ly ngay. Đến nay, cả nước tiếp tục trải qua 64 ngày không ghi nhận lây nhiễm Covid-19 trong cộng đồng. Cả nước đã có 1.069 bệnh nhân xuất viện (Sài Gòn giải phóng, trang 7).
http://t5g.org.vn/diem-bao-ngay-6112020
Việt Nam sắp thử nghiệm vaccine COVID-19 trên người: Hoàn tất thử nghiệm vào quý IV/2021, chuẩn bị đưa ra thị trường
Sau nhiều tháng huy động các nhà khoa học, sản xuất và nghiên cứu, tiến trình cho ra đời vaccine COVID-19 ở Việt Nam đã có những tín hiệu tích cực, khi quá trình thử nghiệm lâm sàng (thử nghiệm trên người) có thể sẽ được diễn ra ngay trong tháng 11.2020. Theo ông Nguyễn Ngô Quang - Phó Cục trưởng Cục Khoa học, công nghệ và Đào tạo (Bộ Y tế), sau khâu thẩm định hồ sơ chuẩn bị hoàn tất, ngay trong tháng 11 và chậm nhất là đầu tháng 12.2020 sẽ tiến hành tiêm thử nghiệm vaccine COVID-19 trên người.
Sẽ tiêm thử nghiệm những mũi đầu tiên
Vaccine của đơn vị đầu tiên đang được Bộ Y tế xem xét phê duyệt hồ sơ thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 1 (thử nghiệm trên người) là vaccine COVID-19 do Công ty Cổ phần Công nghệ sinh học Dược Nanogen (Khu công nghệ cao, quận 9, TPHCM) nghiên cứu phát triển.Theo dự định, Học viện Quân y sẽ là nơi triển khai thử nghiệm tiêm vaccine ngừa COVID-19 trên người tình nguyện đầu tiên tại Việt Nam.
Ông Nguyễn Ngô Quang - Phó cục trưởng Cục Khoa học, Công nghệ và Đào tạo, Bộ Y tế cho biết Bộ Y tế đang xem xét hồ sơ, sau khi thẩm định cho thấy hồ sơ đủ yêu cầu sẽ phê chuẩn cho thử nghiệm trên người, khi đó sẽ chính thức thông báo tuyển chọn người tình nguyện tiêm ngừa. "Hiện khâu thẩm định hồ sơ chuẩn bị hoàn tất, trong tháng 11 và chậm nhất là đầu tháng 12 tới sẽ tiến hành tiêm trên người. Chúng tôi sẽ hỗ trợ tối đa, thuận lợi nhất về thẩm định, phê duyệt để việc thử nghiệm vaccine COVID-19 được triển khai sớm nhất" - ông Quang nói.
Mặc dù, cả Việt Nam đang chờ đợi vào sự ra đời của vaccine COVID-19 "made in Việt Nam", nhưng đại diện Cục Khoa học, Công nghệ và Đào tạo cũng nhấn mạnh rằng Bộ Y tế cũng yêu cầu nghiên cứu này phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định đảm bảo an toàn cho người tình nguyện tham gia nghiệm vaccine COVID-19. Đơn vị thực hiện nghiên cứu lâm sàng trong suốt thời gian triển khai, phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của Bộ Y tế về các yếu tố kỹ thuật cũng như đạo đức trong nghiên cứu.
Kế hoạch của nhà sản xuất là tiêm thử nghiệm trên 60 tình nguyện viên, nhưng Bộ Y tế cho biết sẽ không cùng lúc tiêm thử nghiệm trên 60 người mà chia nhỏ làm các giai đoạn khác nhau. Giai đoạn 1 dự kiến sẽ tiêm cho 20 người, sau đó đến giai đoạn 2 sẽ dự kiến tiêm cho 400 người. Thời gian bắt đầu giai đoạn 2 là 2- 3 tháng kể từ khi người tình nguyện đầu tiên được tiêm mũi vaccine ngừa COVID-19 đầu tiên, cụ thể là đầu tháng 3. 2021.
"Chúng tôi sẽ cho tiêm thử nghiệm trên 1-2 người đầu tiên trong nhóm tình nguyện, chờ phản ứng và xác định tính an toàn trong 72 giờ đầu, sau đó mới tiêm tiếp cho 18-19 người của giai đoạn 1" - ông Quang nói.
Dồn tổng lực để sớm có vaccine COVID-19
Việt Nam vẫn đang dồn tổng lực nghiên cứu vaccine COVID-19, với sự chung tay của nhiều nhà khoa học, nhiều nhà sản xuất vaccine, đi từ nhiều hướng, để có thể “chạy đua” cùng thế giới trong việc sản xuất vaccine. Trong số này, nổi bật có 4 nhà sản xuất vaccine đang có nhiều tiến triển. Họ cũng tạo ra một cuộc đua mang tính chất nội bộ ở lĩnh vực này.
Bốn nhà sản xuất tham gia vào cuộc đua nghiên cứu vaccine COVID-19, đó là Viện Vaccine và Sinh phẩm Y tế (IVAC), Công ty TNHH một thành viên Vaccine và Sinh phẩm số 1 (VABIOTECH), Trung tâm Nghiên cứu sản xuất Vaccine và Sinh phẩm y tế (POLYVAC), Công ty TNHH Công nghệ sinh học Dược Nanogen. Trong số này, có vẻ Nanogen- một đơn vị tư nhân đang vượt lên với những thông tin về cuộc thử nghiệm lâm sàng sớm nhất. Trong khi đó Viện Vắc-xin và Sinh phẩm y tế (IVAC) dự kiến có lô thử nghiệm lâm sàng vào cuối năm nay.
Cùng đó, Công ty TNHH MTV Vắc-xin và Sinh phẩm số 1 (VABIOTECH) bắt đầu thử nghiệm tiền lâm sàng vaccine COVID-19 trên khỉ. Đơn vị này thử nghiệm đồng thời trên khỉ và chuột. Dự kiến, sau khi tiêm xong, khỉ sẽ được theo dõi khoảng 3 tháng, sau đó tiếp tục lấy mẫu máu gửi về Hà Nội để làm các xét nghiệm. Nếu Công ty VABIOTECH thúc đẩy tiến độ nhanh nhất thì cũng phải đầu năm 2021 mới có lô vaccine để thử nghiệm lâm sàng. Trong khi đó, có một đơn vị vẫn đang "im hơi lặng tiếng", đó là POLYVAC.
Phó Cục trưởng Cục Khoa học - Công nghệ và Đào tạo, Bộ Y tế cho biết mục tiêu là quý IV/2021 sẽ có vaccine Việt Nam đã hoàn thành tất cả các khâu thử nghiệm, chuẩn bị cho khâu xuất hiện chính thức phục vụ nhu cầu tiêm chủng.
Trong cuộc chiến với COVID-19, ngay từ đầu, Bộ Y tế đã khẳng định không có "vùng cấm" nào trong khoa học, các đơn vị nhà nước và các doanh nghiệp tư nhân đều được tạo điều kiện như nhau, trong quá trình nghiên cứu và phát triển một loại vaccine đại dịch, cùng hướng đến mục tiêu lớn là an toàn cho Việt Nam.
Chúng ta hoàn toàn có thể kỳ vọng vào một đơn vị tư nhân khi họ là nhà nghiên cứu, phát triển và ứng dụng thành công các tiến bộ của ngành công nghệ sinh học đầu tiên và duy nhất tại Việt Nam trong việc sản xuất nguyên liệu Dược và thành phẩm thuốc tiêm đặc trị từ công nghệ DNA/ protein tái tổ hợp hàng đầu trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương.
Nếu không chủ động vaccine, sẽ hết sức tốn kém
Theo thông tin từ Bộ Y tế, Việt Nam đã tham gia liên minh được quyền ưu tiên tiếp cận vaccine ngừa COVID-19, ngay sau khi vaccine của các nhà sản xuất cán đích đầu tiên xuất hiện trên thị trường. Khi tham gia Liên minh này, Việt Nam có thể mua được vaccine với giá ưu đãi - khoảng 5 USD/mũi tiêm. Giả sử nếu tiêm 2 mũi, mỗi người tiêm cần 10 USD. Như vậy, nếu như không chủ động được vaccine, với dân số như Việt Nam, chi phí tiêm ngừa vaccine cho toàn dân sẽ là 1 tỉ USD/năm - một con số quá lớn và khó khả thi để có thể đáp ứng. (Lao động, trang 7).
http://t5g.org.vn/diem-bao-ngay-5112020
Giảm gánh nặng của bệnh ung thư
Nhìn tổng quan trên bản đồ ung thư thế giới, tỷ lệ người mắc bệnh của nước ta không cao, nhưng tỷ lệ tử vong tương đối lớn, do phần lớn người bệnh đến khám ở giai đoạn cuối nên rất khó điều trị. Trong khi đó, ung thư không phải án tử cũng không phải là dấu chấm hết, nếu được phát hiện sớm. Do vậy, để giảm gánh nặng của bệnh ung thư, cần nâng cao nhận thức về dự phòng, phát hiện sớm, tăng cường khám sàng lọc. Tỷ lệ mắc không cao, nhưng tỷ lệ tử vong tương đối lớn
Đầu năm 2019, khi kiểm tra sức khỏe để đi làm việc ở nước ngoài, chị N.H.L. (22 tuổi, ở huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình) phát hiện có khối u vùng trung thất. Sau đó, bệnh nhân đến khám chuyên khoa tại Bệnh viện Ung bướu Hà Nội và được chẩn đoán, mắc u lympho ác tính. Đây là bệnh đứng thứ 11 về tỷ lệ mắc và đứng thứ 11 về tỷ lệ tử vong trong số các loại bệnh ung thư. Sau 6 chu kỳ truyền hóa chất và thuốc điều trị đích, sức khỏe của chị L. tiến triển, khối u giảm kích thước rõ rệt, không còn tính chất ác tính. Từ tháng 10-2019, bệnh nhân dừng điều trị hóa chất, rồi 3 tháng sau mang thai con đầu lòng và mới đây đã sinh một bé trai khỏe mạnh nặng 3,5kg.
Tiến sĩ, bác sĩ Bùi Vinh Quang, Giám đốc Bệnh viện Ung bướu Hà Nội cho biết, mỗi năm, bệnh viện thực hiện khoảng 8.000 ca phẫu thuật, điều trị nội trú cho hơn 55.000 lượt bệnh nhân. Với các phương pháp điều trị tiên tiến hiện nay, ung thư không phải là án tử, không phải là dấu chấm hết. Chỉ cần người bệnh có niềm tin, tuân thủ phác đồ điều trị và kiên cường chiến đấu với bệnh tật, thì hạnh phúc vẫn sẽ luôn mỉm cười.
Đề cập đến vấn đề này, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Lê Văn Quảng, Giám đốc Bệnh viện K cho rằng, tỷ lệ chữa khỏi ung thư cao hay thấp tùy thuộc vào việc bệnh được phát hiện ở giai đoạn sớm hay muộn. Ở Việt Nam có ba loại ung thư thường gặp là phổi, gan, dạ dày. Những bệnh lý này thường tiên lượng rất xấu, tỷ lệ tử vong cao. Đặc biệt, người bệnh đến khám ở giai đoạn muộn, các bác sĩ không thể can thiệp, chỉ có thể điều trị giảm nhẹ. Đây chính là lý do khiến tỷ lệ tử vong do ung thư ở Việt Nam cao.
Theo Bộ Y tế, ở Việt Nam, mỗi năm ghi nhận khoảng 165.000 ca mắc mới và có 300.000 bệnh nhân đang sống chung với ung thư. Nhìn tổng quan trên bản đồ ung thư thế giới, tỷ lệ mắc ung thư của Việt Nam không cao, nhưng tỷ lệ tử vong tương đối lớn, xếp vị trí 56/185 quốc gia và vùng lãnh thổ với tỷ lệ 104,4/100.000 dân. Theo Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Chấn Hùng, Chủ tịch Hội Ung thư Việt Nam, nguyên nhân phần lớn là từ những nhận thức không đúng, thậm chí sai lầm của người dân Việt Nam về loại bệnh này. Đó là, suy nghĩ mắc ung thư là do số phận, có tâm lý buông xuôi, không thể chịu đựng mới tìm đến bệnh viện.
Cần thực hiện đồng bộ 4 nội dung cơ bản
Các phương tiện chẩn đoán, trang thiết bị, thuốc điều trị ung thư ở nước ta đã ngang bằng với nhiều nước trên thế giới. Để giám gánh nặng của bệnh ung thư, theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Lê Văn Quảng, cần thực hiện đồng bộ, toàn diện và hiệu quả 4 nội dung cơ bản của chiến lược phòng, chống ung thư, gồm: Phòng bệnh, sàng lọc chẩn đoán sớm, điều trị và chăm sóc giảm nhẹ. Tuy nhiên, có một bất cập là bảo hiểm y tế vẫn chưa chi trả cho hoạt động sàng lọc, phát hiện sớm ung thư. “Về lâu dài, nếu Quỹ Bảo hiểm y tế chi trả được một phần cho hoạt động sàng lọc ung thư, nhất là với nhóm đối tượng có nguy cơ cao sẽ giúp người dân được phát hiện sớm, điều trị hiệu quả”, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Lê Văn Quảng nói.
Còn theo Thứ trưởng Bộ Y tế Trần Văn Thuấn, lợi ích của việc tầm soát ung thư sớm là rất rõ ràng. Thời gian qua, ngành Ung bướu cũng có nhiều nỗ lực giảm nhẹ gánh nặng trên phạm vi cộng đồng, như: Tập trung đẩy mạnh công tác truyền thông, nâng cao nhận thức về dự phòng, phát hiện sớm, tăng cường khám sàng lọc ung thư ở quy mô rộng... Hiện, Bộ Y tế đang xây dựng Luật Khám chữa bệnh sửa đổi, trong đó dự kiến bổ sung quy định bảo hiểm y tế chi trả sàng lọc cho một số loại ung thư nhiều người mắc, như: Phổi, gan, vú, dạ dày…
Để phòng, tránh ung thư, Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Chấn Hùng khuyến cáo, phụ nữ trên 40 tuổi cần tầm soát ung thư vú và cổ tử cung. Nam giới trên 40 tuổi nghiện thuốc lá nặng (kể cả đã bỏ) cần tầm soát ung thư phổi, trên 50 tuổi cần tầm soát ung thư tuyến tiền liệt. Đối với những người có nguy cơ cao (viêm gan B, C) nếu trên 40 tuổi nên kiểm tra, rà tìm ung thư gan. Người có bệnh sử viêm loét dạ dày có thể xét nghiệm tìm vi khuẩn HP để có hướng xử lý thích hợp…
“Mỗi loại ung thư đều có triệu chứng riêng, nhưng giữa chúng vẫn có những dấu hiệu báo động chung, như: Rối loạn tiêu hóa, táo bón, tiêu chảy, vết sùi loét không lành, chảy máu bất thường, ăn không tiêu, khó nuốt, suy nhược, sụt cân… Do đó, người bệnh cần phải đi khám sớm và kỹ”, Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Chấn Hùng khuyến cáo. (Hà Nội mới, trang 1).
http://t5g.org.vn/diem-bao-ngay-09112020
Lần đầu tiên Việt Nam ghép ruột thành công từ người cho còn sống
Một tháng sau ca phẫu thuật cấp cứu cắt gần hết ruột non, anh T 26 tuổi được bác sĩ Việt Nam và Nhật Bản ghép ruột, người hiến ruột là mẹ đẻ của anh.
Anh Lò Văn T (26 tuổi, quê Lai Châu) đầu tháng 9/2020 phát hiện bị viêm phúc mạc do hoại tử gần như toàn bộ ruột non, được Bệnh viện huyện Than Uyên (Lai Châu) phẫu thuật cấp cứu cắt gần như hoàn toàn ruột non. Chiều dài ruột non còn lại của bệnh nhân còn lại gần 20 cm.
Ngày 29/9, anh được chuyển về điều trị tại Bệnh viện Quân y 103 với chẩn đoán suy mòn suy kiệt do hội chứng ruột cực ngắn type 3. Bệnh nhân T được điều trị tích cực, nuôi dưỡng qua đường tĩnh mạch. Sau đó, bệnh nhân xuất hiện bệnh gan chuyển hoá liên quan hội chứng suy chức năng ruột.
Ngày 27/10, các bác sỹ Bệnh viện Quân y 103 (Học viện Quân Y) đã phối hợp với chuyên gia từ Bệnh viện Đại học Tohoku (Nhật Bản) thực hiện thành công ca ghép ruột cho bệnh nhân T. Người hiến ruột cho bệnh nhân T là mẹ đẻ của anh, năm nay 47 tuổi.
Người thứ 2 được ghép ruột thành công là anh Nguyễn Văn D (42 tuổi). Anh này có tiền sử phẫu thuật vào ổ bụng 5 lần vì viêm phúc mạc do thủng đại tràng, tắc ruột tại nhiều bệnh viện. Bệnh nhân đã phẫu thuật cắt ruột khối lượng lớn (chiều dài ruột non còn lại khoảng 80cm) vào tháng 5/2007.
Ngày 2/5, bệnh nhân vào Bệnh viện Quân y 103 với chẩn đoán suy ruột không hồi phục do hội chứng ruột ngắn type 1, rò đại tràng. Bệnh nhân đã được điều trị nuôi dưỡng tích cực qua đường tĩnh mạch và điều chỉnh các rối loạn do suy chức năng ruột gây ra.
Bệnh nhân D được ghép ruột sau bệnh nhân T một ngày. Người hiến ruột là em trai của bệnh nhân (40 tuổi). Sau mổ, cả hai người hiến ruột đều ổn định. 2 bệnh nhân ghép ruột đang được theo dõi, các chỉ số sinh tồn đều ổn định và được điều trị tích cực.
Ghép ruột là kỹ thuật khó trong các kỹ thuật ghép tạng. Đây là thành công lớn trong lĩnh vực ghép tạng của Việt Nam.
Ngày 31/10, đánh giá về 2 ca bệnh trên, GS.TS Đỗ Quyết, Giám đốc Học viện Quân y, cho biết với thành công này, Việt Nam đã nằm trong số 22 nước thực hiện được kỹ thuật ghép ruột thành công trên thế giới. GS Quyết cho biết đến nay, trên thế giới thực hiện được thành công khoảng 1.000 ca ghép ruột.
Chúc mừng thành công của các chuyên gia, bác sĩ của Học viện Quân y, Thứ trưởng Bộ Y tế Trần Văn Thuấn đánh giá việc thực hiện thành công ca ghép ruột non đầu tiên của Việt Nam là mốc son đánh dấu bước tiến trong khoa học của ngành y nước nhà.
Trước đó, tháng 12/2019, Học viện Quân Y được Bộ Khoa học và Công nghệ giao nhiệm vụ chủ trì thực hiện đề tài: "Nghiên cứu triển khai ghép ruột từ người cho sống" do GS.TS Đỗ Quyết là chủ nhiệm đề tài.
Sau đó Học viện Quân y đã tích cực triển khai nghiên cứu, chuẩn bị cơ sở vật chất, trang thiết bị, vật tư, thuốc, hoá chất… và thường xuyên trao đổi kinh nghiệm ghép ruột trên người với các chuyên gia của Bệnh viện Đại học Tohoku (Nhật Bản). Đồng thời, Học viện cũng phối hợp với các bệnh viện trong nước để tuyển chọn và chăm sóc bệnh nhân có chỉ định ghép ruột. (Gia đình & Xã hội, trang 6).
http://t5g.org.vn/diem-bao-ngay-04112020
"Bắt" 2 sán lá gan cực lớn đang sống trong ống mật chủ người phụ nữ
Các bác sĩ trong ê-kíp nội soi mật tụy ngược dòng (ERCP) - Bệnh viện Đà Nẵng vừa nội soi bắt được 02 con sán lá gan lớn còn sống trong ống mật chủ cho một bệnh nhân nữ.
Bà Huỳnh Thị T. (64 tuổi), ở huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam vào Bệnh viện Đà Nẵng trong tình trạng đau bụng, sốt rét run 39 độ C, đau hạ sườn phải, nôn ra dịch.
Qua thăm khám và chụp CT-Scan ổ bụng, các bác sĩ phát hiện bệnh nhân bị sỏi ống mật chủ - nhiễm trùng đường mật, chỉ định nội soi mật tụy ngược dòng lấy sỏi (ERCP) vào ngày 02/11.
Các bác sĩ trong ê-kíp ERCP - Bệnh viện Đà Nẵng tiến hành nội soi ngược dòng, đưa dụng cụ vào đường mật bệnh nhân và chụp hình đường mật qua ERCP, phát hiện sán lá gan lớn trong ống mật chủ và tiến hành bắt sán lá gan lớn qua nội soi. Đây là kỹ thuật tiên tiến và rất khó.
Sau can thiệp ERCP, các bác sĩ đã gắp ra được 02 con sán lá gan lớn còn sống (dài 30 mm, ngang 10 mm) ra khỏi cơ thể bệnh nhân. Bệnh nhân tiếp tục dùng thuốc điều trị đặc hiệu để diệt những trứng sán còn tiềm ẩn trong người. Sau nội soi can thiệp, bệnh nhân hồi phục, tỉnh táo, hết nôn, hết đau hạ sườn phải.
Theo BS.CKI Nguyễn Xuân Tuấn, Khoa Nội tiêu hóa - Bệnh viện Đà Nẵng (người trực tiếp can thiệp cho bệnh nhân): “Sán lá gan lớn gây áp xe gan khá phổ biến ở Việt Nam. Nhưng sán lá gan lớn ở trong ống mật chủ rất hiếm gặp, đặc biệt là còn sống.
Theo y văn thế giới, người bị nhiễm sán lá gan lớn trong đường mật chiếm tỷ lệ rất thấp, chủ yếu gặp giun đũa chui lên ống mật chủ. Việt Nam cũng ghi nhận 02 ca có sán lá gan lớn trong ống mật chủ tại Thừa Thiên Huế (2012) và Đồng Nai (2018) được lấy bằng phương pháp phẫu thuật. Đây là trường hợp sán lá gan lớn còn sống trong ống mật chủ đầu tiên tại bệnh viện Đà Nẵng và được bắt qua nội soi mật tụy ngược dòng ".
BS Tuấn cho biết thêm, ở trâu bò, sán ký sinh trong gan mật, trường hợp bất thường sán có thể ký sinh trong cơ, dưới da... (ký sinh lạc chỗ). Sán trưởng thành đẻ trứng theo đường mật xuống ruột và ra ngoài theo phân.
Trứng xuống nước, nở ra ấu trùng lông và ký sinh trong ốc, phát triển thành ấu trùng đuôi, ấu trùng đuôi rời khỏi ốc và bám vào các loại rau mọc dưới nước tạo nang trùng hoặc bơi tự do trong nước. Người hoặc trâu bò ăn phải thực vật thủy sinh hoặc uống nước lã có ấu trùng sẽ bị nhiễm sán lá gan lớn.
Khi ăn phải những loại này thì ký sinh trùng sán lá gan sẽ đi vào ruột rồi và gan, phổi, não tạo áp-xe hoặc di chuyển xuống đường mật trú ngụ. Tuổi thọ của sán lá gan lớn ở người từ 9-13,5 năm.
“Để tránh bị nhiễm sán lá gan, người dân nên ăn chín uống sôi. Ở những vùng dịch tễ của sán lá gan lớn, đặc biệt là miền Trung – Việt Nam, người dân cần hết sức cẩn thận và rửa thật kỹ khi ăn các loại rau ngập nước như: rau ngổ, rau rút/nhút, rau cần, cải xoong...”- BS Tuấn khuyến cáo.
https://suckhoedoisong.vn/bat-2-san-la-gan-cuc-lon-dang-song-trong-ong-mat-chu-nguoi-phu-nu-n182603.html
Fanpage
Youtube


















