Điểm báo điện tử ngày 06/10/2017
06/10/2017
0
Mắc bệnh nguy hiểm vì tiếp xúc với... đồ vật ám khói thuốc lá Không phải chỉ hút thuốc, các nhà khoa học cảnh báo, những đồ vật ám khói thuốc lá là một nguy hại lớn đối với sức khỏe con người.
Đó là kết quả nghiên cứu mới được công bố trên tạp chí Khoa học Lâm sàng vừa được tờ VTV đăng tải. Theo đó, người xung quanh có thể hấp thụ chất độc thông qua da và trẻ em là người dễ bị tổn thương nhất.
Cũng theo các nhà khoa học, dư lượng thuốc tồn tại trên các bức tường, vật dụng, đồ nội thất, chăn màn, quần áo… hoàn toàn có thể làm suy yếu hệ thống miễn dịch của trẻ sơ sinh, khiến trẻ dễ mắc nhiều bệnh nguy hiểm.
"Có bằng chứng cho thấy các đồ vật bị ám khói thuốc có thể làm trầm trọng các triệu trứng ở trẻ em bị nhiễm trùng tai mãn tính hay bị nhiễm trùng đường hô hấp mãn tính. Nếu quần áo, tóc của bạn bị ám mùi khói thuốc lá, con nhỏ của bạn nếu bị hen suyễn sẽ dễ bị lên cơn hen suyễn", Tiến sĩ Norman Edelman - Hiệp hội Phổi Mỹ - cho biết.
Trước đó, các nhà khoa học thuộc Phòng thí nghiệm quốc gia Lawrence Berkeley (Mỹ) đã tiến hành thí nghiệm để những con chuột sơ sinh ở trong lồng tiếp xúc trong 3 tuần với một miếng vải ám khói từ khoảng 400-700 điếu thuốc lá được hút trong vòng hơn 3 năm. Kết quả thí nghiệm cho thấy chúng khó tăng cân hơn và có những thay đổi tiêu cực về lượng tế bào máu nếu so sánh với những con chuột không tiếp xúc với dư chất này.
Theo các nhà khoa học, ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy dư lượng khói thuốc lá bám trên bề mặt vật dụng trong nhà có thể gây tác hại đối với sức khỏe không kém hình thức hút thuốc thụ động. Vì vậy, có cơ sở để lo ngại về an toàn của trẻ sơ sinh vì trẻ có thể nhiễm độc từ đồ vật ám khói thuốc lá khi chúng nằm hoặc bò trên sàn nhà, hoặc thảm, hay chạm vào tường nhà, rèm cửa và các đồ đạc khác trong nhà.
Trẻ nhỏ là đối tượng dễ bị nhiễm các độc tố từ đồ vật ám khói thuốc lá khi các em hít thở, ăn uống hoặc tiếp xúc qua da. Các nhà khoa học cho rằng độc tố từ đồ vật ám khói thuốc lá có thể bám trên bề mặt đồ vật trong nhiều tuần hoặc nhiều tháng và trở nên nguy hiểm hơn nếu chúng có sự biến đổi hóa học trong thời gian này.
Trước đó, một nghiên cứu về nhiễm độc từ đồ vật ám khói thuốc lá trong các vật dụng gia đình đã cảnh báo về nguy cơ ung thư đối với trẻ em.
http://phununews.vn/suc-khoe/mac-benh-nguy-hiem-vi-tiep-xuc-voi-do-vat-am-khoi-thuoc-la-237289/
Đài Loan cấm nhai trầu cau vì nguy cơ gây ung thư miệng
Theo tờ Channel News Asia, chính phủ Đài Loan đang tìm cách giúp người dân cai nghiện trầu cau bởi cho rằng trong cau có chất gây nghiện và chất có thể dẫn đến bệnh ung thư miệng.
Cau xanh thường được bọc trong lá trầu cùng với một ít vôi để tăng hiệu quả kích thích. Loại “thuốc gây nghiện” này hiện đang được bán phổ biến ở các kiốt ven đường. Hàng triệu người Đài Loan có thói quen nhai trầu cau hàng ngày.
Tuy nhiên, theo cơ quan y tế Đài Loan, những người nhai cau có nguy cơ bị ung thư miệng cao gấp 20 lần so với người không nhai cau.
Sau khi một nghiên cứu năm 2003 khẳng định cau có chất gây ung thư, số người nhai cau cũng có giảm nhưng hiện vẫn có tới 2 triệu người còn nhai loại quả này, đặc biệt là nam giới ở tầng lớp lao động. Những người nghiện nhai cau thường là những người phải lao động chân tay nhiều giờ trong ngày và họ phải sử dụng chất kích thích này để cảm thấy bớt mệt mỏi, căng thẳng.
Bà Chuang Li-chen, người quản lý dự án của Quỹ phúc lợi xã hội Sunshine, một tổ chức phi chính phủ cung cấp các dịch vụ phục hồi chức năng cho những người bị ung thư miệng cho hay: “Việc chỉ tuyên truyền những nguy cơ đối với sức khỏe của cau là không đủ bởi việc nhai cau đã “ăn sâu” trong xã hội”.
Chính phủ đang cố gắng giảm nguồn cung cấp cau nhằm giải quyết tình trạng nghiện trên bằng cách khuyến khích những người trồng cau chặt cau để trồng cây khác nhằm giảm nguồn cung cấp cau. Theo đó, chính phủ sẽ trợ cấp cho nông dân khoảng 8.315 USD trên mỗi hecta trồng cau để họ loại bỏ cây cau.
Nhiều năm qua, nhằm đáp ứng với phong trào nhai trầu cau hay cơn sốt nghiện trầu cau, ông Huang Sheng-yi đã trồng hàng ngàn cây cau trên khu đồi của mình. Tuy nhiên, hiện tại ông đang chặt chỗ cây đó.
Theo ông Huang, nhiều người vẫn rất do dự khi thực hiện kế hoạch trên của chính phủ. Giờ ông đang trồng cây dầu trà camellia nhưng phải mất 2 năm mới có thể thu hoạch. Sở dĩ ông dễ dàng chấp nhận chặt cau bởi ông còn công việc kinh doanh trà. Ông nói: “Người nông dân do dự bởi việc trồng cây mới sẽ vất vả hơn nhiều. Chính phủ cần có chính sách khuyến khích tốt hơn cũng như có sự hướng dẫn chu đáo hơn mới có thể thành công”.
Thật vậy, các nhà chức trách Đài Loan thừa nhận chương trình này vẫn chưa có kết quả nào đáng kể. Trong số 42.940 hecta trồng cau, mới chỉ có 435 hecta đã được chuyển đổi sang trồng loại cây khác.
Tuy nhiên, ông Su Mao-hsiang, phó giám đốc cơ quan nông nghiệp và thực phẩm của Đài Loan cho biết, nhiều người nông dân đã đăng kí chặt cau theo kế hoạch của chính phủ sau khi chính phủ Đài Loan quyết định tăng thêm tiền hỗ trợ.
Trầu cau là một nét văn hóa của Đài Loan trong hàng ngàn năm qua. Vào thời kỳ đỉnh cao, cau còn được xem là "vàng xanh", chỉ đứng sau gạo. Rất nhiều người kiếm sống bằng nghề trồng cau và bán trầu cau.
Nguy cơ gây ung thư miệng
Các nhà vận động không nhai cau cho rằng nhiều người vẫn chưa biết rõ những mối nguy hiểm của cau đối với sức khỏe.
Ông Chen Yung-an, 53 tuổi, một người đã từng nghiện cau cho hay, ông ước mình tin lời bác sĩ khi nhiều năm trước, bác sĩ nói rằng ông có dấu hiệu sớm của bệnh ung thư miệng. Ông nói: "Tôi không nghĩ rằng tôi có thể bị như vậy. Những người khác đã nhai cau trong nhiều năm và họ chẳng bị làm sao cả”.
Theo ông Chen, ở các khu vực nông thôn, quả cau giống như một loại trái cây và mọi người không nghĩ nó có hại cho sức khỏe.
Ông cho biết thêm: “Tôi thấy khó chịu khi miệng không nhai cái gì đó. Tôi thường mua vài miếng trầu cau bên đường để nhai. Tôi gần như chỉ không nhai trầu cau khi ngủ”.
Giờ đây, khi đã bị ung thư miệng, ông Chen chỉ được ăn thức ăn mềm và ăn miếng nhỏ để tránh bị nghẹt thở và ông cũng không thể làm việc kể từ khi làm phẫu thuật.
Bà Chuang Li-chen cho hay, chỉ có khoảng một nửa dân số biết được rằng nhai cau có thể gây ung thư. Bà nói: "Chúng ta đã để nghề trồng trầu cau phát triển trong nhiều thập kỷ. Chúng ta không thể phớt lờ sinh kế của những người trồng và người bán trầu cau. Do đó, cần phải có sự phối hợp tốt hơn giữa bộ phận giáo dục, nông nghiệp và kinh tế để giải quyết tận gốc rễ vấn đề này”.
http://infonet.vn/dai-loan-cam-nhai-trau-cau-vi-nguy-co-gay-ung-thu-mieng-post238847.info
Trẻ được chăm sóc tốt trong 1.000 ngày đầu đời sẽ phát triển toàn diện hơn Đó là thông tin được đưa ra tại Hội thảo Chăm sóc sự phát triển toàn diện của trẻ trong 1.000 ngày đầu đời: Từ nghiên cứu đến vận động chính sách do Bộ Y tế phối hợp với Trung tâm nghiên cứu và phát triển cộng đồng (RTCCD) tổ chức ngày 5-10, tại Hà Nội.
Theo TS Trần Đăng Khoa, Vụ Bà mẹ trẻ em (Bộ Y tế), các mô hình chăm sóc sự phát triển toàn diện của trẻ trong 1.000 ngày đầu đời chủ yếu tập trung vào vấn đề làm mẹ an toàn, cải thiện chế độ dinh dưỡng và sự phát triển thể chất, thông qua việc bổ sung vi chất hoặc hướng dẫn nuôi con bằng sữa mẹ và cho ăn bổ sung đúng cách. Hiện trẻ em vẫn đang phải đối mặt với các yếu tố nguy cơ trong giai đoạn 1.000 ngày đầu đời như: Thiếu máu, thiếu sắt, thiếu i-ốt, suy dinh dưỡng bào thai, nhẹ cân khi sinh, bạo hành gia đình, trầm cảm lo âu ở phụ nữ mang thai... mà chưa có chính sách hoặc hoặc chương trình can thiệp trên diện rộng nào nhằm giúp đỡ cộng đồng cải thiện điều kiện chăm sóc trẻ tốt hơn. Vì vậy cần có nghiên cứu mô hình can thiệp cộng đồng phù hợp, đánh giá tính hiệu quả, khả năng duy trì bền vững, tích hợp vào hệ thống chăm sóc sức khỏe bà mẹ trẻ em quốc gia.
Tại hội thảo, ông Trần Tuấn, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển cộng đồng cho biết, 1.000 ngày đầu đời của trẻ được tính từ khi thai nghén trong bụng mẹ cho tới khi trẻ sinh nhật tròn 2 tuổi. Đây là giai đoạn não bộ phát triển nhanh nhất, đây cũng là giai đoạn “vàng” để có thể tác động đến trẻ một cách tích cực, làm nền tảng cho sự phát triển toàn diện của trẻ trong 5 năm đầu tiên của cuộc đời và cả sau này.
Ông Trần Tuấn cũng cho biết, kết quả nghiên cứu chăm sóc sự phát triển toàn diện của trẻ trong 1.000 ngày đầu đời tại Hà Nam đã chỉ ra những vấn đề rất đáng lưu tâm về sức khỏe người phụ nữ khi mang thai và ảnh hưởng sự phát triển của trẻ như: 33% phụ nữ mang thai ở 3 tháng cuối và 2 tháng đầu sinh bị chứng rối nhiễu tâm trí thường gặp; 32% thường xuyên lo lắng về an ninh lương thực gia đình, 20% phụ nữ mang thai 3 tháng cuối có chỉ số cân nặng so với chiều cao thấp hơn chuẩn quy định, 80% phụ nữ thiếu i-ốt, 17% thiếu máu do thiếu sắt, 19% từng bị bạo hành gia đình, tỷ lệ trẻ sinh thiếu tháng 14%... Từ những thực trạng trên, từ năm 2014, Dự án Câu lạc bộ học tập cộng đồng vì sự phát triển toàn diện của trẻ đã được triển khai thí điểm ở Hà Nam với các nội dung chính là: Hướng dẫn chăm sóc thai nghén; sức khỏe tâm trí phụ nữ mang thai và sau sinh; chăm sóc trẻ sơ sinh, trẻ bệnh; kích thích sự phát triển của trẻ… Kết quả đã thu hút 2.039 lượt người tham gia, góp phần giảm tỷ lệ trầm cảm, lo âu ở bà mẹ (6,2% can thiệp, 11,1% đối chứng) đồng thời tăng chỉ số phát triển ở trẻ (46,9 điểm can thiệp, 43,2 điểm đối chứng).
Thời gian tới, dự án sẽ tiếp tục triển khai và mở rộng phạm vi tại 84 xã ở tỉnh Hà Nam nhằm phổ biến các kiến thức chăm sóc trẻ trong giai đoạn 1.000 ngày đầu đời hướng tới sự phát triển toàn diện cho thế hệ tương lai.
Tại Việt Nam mỗi năm có hơn 200.000 người đột quỵ Chiều 5-10, tại Hà Nội, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 phối hợp với Hội đột quỵ Việt Nam tổ chức Hội nghị khoa học Đột quỵ và Thần kinh toàn quốc lần thứ 7.
Phát biểu tại hội nghị, Thiếu tướng, GS,TS Mai Hồng Bàng, Giám đốc Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 cho biết, trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật nhất là về khoa học y học, tuổi thọ của con người ngày càng được nâng cao. Tuy nhiên đi kèm với sự phát triển của xã hội, các bệnh lý của người có tuổi như tim mạch, ung thư, đột quỵ ngày một gia tăng ở mọi quốc gia trên toàn thế giới. Theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới, đột quỵ là nguyên nhân tử vong đứng hàng thứ ba sau các bệnh lý về tim mạch và ung thư, nhưng đứng hàng đầu về tỷ lệ tàn tật ở người trưởng thành. Vì vậy, đột quỵ não không chỉ là vấn đề y tế mà còn là vấn đề kinh tế, gánh nặng cho toàn xã hội, cho chính bệnh nhân và gia đình người bệnh. Tại Việt Nam, mỗi năm có khoảng 200.000 người mắc mới đột quỵ, khoảng 50% trong số đó tử vong. Đột quỵ thường xảy ra “bất ngờ” và để lại hậu quả vô cùng nặng nề khi có tới 90% bệnh nhân phải gánh chịu các di chứng sau cơn đột quỵ như liệt nửa người, liệt toàn thân, bại não, biến chứng tâm lý, tâm thần...
Theo số liệu tổng hợp từ các bệnh viện có khoa thần kinh trên toàn quốc cho thấy: Trong 3 năm trở lại đây, số bệnh nhân phải nhập viện vì đột quỵ đang có chiều hướng gia tăng từ 1,7% - 2,5%. Trong đó, tỷ lệ nam giới mắc phải cao gấp 4 lần nữ giới. Nghiêm trọng hơn, độ tuổi bị tai biến mạch máu não đang dần trẻ hóa, từ 40 - 45 tuổi so với trước đây là 50 - 60 tuổi. Do đó, việc chăm sóc và tập luyện phục hồi chức năng cho người bệnh tái hòa nhập cộng đồng là một mắt xích quan trọng trong liệu trình điều trị đối với người bệnh đột quỵ. Với chức năng là Bệnh viện hạng đặc biệt Quốc gia - Bệnh viện đa khoa, chuyên khoa sâu, tuyến cuối của toàn quân; được Đảng, Nhà nước, Quân đội quan tâm đầu tư các trang thiết bị kỹ thuật tiên tiến, hiện đại, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 đã góp phần tích cực trong việc cấp cứu, điều trị có hiệu quả các bệnh lý về đột quỵ và thần kinh, giảm tỷ lệ tử vong, tàn phế do đột quỵ, đem lại sự sống cho bệnh nhân.
Với mục đích trao đổi, học tập kinh nghiệm của các đồng nghiệp trong cả nước để nâng cao chất lượng trong chẩn đoán, điều trị đột quỵ, Hội nghị Khoa học Đột quỵ và Thần kinh toàn quốc lần thứ 7 có sự tham gia của các chuyên gia quốc tế hàng đầu và các chuyên gia có kinh nghiệm của các cơ sở y tế lớn của Việt Nam với hơn 60 báo cáo khoa học về nghiên cứu, chẩn đoán và điều trị các bệnh lý về đột quỵ và thần kinh hiện nay, góp phần ngày càng nâng cao chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân đột quỵ.
Hội nghị sẽ diễn ra trong 2 ngày 5 và 6-10.
http://www.qdnd.vn/xa-hoi/y-te/tai-viet-nam-moi-nam-co-hon-200-000-nguoi-dot-quy-519737
Uống cà phê giúp bệnh nhân HIV tăng 50% cơ hội sống sót
Tại Mỹ, khoảng 1/2 bệnh nhân nhiễm HIV do dùng chung kim tiêm cũng được phát hiện mắc siêu vi viêm gan C (HCV). Đây là hai căn bệnh có cùng phương thức lây truyền.
Các phương pháp điều trị HIV và HCV đã cải thiện đáng kể, giúp kéo dài tuổi thọ cho các bệnh nhân mắc một hoặc cả hai căn bệnh này. Các bệnh nhân nhiễm HCV được chữa khỏi nhiều nhất.
Bệnh nhân nhiễm HCV và HIV có nguy cơ cao mắc các bệnh nguy hiểm về gan. Ngay cả khi HCV được điều trị khỏi thì HIV cũng làm đẩy nhanh quá trình lão hóa và dẫn tới các vấn đề về tim mạch và thái hóa gan.
Nhưng trong một nghiên cứu của Viện sức khỏe và Cơ quan quốc gia về bệnh AIDS và việm gan Pháp được thực hiện với 1.028 bệnh nhân nhiễm HIV và HCV, những người uống hơn 3 ly cà phê mỗi ngày có tỷ lệ viêm nhiễm giảm 50% trong vòng 5 năm.
Các nhà khoa học chưa rõ, liệu cà phê hay chất caffeine có tác động tích cực tới gan hay không nhưng cà phê dường như giúp giảm các enzim do gan mắc bệnh sản sinh quá mức và làm chậm quá trình phát triển của vết sẹo trên gan.
Theo Hiệp hội nghiên cứu gan châu Âu, cà phê có thể giúp ngăn ngừa gan kháng chất insulin.
Nghiên cứu cũng theo dõi tình trạng hút thuốc lá của các bệnh nhân và phát hiện rằng, những người không hút thuốc có tỷ lệ sống sót cao hơn. Các yếu tố lối sống như có bạn đời chăm sóc giúp kéo dài tuổi thọ của bệnh nhân.
http://www.24h.com.vn/suc-khoe-doi-song/uong-ca-phe-giup-benh-nhan-hiv-tang-50-co-hoi-song-sot-c62a908080.html
Fanpage
Youtube


















