Điểm báo điện tử ngày 23/6/2016
23/06/2016
0
Mỹ, Brazil hợp tác nghiên cứu virus Zika
Các nhà khoa học Mỹ ngày 21/6 công bố các kế hoạch tiến hành một nghiên cứu qui mô lớn về các nguy cơ đối với sức khỏe của phụ nữ mang thai tại khu vực virus Zika hoành hành, đặc biệt là Mỹ Latinh.
Do Viện Y tế Quốc gia Mỹ và Brazil tài trợ, nghiên cứu với đề tài "Virus Zika trong trẻ sơ sinh và thai phụ" có mục tiêu theo dõi sức khỏe của 10.000 phụ nữ mang thai, tuổi từ 15 trở lên.
Theo đó, các nhà khoa học cho biết sẽ tiến hành nghiên cứu đầu tiên ở Puerto Rico sau đó mở rộng ra Brazil, Colombia và các khu vực khác. Các thai phụ sẽ được theo dõi tình hình sức khỏe từ 3 tháng đầu thai kỳ cho đến ít nhất là 1 năm sau khi sinh.
Giám đốc Viện Dị ứng và Lây nhiễm Quốc gia Mỹ Anthony S. Fauci cho biết hiện vẫn chưa có một nghiên cứu xác định toàn diện các ảnh hưởng của virus Zika đối với thai phụ. Do đó, với qui mô lớn, nghiên cứu này hứa hẹn sẽ cung cấp thêm các thông tin quan trọng giúp định hướng pháp đồ chữa trị cũng như đối phó dịch bệnh trên diện rộng.
Nghiên cứu này sẽ bao gồm các phân tích các hậu quả khi sinh con, sinh non, các trường hợp bị di tật não và các vấn đề khác đặt trong bối cảnh ảnh hưởng của môi trường và các dịch bệnh khác bao gồm các loại virus nhiệt đới khác.
So sánh các nhóm thai phụ nhiễm và không nhiễm Zika cũng như nhóm trẻ em nhiễm và không nhiễm virus, nghiên cứu sẽ đưa ra các biện pháp bảo vệ sức khỏe bà mẹ và trẻ em.
Cùng ngày, Bộ Y tế Cuba xác nhận 4 ca nhiễm virus Zika mới, nâng tổng số ca nhiễm tại đảo quốc này lên con số 21. Theo đó, cả 4 bệnh nhân bị phát hiện nhiễm Zika sau khi trở về từ Guyana. Trong số các bệnh nhân, hai người sống ở tỉnh Villa Clara, 2 người khác sống tại Sancti Spiritus và La Habana hiện đều được điều trị tại bệnh viện địa phương song đều đang có tiến triển tốt.
Cuba phát hiện trường hợp nhiễm virus Zika đầu tiên hồi tháng 3 vừa qua, trong đó đa số là lây nhiễm khi ra nước ngoài, chỉ duy nhất có 1 trường hợp lây nhiễm trong nước.
Virus Zika lây truyền qua muỗi Aedes aegypti, quan hệ tình dục và truyền máu, với các triệu chứng phổ biến nhất khi bị nhiễm là sốt, viêm kết mạc, nhức đầu, đau cơ và khớp, phát ban.
Đây là loại virus nguy hiểm, nhất là với phụ nữ mang thai vì có khả năng gây ra dị tật đầu nhỏ ở thai nhi, cũng như gây ra nhiều hội chứng rối loạn như Guillain-Barre ở người lớn. Virus Zika hiện đã xuất hiện tại hơn 50 quốc gia trên thế giới song chưa có vaccine hay thuốc đặc trị.
Brazil là quốc gia bị ảnh hưởng nghiêm trọng nhất trong đợt bùng phát virus Zika này./.
http://bnews.vn/my-brazil-hop-tac-nghien-cuu-virus-zika/18333.html
Cảnh báo nạn đói tiềm ẩn, ảnh hưởng đến giống nòi, trí tuệ người Việt
Theo PGS Lê Bạch Mai, thiếu vi chất đang trở thành nạn đói âm thầm vì người đói không biết mình đói. Việc thiếu vi chất đang ảnh hưởng đến sức khoẻ và giống nòi Việt.
Bữa ăn nghèo vi chất
Mới đây, theo Viện Dinh dưỡng Quốc gia, kết quả khảo sát tại 36 xã, phường của 9 tỉnh, thành trên toàn quốc từ tháng 10-2014 đến tháng 10-2015, trong đó có Hà Nội, tình trạng thiếu vi chất vẫn đáng báo động, đặc biệt là các vi chất như sắt, vitamin A, iot, kẽm và các vi chất khác.
PGS Lê Bạch Mai – Phó Viện trưởng Viện dinh dưỡng Quốc gia cho biết, thực trạng chất dinh dưỡng Việt Nam từ năm 1985 đến 2015 bữa cơm của người Việt không thay đổi về vi chất, về năng lượng mà chỉ thay đổi về chất béo.
Hiện nay chúng ta cơ cấu 15% do chất đạm, 18% do chất béo, 67% năng lượng đến từ hidratcacbon. Sự thay đổi thịt cá chưa tăng nhưng trứng sữa đã gia tăng, sự thay đổi về chất béo nhiều lên.
PGS Lê Bạch Mai cho hay, không chỉ thiếu vi chất ở người lớn mà tình trạng dinh dưỡng lứa tuổi học đường, Việt Nam là 1 trong 4 nước tiến hành nghiên cứu này, thì khẩu phần trẻ em dưới 5 tuổi thiếu sắt, vitamine A cũng rất cao. Chỉ có 62% số trẻ được đáp ứng về sắt, 86% số trẻ được đáp ứng nhu cầu vitamin A. Trên 3 tuổi, có từ 30 – 40% trẻ bị thiếu vi chất, đặc biệt là sắt và vitamin A.
Việc thiếu dinh dưỡng đến nay vẫn chưa được cải thiện. Chúng ta nỗ lực đưa ra các chương trình mục tiêu quốc gia về dinh dưỡng nhưng thực tế người dân vẫn thiếu vi chất. Việc thiếu vi chất này được coi là nạn đói tiềm ẩn.
Trái ngược là hiện nay có nhiều trẻ béo phì những vẫn thiếu vitamin A, kẽm, sắt và các vi chất khác. Trẻ béo phì thừa năng lượng thiếu vi chất gây ra các bệnh rối loạn chuyển hoá, tim mạch.
Nỗ lực còn xa
Những nỗ lực của Chương trình phòng chống thiếu máu thiếu sắt những năm qua đã góp phần đưa được tỷ lệ thiếu máu thiếu sắt chung ở trẻ em dưới 5 tuổi xuống còn 34,1%, giảm một nửa so với những năm 90 khi bắt đầu chương trình nhưng cho đến nay, tỷ lệ trẻ trong năm đầu đời bị thiếu máu do thiếu sắt vẫn còn ở mức rất cao, tới 60 - 80%.
Thiếu vi chất kẽm cũng tương tự, năm 2015 có giảm nhưng so với kết quả điều tra năm 2010, trẻ em dưới 5 tuổi 70% thiếu kẽm, 80% phụ nữ có thai, phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ cũng thiếu kẽm.
Dù Việt Nam đã có chương trình phòng chống thiếu iot nhưng đến nay đã giảm từ 93% năm 2005 xuống còn 45% sử dụng muối iot đạt tiêu chuẩn. Ghi nhận tại Bệnh viện, tình trạng bướu cổ, rối loạn thiếu dinh dưỡng đang quay trở lại.
Người dân chưa quan tâm nhiều đến vi chất, song nó ảnh hưởng sâu sắc tới trí tuệ. Nó gây ra một nạn đói tiềm ẩn chúng ta khó tìm thấy. Bổ sung vi chất dinh dưỡng từ hôm nay, cải thiện bữa ăn hàng ngày là khuyến cáo của các chuyên gia dinh dưỡng.
Nghiên cứu mới về bà bầu: Bổ sung quá nhiều folate trong lúc mang thai có thể là nguyên nhân khiến trẻ bị tự kỷ
Phụ nữ mang thai sử dụng quá liều folate (acid folic) và vitamin B12, có thể tăng nguy cơ tự kỷ ở trẻ sơ sinh. Kết luận trên được các nhà khoa học từ Đại học Johns Hopkins (Mỹ) đưa ra.
Axit folic hay folate là một dưỡng chất rất quan trọng đối với thai nhi. Phụ nữ trước lúc mang thai và trong thai kỳ đều phải bổ sung đủ 400mcg axit folic mỗi ngày để phòng tránh các khiếm khuyết thần kinh ở thai nhi. Tuy nhiên, một nghiên cứu mới đây lại chỉ cho thấy nếu dùng folate quá liều, thai nhi có thể gặp vấn đề.
Quá liều folate (acid folic) và vitamin B12, có thể tăng nguy cơ tự kỷ ở trẻ sơ sinh
Phụ nữ mang thai sử dụng quá liều folate (acid folic) và vitamin B12, có thể tăng nguy cơ tự kỷ ở trẻ sơ sinh. Kết luận trên được các nhà khoa học từ Đại học Johns Hopkins (Mỹ) đưa ra.
Theo đó, bà bầu sử dụng quá nhiều chất bổ sung folate có thể làm tăng gấp đôi nguy cơ các rối loạn phát triển của trẻ sơ sinh; lượng vitamin B12 cao trong thời kỳ mang thai cũng có thể làm tăng gấp 3 lần khả năng bệnh tự kỷ ở trẻ.
Các nhà nghiên cứu cũng cho biết, sử dụng quá mức cả hai chất dinh dưỡng trên có thể làm tăng mức độ rủi ro cho thai kỳ lên tới 17,6 lần.
Kết quả nghiên cứu này đã gây tranh cãi, bởi hiện nay, phụ nữ mang thai thường được khuyên nên bổ sung acid folic và các viên uống tổng hợp vitamin B trong giai đoạn đầu thai kỳ, nhằm giảm nguy cơ dị tật bẩm sinh, tử vong…
Trong khi đó, theo Dailymail, phụ nữ mang thai trong 12 tuần đầu của thai kỳ, được khuyên nên dùng 400 microgram acid folic mỗi ngày. Ngoài ra, phụ nữ trong thời kỳ mang thai cũng được khuyên nên dùng ít nhất 2,5 microgra B12 một ngày, giúp giảm thiểu rủi ro và hạn chế các khuyết tật.
Nhưng nghiên cứu mới của Mỹ cho thấy, các bà mẹ tương lai nên có sự thận trọng khi cố gắng bổ sung các nguồn dưỡng chất, nhằm đảm bảo một lượng folate và B12 đầy đủ.
TS Daniele Fallin, Giám đốc Trung tâm Klag Wendy, Đại học Bloomberg (Mỹ), trường dành cho trẻ Tự Kỷ và Khuyết tật Phát triển, cho biết: "Từ lâu, chúng ta đã biết, sự thiếu hụt folate ở các bà mẹ mang thai gây bất lợi cho sự phát triển của con mình. Nhưng, chúng ta cũng cần biết, nếu quá thừa folate cũng có thể gây hại”.
Các nhà nghiên cứu thuộc trường Đại học Johns Hopkins đã phát hiện ra rằng nếu nồng độ folate của mẹ quá cao sau sinh, nguy cơ mắc chứng tự kỷ của con sẽ tăng gấp đôi so với các trường hợp khác. Điều này cho thấy, nguy cơ tiềm ẩn rất nghiêm trọng nếu người mẹ dùng quá liều folate trong thai kỳ.
Ngoài ra, nghiên cứu này cũng cho thấy nếu nồng độ vitamin B12 trong cơ thể của người mẹ mang thai lần đầu quá cao sẽ làm tăng gấp 3 lần nguy cơ tự kỷ (Vitamin B12 được tìm thấy trong các sản phẩm có nguồn gốc động vật, bao gồm: cá, thịt, gia cầm, trứng và sữa). Nếu cả folate và vitamin B12 đều quá cao, nguy cơ tự kỷ có khả năng tăng gấp 17,6 lần.
Folate sử dụng như thế nào trong thai kì
Mặc dù nghiên cứu chỉ ra mối nguy hại khi dùng folate quá nhiều trong thai kỳ nhưng nó không có nghĩa là bạn phải ngưng uống axit folic khi đang có thai. Điều cần nhấn mạnh ở đây chính là liều lượng. Các kết quả được đưa ra từ nghiên cứu trên đều ứng với các trường hợp mẹ có mức folate cao gấp bốn lần so với liều khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới.
Folate tự nhiên có trong các loại trái cây và rau quả như cam, bưởi, nho, chuối, măng tây, bông cải xanh và rau bina đều rất tốt cho cơ thể. Nếu muốn bổ sung thêm folate từ bên ngoài, bạn nên hỏi thêm ý kiến của bác sĩ để được chỉ định liều lượng phù hợp vì mỗi người có những nhu cầu khác nhau.
Theo Tổ chức Y tế Thế giới, mức folate từ 13,5 - 45,3 nmol/l (nanomoles trên lít) là đủ cho các thai phụ trong 3 tháng đầu tiên của thai kỳ.
Các nhà nghiên cứu đã xem xét các dữ liệu từ 1.391 cặp mẹ con trong nghiên cứu của mình và nhận ra rằng rất nhiều người trong số này dùng vitamin tổng hợp (trong đó bao gồm axit folic và B12) trong khi mang thai.
Tuy nhiên, họ vẫn không thể chắc chắn lý do tại sao một số bà mẹ lại có nồng độ folate quá cao so với mức khuyến nghị. Họ cho rằng có thể yếu tố di truyền tham gia và quyết định điều này vì một số thai phụ có khả năng dễ hấp thụ folate tốt hơn so với những người khác. Hoặc nó cũng có thể là một sự kết hợp tổng hòa của nhiều yếu tố.
Chính vì chưa thể đưa ra lời giải thích chắc chắn nên nghiên cứu cần phải được đào sâu để xác định cụ thể mức axit folic thai phụ nên bổ sung trong thai kỳ.
http://tieudungplus.vn/nghien-cuu-moi-ve-ba-bau-bo-sung-qua-nhieu-folate-trong-luc-mang-thai-co-the-la-nguyen-nhan-khien-tre-bi-tu-ky-10156.html
Nhiều trẻ nguy kịch vì chữa tiêu chảy bằng “mẹo”
Theo BS Nguyễn Văn Thường, Trưởng Khoa Nhi tổng hợp (Bệnh viện Xanh Pôn, Hà Nội), ngoài các bệnh viêm hô hấp liên quan đến nắng nóng thì bệnh tiêu chảy ở trẻ em là căn bệnh thường gặp nhất trong mùa hè. Thời điểm này, trung bình mỗi ngày Khoa tiếp nhận 50 – 70 bệnh nhi khám tiêu hóa...
Theo BS Nguyễn Văn Thường, Trưởng Khoa Nhi tổng hợp (Bệnh viện Xanh Pôn, Hà Nội), ngoài các bệnh viêm hô hấp liên quan đến nắng nóng thì bệnh tiêu chảy ở trẻ em là căn bệnh thường gặp nhất trong mùa hè. Thời điểm này, trung bình mỗi ngày Khoa tiếp nhận 50 – 70 bệnh nhi khám tiêu hóa, trong đó chủ yếu là tiêu chảy. Chữa tiêu chảy bằng mẹo dân gian rất nguy hiểm cho tính mạng trẻ.
Nguy kịch vì dùng sái thuốc phiện trị tiêu chảy
Bé Mẫn (ở Hà Đông, Hà Nội) 9 tháng tuổi bị tiêu chảy, mẹ bé lại nghĩ con đi tướt để bò nên chủ quan. Mỗi lần thấy còn xì xoẹt, chị Thanh lại mua thuốc cầm tiêu chảy và lấy lá ổi non nhai ra cho bé nuốt. Sau một tuần, bé Mẫn vẫn đi tiêu chảy ngày 4 lần. Đến khi bé quấy khóc, phần hậu môn đỏ tấy bố mẹ mới đưa con đi viện khám. Sau khi kiểm tra, bác sỹ cho biết cháu bị tiêu chảy do trước đó bị viêm mũi họng, mẹ bé tự mua kháng sinh về cho con uống quá lâu gây ra tình trạng loạn khuẩn ở ruột nên bị tiêu chảy. Việc vừa dùng kháng sinh vừa dùng lá ổi đã khiến tình trạng bệnh tăng nặng.
Trước đó, bé Hoàng H, 10 tháng tuổi (ở Phú Thọ) đã nhập viện trong tình trạng sốt cao, thở khò khè, đi ngoài phân lỏng nước, da tím tái. Theo người nhà cho biết, khi thấy cháu bị đi ngoài phân lỏng ngày nhiều lần, gia đình đã cho cháu uống sái thuốc phiện để tự chữa bệnh. Sau khi uống, bé tím tái, khó thở được đưa đi cấp cứu. Sau thăm khám và làm xét nghiệm lâm sàng, cháu được chẩn đoán bị suy hô hấp, hôn mê sâu, đồng tử co, suy đa phủ tạng, nhiễm khuẩn nặng.
Trao đổi với PV Báo GĐ&XH, BS Nguyễn Văn Thường cho biết, mùa hè, ngoài các bệnh viêm hô hấp liên quan đến nắng nóng thì bệnh tiêu chảy ở trẻ em là căn bệnh thường gặp nhất. Thời điểm này, trung bình mỗi ngày Khoa tiếp nhận 50 – 70 bệnh nhi khám tiêu hóa, trong đó chủ yếu là tiêu chảy.
Bệnh thường do hai nguyên nhân chính là nhiễm các loại vi khuẩn có trong thức ăn, nước uống hoặc do nhiễm virus. Nắng nóng, thức ăn dễ bị ôi thiu tạo điều kiện cho các loại vi khuẩn phát triển. Mặt khác, do nắng nóng, trẻ sẽ uống nhiều nước hơn bình thường và có thể một số loại nước trẻ uống không đảm bảo vệ sinh. Thói quen sử dụng nước đá để giải nhiệt khi thời tiết quá nóng cũng khiến trẻ mắc tiêu chảy vì nhiễm vi khuẩn có trong nước đá.
“Điều đáng nói là không ít trẻ đã gặp nguy hiểm từ chính sai lầm trong điều trị của cha mẹ. Không hiếm cha mẹ dùng thuốc phiện để chữa tiêu chảy cho trẻ, nhất là ở các vùng nông thôn và miền núi. Việc cầm đi ngoài theo cách này là chống chỉ định dùng. Bản chất của thuốc phiện làm cho giảm nhu động ruột, thậm chí liệt ruột. Tuy số lần đi ngoài giảm nhưng bệnh không giảm, thậm chí nặng hơn. Vì khi đó các tác nhân gây tiêu chảy không được đào thải ra ngoài mà tồn đọng trong đường ruột càng gây tình trạng tiêu chảy kéo dài, thậm chí bị viêm ruột, gây biến chứng nguy hiểm. Tiêu phân lỏng cũng là cách để thải virus, độc chất - nguyên nhân gây bệnh ra ngoài”, BS Nguyễn Văn Thường nhấn mạnh.
PGS.TS Nguyễn Tiến Dũng, nguyên Trưởng khoa Nhi (BV Bạch Mai) cho rằng, nhiều cha mẹ khi thấy con bị tiêu chảy còn tự ý cho trẻ uống thuốc kháng sinh hoặc thuốc cầm tiêu chảy hay theo kinh nghiệm dân gian dùng các loại lá ổi, lá hồng xiêm. Các loại thuốc đó gần như không có tác dụng mà có thể làm cho tình trạng bệnh kéo dài, nặng hơn. Như trong búp lá ổi xanh có chứa chất tanin, có tác dụng làm săn niêm mạc ruột ngay tức khắc làm ngưng tình trạng đi ngoài phân lỏng. Tuy nhiên, các triệu chứng lâm sàng thuyên giảm chỉ là giả tạo. Nguyên nhân gây bệnh như vi khuẩn, virus, nấm và ký sinh trùng vẫn tồn đọng trong lòng ruột làm bệnh không hết.
Làm gì khi trẻ bị tiêu chảy?
BS Nguyễn Văn Thường cho biết, không phải trẻ mắc bệnh tiêu chảy đều nhập viện điều trị mà tùy mức độ nặng nhẹ của bệnh. 90% có thể tự điều trị tại nhà. Nếu chỉ mất nước ở mức độ nhẹ với biểu hiện khát nhẹ, miệng khô, còn tiểu được… có thể điều trị tại nhà để bù nước và điện giải. Khi trẻ có một trong những dấu hiệu như: Sốt cao liên tục, tiêu phân có máu, trẻ trở nên khát nước quá nhiều, li bì, co giật... thì phải đưa trẻ đi khám kịp thời.
Việc dùng kháng sinh nên có chỉ định của bác sỹ. Cũng là tiêu chảy nhưng mỗi loại nguyên nhân lại có thuốc chỉ định khác nhau. Trẻ bị tiêu chảy cần được quan tâm đảm bảo về mặt dinh dưỡng. Không nên cho trẻ nhịn ăn hay nhịn uống với quan niệm nhịn ăn uống sẽ bớt tiêu chảy. Nên cho trẻ ăn những món ăn dễ tiêu như cháo loãng với thịt nạc, ăn chuối; không được cắt khẩu phần các loại thực phẩm như tôm, cá, thịt, trứng, sữa… của trẻ. Cho trẻ ăn làm nhiều bữa vì lúc này trẻ lười ăn, không nên ép trẻ ăn nhiều một bữa như bình thường càng khiến trẻ sợ.
PGS.TS Nguyễn Tiến Dũng nhấn mạnh, khi trẻ bị tiêu chảy rồi thì việc đầu tiên phải làm là bù nước, điện giải sớm cho trẻ bằng dung dịch oresol. Nếu pha oresol không đúng tỷ lệ pha quá loãng, hàm lượng chất điện giải sẽ không đủ. Ngược lại nếu pha quá đặc, bé sẽ bị ngộ độc muối, thậm chí có thể nguy hiểm đến tính mạng do lượng muối trong máu quá cao sẽ rút nước từ các tế bào ra khiến cơ thể bị mất nước và rối loạn điện giải nghiêm trọng hơn. Trong trường hợp bù điện giải mà trẻ vẫn tiêu chảy và kèm nôn cần đưa ngay đến các cơ sở y tế để kiểm tra tìm hiểu nguyên nhân có biện pháp điều trị kịp thời.
http://eva.vn/lam-me/nhieu-tre-nguy-kich-vi-chua-tieu-chay-bang-meo-c10a271658.html
Cách sờ nắn đơn giản phát hiện sớm ung thư vú
- 80-90% bệnh nhân ung thư vú phát hiện có khối u, khi ở giai đoạn 0-1 hoàn toàn có thể dùng tay sờ nắn để phát hiện.
Ung thư vú là một trong những loại ung thư phổ biến nhất ở nữ. Ung thư vú có thời kỳ "tiền lâm sàng" kéo dài tới 8-10 năm để từ một tế bào ung thư đầu tiên trở thành một khối u có đường kính 1cm (tương đương 1 tỉ tế bào). Do đó việc nhận biết sớm các triệu chứng và tự trang bị các kỹ năng "khám sàng lọc" vô cùng quan trọng.
Các dấu hiệu cảnh báo sớm của ung thư vú
Triệu chứng, dấu hiệu của ung thư vú rất đa dạng, thường không có biểu hiện đau nên phải dựa theo những dấu hiệu bất thường điển hình khác để phát hiện.
- Có khối u: 80-90% bệnh nhân ung thư vú có khối u và có thể sờ nắn được bằng tay khi kích thước từ 1cm trở lên.
- Tiết dịch núm vú: Khoảng 5% bệnh nhân ung thư vú có tiết dịch núm vú, nhất là khi có lẫn máu hoặc dịch hồng.
- Núm vú bị thụt vào trong: Núm vú bị tụt sâu, cứng, dùng tay kéo cũng không được.
- Nhăn bề mặt vú: Đây là triệu chứng gặp ở một số ít bệnh nhân. Khi ngực xuất hiện khối u sẽ phá vỡ cấu trúc da và tạo nên những nếp nhăn ở bên ngoài bề mặt vú.
Để tra xem, chỉ cần đứng trước gương, giơ cánh tay lên (bởi những nếp nhăn này không xuất hiện khi đưa tay xuống). Nếu thấy xuất hiện những nếp nhăn ở bất kỳ vị trí nào trên bề mặt vú thì cần phải đến gặp bác sĩ ung bướu càng sớm càng tốt.
- Viêm da vùng quanh vú: Da đỏ, phù dưới dạng da cam. Ngoài ra có thể bong da vảy nến, da sần sùi kèm nổi mẩn ngứa ở ngực.
- Hạch ở nách: Nếu có một khối u hoặc vết sưng đau dưới cánh tay kéo dài trong một tuần không rõ nguyên nhân, đó có thể là dấu hiệu ban đầu của ung thư vú.
Để phát hiện hạch có thể vuốt từ bầu ngực lên trên theo đường hõm nách, nếu có sẽ thấy hạch nổi lên ở hõm nách.
PGS.TS Trần Văn Thuấn, Phó giám đốc bệnh viện K lưu ý: Ung thư nói chung khi có biểu hiện đau thì bệnh đã ở giai đoạn muộn nhưng ung thư vú giai đoạn muộn cũng không đau, do đó nếu dựa vào biểu hiện này rất khó phát hiện.
Trường hợp ở giai đoạn muộn, khối u to xâm lấn da gây vỡ, chảy dịch, máu ra ngoải. Một số trường hợp di căn vào xương (gây đau xương vùng di căn), di căn phổi (ho ra máu, tức ngực)...
Tự phát hiện sớm ung thư vú
Đây có thể được coi là một việc quan trọng nhất cho tất cả phụ nữ đã bước vào tuổi trưởng thành.
Các chuyên gia khuyến cáo, từ tuổi 20, phụ nữ nên tự kiểm tra vú mỗi tháng 1 lần, ngay sau khi hết chu kỳ kinh nguyệt. Ngoài ra từ 40 trở lên, nên chụp X- quang tuyến vú mỗi năm 1-2 lần.
- Bước 1: Để tư thế xuôi 2 tay, quan sát các dấu hiệu dễ nhìn thấy như trên đã liệt kê.
- Bước 2: Đứng thẳng giơ 2 tay lên đầu, hơi đổ người về phía trước và quan sát sự bất thường của ngực như ở bước 1.
- Bước 3: Đưa 1 tay lên đầu, dùng 3 ngón tay trỏ, giữa, áp út của tay còn lại để xoa nắn vú, bắt đầu từ trong quầng vú, vừa ấn nhẹ vừa di chuyển "bước theo nhau" lần ra ngoài theo đường xoắn ốc hoặc thẳng hàng từ trên xuống dưới.
Nếu có vùng bất thường ở 1 bên, nên đối chiếu với bên còn lại xem có giống nhau không.
Tiếp tục đưa tay di chuyển, ấn nhẹ lên vùng hõm nách xem có hạch hoặc bất thường gì không.
Sau đó nắn nhẹ núm vú xem có chảy dịch bất thường không.
- Bước 4: Tự kiểm tra tương tự như bước 2 ở tư thế nằm có đệm gối hoặc khăn dưới vai.
Khi phát hiện có những bất thường cần đến ngay các cơ sở y tế khám để xác định chính xác nhất.
Chẩn đoán ung thư vú
Tự khám sàng lọc là bước quan trọng để phát hiện sớm ung thư vú nhưng để xác định chính xác căn bệnh này vẫn cần phải chẩn đoán theo "bộ ba" gồm: Khám lâm sàng: X quang tuyến vú và Chọc hút tế bào.
Khi cả 3 nghiệm pháp này đều cho kết quả dương tính thì ung thư vú được chẩn đoán xác định.
Nếu một trong ba yếu tố đó âm tính cần phải làm thêm các xét nghiệm khác và thường phải làm sinh thiết để khẳng định.
Nếu cả 3 yếu tố này đều âm tính khả năng ung thư là thấp, có thể để theo dõi tiếp.
Bài 4: Có thể sống bao lâu nếu mắc ung thư vú?
7 món ăn thường gặp phá hoại cơ thể khủng khiếp
Dù có yêu thích các món ăn sau đến đâu bạn cũng không nên ăn nhiều và tốt nhất là bỏ qua, nếu không muốn sức khỏe bị tàn phá.
1. Trái cây sấy khô
Thực sự rất khó để bạn tìm thấy các loại trái cây sấy khô không chứa các chất bảo quản. Cũng tương tự như các loại đồ uống đóng hộp, trái cây sấy khô chứa lượng đường cao gây ảnh hưởng không tốt tới nội tạng và da của bạn.
2. Bánh mì trắng
Loại bột mì trắng được sử dụng trong những chiếc bánh mì chúng ta thường ăn hàng sáng có thể gây ra các bệnh về tim mạch và tiểu đường tuýp II. Bạn nên thay thế các loại bánh mì trắng bằng bánh mì đen, tuy chúng đắt hơn nhưng sẽ giúp bạn đảm bảo sức khỏe tốt hơn.
3. Khoai tây chiên
Khoai tây chiên với hàm lượng tinh bột và dầu mỡ cao là nguyên nhân cho việc tăng cân khó kiểm soát cũng như chứng béo phì. Thêm vào đó, ăn nhiều loại thức ăn này cũng có thể khiến bạn gặp các vấn đề về tim mạch.
4. Thức ăn đóng gói
Các loại đồ ăn đóng gói như mì ăn liền, phở ăn liền hoặc các loại pate, thịt hộp chứa hàm lượng muối và chất béo cao. Chung sẽ khiến bạn cảm thấy khó tiêu đồng thời làm tăng lượng cholesterol xấu trong máu, tăng nguy cơ đột quỵ.
5. Bánh quy mặn
Một số người thường ăn bánh quy mặn thay cho bánh quy ngọt để giảm béo và tránh hấp thụ các loại đường nhân tạo. Tuy nhiên, "tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa", muối trong các loại bánh này làm áp lực máu tăng cao khiến bạn dễ mắc phải các bệnh liên quan đến huyết áp.
6. Gan lợn
Gan lợn chứa nhiều vitamin A và các nguyên tố vi lượng nhưng lượng độc tố trong loại thực phẩm này cũng không nhỏ. Chưa kể, nếu bạn chọn phải những miếng gan của con lợn bị viêm gan, sán,… bạn hoàn toàn có nguy cơ lây bệnh hoặc ngộ độc.
7. Thịt bò khô
Thịt bò khô với hàm lượng chất béo "cao ngất trời" là nhân tố gây tắc nghẽn động mạch trong cơ thể con người. Chưa kể, thịt bò khô thường rất dễ bị làm giả và làm bẩn gây ra hàng loạt các loại bệnh về đường tiêu hóa khác.
Ngoài ra, đồ ăn khi chế biến ở nhiệt độ cao, các vitamin trong thức ăn dễ bị phân hủy, đồng thời các thành phần trong dầu ăn khi phân hủy tạo thành khói bốc lên có chứa butadiene, tương tự khi nướng thức ăn trên bếp lửa mỡ chảy ra rơi xuống tạo mùi thơm nhưng thực chất đó là carbuahydro vòng không tốt cho cơ thể và đó chính là một trong các tác nhân gây ung thư nếu chúng ta thường xuyên hít phải.
Phòng chống dịch bệnh truyền nhiễm khi thời tiết nắng nóng
Theo dự báo của Trung tâm khí tượng thủy văn, thời tiết hiện nay nắng nóng xảy ra trên diện rộng tại các tỉnh miền Trung và phía Bắc, nhiệt độ phổ biến từ 36 – 39 độ C, có nơi trên 39 độ C.
Thời tiết nắng, nóng làm cơ thể ra mồ hôi nhiều, nếu không được bù nước đầy đủ sẽ gây mất nước, điện giải; đồng thời nếu bật quạt gió mạnh trực tiếp vào người hoặc để nhiệt độ điều hòa quá thấp dễ gây bị nhiễm lạnh; việc không đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm là nguyên nhân gây bệnh tiêu chảy cấp.
Ngoài ra môi trường nắng nóng là điều kiện rất thuận lợi cho các mầm bệnh phát triển, lây lan và gây bệnh như sốt do vi rút, bệnh đường hô hấp, bệnh đường tiêu hóa, bệnh viêm da do tụ cầu…
Để chủ động phòng bệnh, Bộ Y tế khuyến cáo người dân cần thực hiện tốt các biện pháp sau:
- Không để nhiệt độ điều hòa trong phòng quá thấp; không để quạt thổi trực tiếp gần vào người để phòng bệnh đường hô hấp.
- Thực hiện ăn chín, uống chín; đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm; uống đủ nước và tăng cường dinh dưỡng, tăng cường ăn hoa quả để đảm bảo đủ vitamin nhằm tăng sức đề kháng của cơ thể.
- Tăng cường vệ sinh cá nhân, thường xuyên rửa tay với xà phòng đặc biệt trước khi chế biến thức ăn, trước khi ăn, sau khi đi vệ sinh; vệ sinh mũi, họng hàng ngày bằng nước muối.
- Thường xuyên lau sạch các bề mặt, vật dụng tiếp xúc hằng ngày như đồ chơi, dụng cụ học tập, tay nắm cửa, tay vịn cầu thang, mặt bàn/ghế, sàn nhà bằng xà phòng hoặc các chất tẩy rửa thông thường.
- Sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh, chất thải của trẻ phải được thu gom, xử lý và đổ vào nhà tiêu hợp vệ sinh.
- Thực hiện các biện pháp diệt loăng quăng/bọ gậy; loại bỏ các vật liệu phế thải, các hốc nước tự nhiên không cho muỗi đẻ trứng như chai, lọ, mảnh chai, vỏ dừa, mảnh lu vỡ, lốp/vỏ xe cũ, hốc tre, bẹ lá...
http://tuoitre.vn/tin/can-biet/20160622/phong-chong-dich-benh-truyen-nhiem-khi-thoi-tiet-nang-nong/1122862.html
Fanpage
Youtube


















