Điểm báo điện tử ngày 7/12/20145
08/12/2015
0
Với sự đồng chủ trì của GS Barre Sinousi, người được giải thưởng Nobel Y học năm 2008 với công trình về HIV/AIDS, hội nghị khoa học quốc tế về HIV/AIDS do Bộ Y tế đã thu hút hơn 100 nhà khoa học quốc tế cùng gần 100 công trình nghiên cứu mới nhất về HIV. Đây là cơ hội cho các nhà khoa học trong nước và các học giả quốc tế chia sẻ các kết quả nghiên cứu, sáng kiến, mô hình can thiệp, cung cấp dịch vụ về phòng, chống HIV/AIDS.
HIV/AIDS tại Việt Nam là dịch tập trung. Tỷ lệ nhiễm HIV trong quần thể dân cư ở độ tuổi 15-49 là 0,26%, tuy nhiên, tỷ lệ này là 21% trong số 271.506 người tiêm chích ma túy (TCMT). Một nghiên cứu mới nhất chỉ ra, TCMT là nguồn chủ yếu gây ra lây nhiễm HIV ở Việt Nam và người TCMT chiếm tỷ lệ lớn nhất trong những trường hợp phát hiện nhiễm HIV.
40% người TCMT nam giới có quan hệ tình dục không bảo vệ với bạn tình thường xuyên trong 12 tháng, cho thấy bạn tình của người TCMT có nguy cơ cao nhiễm HIV, trong khi rất ít bạn tình nữ của người TCMT đã xét nhiệm HIV. Con số nhiễm HIV trong nhóm bạn tình nữ của người TCMT nói chung là cao, tới 5%. Tỷ lệ nhiễm HIV cao hơn rất nhiều (16% HIV) trong những bạn tình nữ của người TCMT và tỷ lệ này cũng cao hơn rất nhiều (17,7% HIV) trong những bạn tình nữ của người TCMT có nhiễm HIV.
Trước đây, đã có nhiều nghiên cứu về quan hệ tình dục đồng giới nam ở Việt Nam, nhưng thường tập trung tìm hiểu hành vi nguy cơ, còn vấn đề sức khỏe tâm thần và mối liên quan với các hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV trong nhóm này chưa được quan tâm. Nghiên cứu khoa học của nhóm tác giả Trường ĐH Y Hà Nội và Trung tâm CARMAH đã cho thấy thực trạng trầm cảm, lo âu và một số yếu tố liên quan ở nam bán dâm đồng giới tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh năm 2015 là có thật: Tỷ lệ đối tượng có các vấn đề sức khỏe tâm thần khá cao, như stress chiếm 31%, trầm cảm 49,1%, lo âu 57,7%.
Cũng cần lưu ý tính vùng miền khi điều này ở TP Hồ Chí Minh cao hơn hẳn Hà Nội. Các hành vi có nguy cơ lây nhiễm HIV như sử dụng, tiêm chích, dùng chung bơm kim tiêm khi TCMT, không sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục và bị bạo lực tình dục là các yếu tố liên quan với trầm cảm, lo âu và stress.
Lần đầu tiên, Việt Nam đã có một nghiên cứu với nhóm phụ nữ chuyển giới do nhóm tác giả Lê Quốc Bảo thực hiện. Việc nghiên cứu này đã chỉ ra nguy cơ lây nhiễm HIV cao từ những người phụ nữ chuyển giới, bởi họ chịu nhiều tác động của sự kỳ thị, phân biệt đối xử và bạo lực. Hành vi tình dục nguy cơ cao khá phổ biến khi 35% số người này cho biết có mua bán tình dục và 31% không thường xuyên sử dụng bao cao su với khách hàng và bạn tình bất chợt. 99,5% đã từng có quan hệ tình dục với nam và 3,4% đã từng có quan hệ với nữ. Tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm phụ nữ chuyển giới được nghiên cứu là 18%, giang mai là 17,6%. Nhưng chỉ một người trong số những người có HIV biết trước tình trạng nhiễm của mình.
Thực tế này chỉ ra, phụ nữ chuyển giới có hành vi nguy cơ và có tỷ lệ nhiễm HIV cao, nhưng lại chưa có chương trình dự phòng HIV riêng cho nhóm này. Các chương trình can thiệp với nhóm đồng tính nam có thể chưa thu hút được sự tham gia của phụ nữ chuyển giới. Vì vậy, nghiên cứu đã chỉ ra việc cần có các can thiệp về dự phòng, tư vấn, xét nghiệm HIV, sàng lọc và điều trị tập trung vào nhóm phụ nữ chuyển giới tại Việt Nam.
Các nhà nghiên cứu của Viện Pasteur Nha Trang và Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS tỉnh Khánh Hòa cũng chỉ ra ảnh hưởng của kỳ thị và phân biệt đối xử tác động xấu đến cả thể chất và tinh thần của người nhiễm: tỷ lệ người nhiễm có ý định tự tử chiếm 10% và 72,5% đối tượng trả lời không tiếp cận các phòng tư vấn xét nghiệm HIV tự nguyện vì sợ bị kỳ thị; 16,7% đối tượng không thể tiếp cận với điều trị kháng virus HIV vì lý do sợ kỳ thị. Có 4,5% người nhiễm bị xâm phạm quyền, 3% người nhiễm bị ruồng bỏ, xa lánh, 8% bị từ chối tham gia các hoạt động trong cộng đồng. Hiện nay, thực trạng kỳ thị và phân biệt đối xử với người nhiễm HIV diễn ra không chỉ tại Khánh Hòa và chính điều này gây khó khăn cho công tác ngăn chặn đại dịch HIV/AIDS ở Việt Nam.
Mặc dù ở Việt Nam ít nói đến tình trạng nam bán dâm đồng giới. Nhưng những nghiên cứu mới nhất cho thấy, những người đồng tính nam bán dâm có nguy cơ nhiễm HIV và bệnh lây truyền đường tình dục cao. Vì thế, các chương trình truyền thông HIV/AIDS cần tập trung vào những người ít và chưa tiếp cận thông tin về HIV/AIDS và bệnh lây truyền đường tình dục.
Nghiên cứu chỉ số kỳ thị với người có HIV do mạng lưới quốc gia người sống với HIV Việt Nam thực hiện cho thấy, đã có những thay đổi tích cực kể từ năm 2011, bao gồm quyền của người có HIV bị vi phạm đã giảm. Tuy nhiên, kỳ thị và phân biệt đối xử với người có HIV vẫn còn cao, dưới nhiều hình thức và ở các lĩnh vực khác nhau như kỳ thị của cộng đồng (23,3%) vẫn bị xì xào kỳ thị, 5,8% bị xúc phạm và phân biệt đối xử ở nơi làm việc khi vẫn có những người bị mất việc làm, hay bị từ chối việc làm.
Ở cơ sở y tế, nhiều người có HIV mới được chẩn đoán gần đây cho biết, họ bị buộc phải làm xét nghiệm HIV và rất nhiều người nói tình trạng nhiễm HIV của họ đã bị tiết lộ cho người khác mà họ không biết. 63,7% có HIV mới được chẩn đoán gần đây không bộc lộ tình trạng nhiễm HIV của mình với bạn tình vì họ sợ bị kỳ thị và phân biệt đối xử. Những người đồng tính nam sống với HIV bị kỳ thị và phân biệt đối xử cao hơn so với các nhóm nguy cơ cao khác. Vì thế, khoảng 29,6% cảm thấy muốn tự tử, khi 15,7% bị bạn tình kỳ thị và 14,1% bị gia đình kỳ thị.
Thực trạng này chỉ ra rằng, kỳ thị và phân biệt đối xử vẫn là những rào cản chính để Việt Nam có thể đạt được mục tiêu 90-90-90 đến năm 2020, nghĩa là 90% số người biết được tình trạng nhiễm HIV của mình, 90% số người nhiễm HIV được điều trị thuốc ARV và 90% số người điều trị ARV có tải lượng virus thấp và ổn định.
http://petrotimes.vn/gop-phan-ngan-chan-dai-dich-357366.html
Tìm ra kháng sinh mới điều trị ho gà ở trẻ sơ sinh
Bạn sẽ không cần phải hoảng sợ hoặc lo lắng với tình trạng ho gà của con nữa.
Các nhà nghiên cứu đã phát triển hai loại kháng sinh có khả năng điều trị hoặc phòng ngừa chứng ho lâu ngày, loại nhiễm trùng đường hô hấp lây nhiễm cao có thể ảnh hưởng tới hàng triệu trẻ sơ sinh và khiến khoảng 200.000 trẻ tử vong mỗi năm.
Thường được gọi là ho gà, căn bệnh này gây ra các cơn ho gây dữ dội và triệu chứng đe dọa tính mạng ở trẻ sơ sinh và có phạm vi ảnh hưởng trên toàn thế giới.
Trong 5 năm qua, một nhóm các nhà nghiên cứu đã phát triển hai loại kháng thể dưới dạng thuốc tiêm mới chống ho kéo dài. Các nhà nghiên cứu đã thực hiện một thử nghiệm tiền lâm sàng trên động vật và chứng minh rằng những kháng thể này hoạt động như một loại thuốc dự phòng mang đến miễn dịch ngắn hạn và một phương pháp điều trị để nhanh chóng phục hồi.
Hàng năm có hơn 16 triệu trường hợp bị ho kéo dài và bệnh này là một nguyên nhân chính gây tử vong ở sơ sinh tại các nước đang phát triển.
Các kháng sinh thường không hiệu quả trong những trường hợp ho kéo dài nặng và không có liệu pháp đặc hiệu để điều trị hoặc dự phòng nó ở trẻ sơ sinh dễ bị tấn công mà còn quá nhỏ chưa đủ tuổi tiêm chủng. Nghiên cứu này đã mở ra hi vọng mới.
Bằng cách trung hòa độc tố ho gà, các kháng thể được hi vọng là tăng cường miễn dịch và giảm nhanh chóng số lượng tế bào bạch cầu.
Theo tác giả, chìa khóa để phòng tránh tử vong là giảm tải lượng tế bào bạch cầu vốn thường tăng rất cao khi bị nhiễm trùng. Là phương pháp điều trị, liệu pháp này có thể được thử nghiệm ở những trẻ bị bệnh ho gà nặng để rút ngắn liệu trình điều trị, giảm nhẹ các biến chứng và giảm tỷ lệ tử vong.
Khi dùng để dự phòng, liệu pháp này có khả năng mang đến sự bảo vệ kháng thể ho gà ngay lập tức cho những trẻ sơ sinh có nguy cơ ở các nước đang phát triển trong một vài tháng đầu đời.
http://giaoducthoidai.vn/suc-khoe/tim-ra-khang-sinh-moi-dieu-tri-ho-ga-o-tre-so-sinh-1495600-l.html
Không hành động hôm nay, ngày mai không còn thuốc chữa
- Đây là khẩu hiệu mà Tổ chức Y tế thế giới đã lấy để kêu gọi các nước cùng chung tay phòng chống kháng thuốc trong đó có Việt Nam.
Sự ra đời của kháng sinh đã đánh dấu kỷ nguyên phát triển mới của y học về điều trị các bệnh nhiễm khuẩn. Sử dụng kháng sinh không chỉ có lợi ích to lớn trong điều trị, chăm sóc người bệnh mà còn được sử dụng trong chăn nuôi gia súc, gia cầm, thủy sản và trồng trọt để điều trị, phòng chống dịch bệnh trên động vật, cũng như cho mục đích sản xuất.
Tuy nhiên, những loại thuốc này đã được sử dụng rộng rãi, kéo dài, lạm dụng, làm cho các vi sinh vật thích nghi với thuốc, tạo điều kiện cho nhiều loại vi khuẩn trở nên kháng thuốc, làm cho thuốc kém hiệu quả hoặc mất hiệu quả.
Hậu quả khó lường
PGS.TS Lương Ngọc Khuê - Cục trưởng Cục quản lý Khám, chữa bệnh cho biết, tình trạng kháng thuốc không chỉ là mối lo ngại của các bác sỹ lâm sàng trong điều trị mà còn là mối quan tâm chung của toàn xã hội đối với sức khỏe cộng đồng. Kháng thuốc không phải là vấn đề mới, nhưng đã trở nên nguy hiểm, cấp bách, đòi hỏi phải có sự nỗ lực tổng hợp nhằm giúp nhân loại tránh khỏi nguy cơ quay trở lại thời kỳ chưa có kháng sinh. Kháng thuốc ngày nay là vấn đề toàn cầu, đặc biệt nổi trội ở các nước đang phát triển, thế giới mỗi năm có hàng trăm ngàn người chết do kháng thuốc và phải chi phí hàng trăm tỷ USD cho kháng thuốc.
Theo báo cáo năm 2013 của World Crisis trung bình mỗi nước mất từ 04-1,6% GDP quốc gia cho phòng chống kháng thuốc. Hiện nay, nhiều chủng vi khuẩn đã kháng nhiều loại kháng sinh kể cả kháng sinh thế hệ mới. Trong khi đó, việc phát triển các kháng sinh mới đã chững lại từ hơn 30 năm nay và chỉ có một vài kháng sinh mới ra đời, trong khi tỷ lệ kháng của vi khuẩn ngày càng gia tăng. Đó là lý do tại sao Tổ chức Y tế thế giới (WHO) và các cơ quan quốc tế khác chỉ ra rằng kháng kháng sinh là một mối đe dọa nghiêm trọng, thách thức đối với điều trị trong tương lai.
PGS.TS Lương Ngọc Khuê cho biết, ở Việt Nam, hầu hết các cơ sở khám, chữa bệnh đang phải đối mặt với tốc độ lan rộng các vi khuẩn kháng với nhiều loại kháng sinh. Mức độ và tốc độ kháng thuốc ngày càng gia tăng, đang ở mức báo động. Gánh nặng do kháng thuốc ngày càng tăng do chi phí điều trị tăng lên, ngày điều trị kéo dài, ảnh hưởng đến sức khỏe người bệnh, cộng đồng và sự phát triển chung của xã hội.
Tổ chức Y tế Thế giới nhận định, chúng ta đang sống trong kỷ nguyên phụ thuộc kháng sinh và yêu cầu toàn cầu có trách nhiệm bảo vệ nguồn thuốc kháng sinh quý giá cho thế hệ sau.Trong tương lai, các quốc gia có thể phải đối mặt với khả năng không có thuốc để điều trị hiệu quả các bệnh truyền nhiễm nếu không có các biện pháp can thiệp phù hợp. Nếu không có những giải pháp mạnh mẽ dự kiến đến năm 2050 sẽ có 10 triệu người tử vong do kháng thuốc mỗi năm.
Sử dụng kháng sinh tùy tiện
Ngay từ khi kháng sinh ra đời đã xuất hiện tình trạng kháng thuốc. Tuy nhiên ở Việt Nam tình trạng kháng thuốc diễn ra trầm trọng hơn do việc sử dụng kháng sinh tùy tiện khi không có đơn của bác sỹ, người dân có thể tự ý mua kháng sinh ở các hiệu thuốc. Không ít dược sỹ bán thuốc không đúng quy định, các bác sỹ điều trị kê đơn thuốc lạm dụng kháng sinh, chỉ định kháng sinh không phù hợp hoặc sử dụng kháng sinh đắt tiền, thế hệ mới. Bên cạnh đó việc sử dụng kháng sinh sử dụng rộng rãi, kéo dài, lạm dụng trong chăn nuôi gia súc, gia cầm, thủy sản và trồng trọt để điều trị, phòng chống dịch bệnh trên động vật, cũng như cho mục đích sản xuất đã làm cho các vi sinh vật thích nghi với thuốc, tạo điều kiện cho nhiều loại vi khuẩn trở thành kháng thuốc, làm cho thuốc kém hiệu quả hoặc không hiệu quả.
Như trong lĩnh vực phòng chống và điều trị lao, theo đánh giá của Tổ chức Y tế Thế giới, ở Việt Nam, dịch tễ lao còn diễn biến phức tạp. Việt Nam vẫn đứng thứ 12 trong 22 nước có số người bệnh lao cao và đứng thứ 14 trong số 27 nước có gánh nặng bệnh lao kháng đa thuốc.Tỷ lệ lao kháng đa thuốc là 2,7% trong số bệnh nhân lao mới (khoảng 4800 bệnh nhân) và chiếm 19% trong số bệnh nhân lao điều trị lại (khoảng 3400 bệnh nhân). Chi phí điều trị người bệnh lao kháng đa thuốc tăng lên hàng trăm lần so với người bệnh lao không kháng thuốc và thậm chí không thể điều trị được ở một số trường hợp. Hơn nữa mỗi năm có khoảng 350 người bệnh lao phổi mạn tính và hầu hết trong số đó là lao phổi kháng đa thuốc làm nặng hơn tình trạng kháng thuốc hiện nay.
Nguyên nhân vi khuẩn lao kháng thuốc có thể là do vi khuẩn tự biến đổi để tồn tại; do người bệnh không tuân thủ đúng phác đồ điều trị, tự ý ngừng thuốc, giảm liều…; do môi trường ô nhiễm, do khạc nhổ, xả rác bừa bãi nơi công cộng… Đây là những yếu tố khiến Việt Nam có số người mắc lao và bị kháng thuốc cao… Đáng báo động ở Việt Nam đã xuất hiện vi khuẩn kháng thuốc, mức độ kháng ngày càng gia tăng. Tỷ lệ kháng với kháng sinh carbapenem, nhóm kháng sinh mạnh nhất hiện nay lên đến 30%, đặc biệt là các vi khuẩn gram âm. Việt Nam ghi nhận không chỉ một mà vài loại siêu vi khuẩn kháng lại mọi loại thuốc kháng sinh. Phổ biến nhất là nhóm vi khuẩn gram âm đường ruột. Tổ chức Y tế thế giới xếp Việt Nam vào danh sách các nước có tỷ lệ kháng thuốc kháng sinh cao nhất thế giới.
http://vnmedia.vn/suc-khoe/201512/khong-hanh-dong-hom-nay-ngay-mai-khong-con-thuoc-chua-512496/
Dùng kháng sinh “chuẩn” theo dược sĩ để con không nhờn thuốc
Để cho trẻ dùng kháng sinh đúng cách, các mẹ nhất thiết phải biết liều lượng cũng như cực kỳ thận trọng khi sử dụng nhằm tránh gây ra hiện tượng nhờn kháng sinh.
Là một chuyên gia có kinh nghiệm nhiều năm trong nghề được, Ds. Phan Thị Vân Anh, hiện công tác tại Đại Bắc Group (Số 11, đường số 4, KCN Sài Đồng B, Long Biên, Hà Nội) sẽ cung cấp cho độc giả những thông tin cần thiết và lời khuyên hữu ích về vấn đề dùng kháng sinh đúng cách, cũng như cách phòng tránh tình trạng nhờn thuốc kháng sinh cho trẻ.
Thuốc kháng sinh là gì?
Hiểu một cách nôm na, thuốc kháng sinh thực chất là những hợp chất được tổng hợp ly trích từ các vi sinh vật như vi nấm. Chúng có tác dụng ức chế sự phát triển hoặc tiêu diệt các vi khuẩn gây bệnh nào đó cho cơ thể.
Những viên thuốc kháng sinh này có tác dụng rất tốt để chữa bệnh nếu được sử dụng đúng theo chỉ định, hướng dẫn của bác sĩ điều trị. Ngược lại, nếu sử dụng không đúng cách, chúng sẽ gây nhiều tác hại khôn lường nguy hại đến sức khỏe của trẻ.
Kháng sinh cho trẻ khác với thuốc kháng sinh cho người lớn
Do mỗi đối tượng có độ tuổi khác nhau, thể lực khác nhau, tâm sinh lý khách nhau nên liều lượng thuốc được bào chế khác nhau. Phụ huynh cần lưu ý trẻ em không phải là người lớn thu nhỏ. Bởi thế, không nên cho rằng người lớn dùng gì thì trẻ em dùng nấy, chỉ cần bớt liều đi. Khi trẻ ốm và phải dùng tới kháng sinh, mẹ nhất thiết phải cho con đi khám bác sĩ. Tuyệt đối không tự ý cho trẻ dùng kháng sinh hoặc điều trị theo sự mách nước của những người không có chuyên môn.
Khi nào thì cần uống thuốc kháng sinh?
Thuốc kháng sinh chỉ được dùng để điều trị bệnh nhiễm khuẩn chứ không trị được những bệnh nhiễm virus (cảm cúm). Một số những bệnh nhiễm khuẩn thường gặp như: viêm nhiễm tai mũi họng, viêm nhiễm đường hô hấp, viêm đường tiết niệu, nhiễm trùng da…
Khi nào không cần phải uống thuốc kháng sinh?
Có nhiều cha mẹ trẻ, thậm chí cả bác sĩ dù biết rõ thuốc kháng sinh không thể tiêu diệt được virus nhưng vẫn lạm dụng kê đơn hoặc sử dụng.
Song dù với bất cứ lý do gì, bạn cũng không nên lạm dụng kháng sinh. Chỉ dùng thuốc kháng sinh khi chữa các bệnh do vi khuẩn gây ra. Còn các trường hợp bệnh do nhiễm virus, tuyệt đối không dùng.
Vì sao xảy ra tình trạng nhờn thuốc kháng sinh ở trẻ?
Theo các số liệu thống kê, Việt Nam thuộc 1 trong các quốc gia đứng hàng đầu về tỷ lệ kháng kháng sinh. Lạm dụng kháng sinh là một vấn đề vô cùng nhức nhối được lên tiếng trong khoảng chục năm trở lại đây. Đó chính là nguyên nhân lớn nhất dẫn đến tình trạng kháng thuốc hay nhờn thuốc kháng sinh ở trẻ em.
Một tỷ lệ vô cùng lớn trẻ nhỏ đang được sử dụng kháng sinh trong các trường hợp không cần thiết, đặc biệt lạm dụng để xử lý các tình huống ho, sổ mũi, sốt, viêm họng...
Bên cạnh đó, việc dùng không đủ liều, ngừng thuốc giữa chừng không chỉ làm bệnh của trẻ không khỏi mà có thể nghiêm trọng hơn, làm các vi khuẩn đang có sẵn trong người bé trở thành kháng thuốc, khi bắt đầu điều trị lại, thường các bé sẽ phải sử dụng loại kháng sinh nặng hơn.
Hậu quả của tình trạng nhờn thuốc kháng sinh ở trẻ nghiêm trọng đến mức nào?
Một vấn đề hiện hữu bên cạnh chúng ta hàng ngày mà đi đến đâu chúng ta cũng có thể bắt gặp là hình ảnh của những ông bố bà mẹ nay đưa con chữa trị chỗ này, mai đưa con chữa trị chỗ khác mà vẫn không điều trị được những vấn đề tưởng như hết sức đơn giản như ho, sổ mũi, viêm họng… Đó chính là hậu quả xảy ra khi kháng sinh bị đề kháng đã không còn tác dụng điều trị ngay cả với những bệnh lý đơn giản. Hậu quả của kháng kháng sinh sẽ là vô cùng nghiêm trọng nếu trẻ mắc phải những căn bệnh nguy hiểm như viêm phổi, viêm tai giữa, viêm màng não,..
Vào thời điểm giao mùa chuyển lạnh, trẻ rất dễ bị nhiễm virus sốt, cảm cúm, bố mẹ nên chăm sóc con thế nào? Có nên dùng kháng sinh hay không?
Trong thời tiết giao mùa, bố mẹ cần chú ý phòng bệnh cho con bằng cách:
– Giữ ấm cho trẻ, nhất là về đêm. Hạn chế để trẻ ăn các thức ăn quá lạnh
– Tránh để trẻ tiếp xúc với môi trường ô nhiễm hay người bệnh.
– Luôn giữ không khí trong nhà thoáng mát, sạch sẽ.
Bố mẹ tuyêt đối không tự ý sử dụng kháng sinh cho con trong bất kỳ trường hợp nào. Khi trẻ mới chớm những dấu hiệu của bệnh, bố mẹ có thể thực hiện các biện pháp vệ sinh mũi, miệng, họng cho con bằng nước muối sinh lý, hỏi ý kiến thầy thuốc trước khi sử dụng bất kỳ thuốc gì.
Lời khuyên cho bố mẹ để dùng kháng sinh đúng cách, tránh tình trạng nhờn thuốc
– Không lạm dụng kháng sinh
Khi trẻ bị viêm mũi, viêm hầu họng, nhưng chỉ bị nhiễm siêu vi và chưa có biến chứng thì dùng kháng sinh không những không có tác dụng mà còn có thể gây tình trạng đề kháng kháng sinh về sau.
– Phải sử dụng kháng sinh theo đơn
Kháng sinh thuộc nhóm thuốc kê đơn (tức là phải được dùng theo đơn bác sỹ hoặc dược sỹ). Việc sử dụng kháng sinh theo đơn nghĩa là phụ huynh cần cho trẻ uống thuốc đúng liều, đủ liều và đủ thời gian. Không tự ý giảm liều, hoặc dừng thuốc khi triệu chứng của trẻ đã giảm bớt.
Phụ huynh nên làm gì khi trẻ đã bị kháng kháng sinh?
Khi trẻ đã bị kháng thuốc, trước hết phụ huynh cần sao sát hơn trong việc phòng bệnh cho trẻ, như bổ sung vitamin để tăng sức đề kháng, dinh dưỡng tốt cho trẻ để nâng cao thể trạng. Chú ý những lúc giao mùa, áp dụng các biện pháp không dùng kháng sinh khi con chớm có biểu hiện mắc bệnh.
Khi trẻ đã mắc bệnh, cha mẹ hãy bình tĩnh đưa con đi khám và tuân thủ điều trị, nên thông báo cho bác sỹ điều trị tiền sử bệnh và lịch sử dùng thuốc kháng sinh của trẻ để bác sỹ cân nhắc thêm khi kê đơn.
Là một trang web dành cho phụ nữ, DECA hiểu rằng hơn tất cả, con là điều vô cùng quý giá đối với bất kỳ một người mẹ nào. Đó là lý do, chúng tôi đã thực hiện buổi trò chuyện này với Ds. Phan Thị Vân Anh như một sự sẻ chia với nỗi lo của người phụ nữ trên hành trình nuôi dạy trẻ. Với những kiến thức được cung cấp trong bài viết, hy vọng các bạn sẽ hiểu hơn về vấn đề dùng kháng sinh đúng cách cho trẻ và có cách chăm sóc con tốt nhất. Xin gửi lời chúc sức khỏe và niềm vui đến với mọi gia đình!
http://eva.vn/lam-me/dung-khang-sinh-chuan-theo-duoc-si-de-con-khong-nhon-thuoc-c10a246314.html
Thực phẩm "bẩn": Bán trước, phạt sau
- Nhiều lô hàng rau củ, thịt cá... tới khi cơ quan chức năng phát hiện có tồn dư chất bảo vệ thực vật, tạo nạc... thì đã vào bụng người tiêu dùng.
Phát hiện chỉ để...phạt
Từ đầu năm đến nay, Chi cục BVTV TP.HCM phát hiện tám mẫu rau, củ quả có dư lượng thuốc BVTV vượt giới hạn cho phép. Các mẫu vi phạm ở cả vùng sản xuất, cơ sở chế biến lẫn chợ đầu mối. Cụ thể, tại vùng sản xuất, cơ quan này kiểm tra 200 hộ nông dân, lấy 33 mẫu gửi phân tích định lượng thì có ba mẫu có dư lượng vượt ngưỡng cho phép.
Trong đó có một mẫu cải xanh đang thu hoạch tại xã Tân Quý Tây, huyện Bình Chánh tồn dư hoạt chất chlorpyrifos với hàm lượng 4,78mg/kg trong khi giới hạn tối đa của hoạt chất này chỉ là 2mg/kg; một mẫu rau dền cũng tại xã này phát hiện hoạt chất deltamethrin hàm lượng 0,6224mg/kg cao hơn giới hạn tối đa là 0,5mg/kg; một mẫu rau mồng tơi khác cũng có chất deltamethrin hàm lượng 0,6224mg/kg trong khi quy định tối đa cho loại rau này là 2mg/ kg…
Chất chlorpyrifos từng được nghiên cứu có tác hại làm giảm testosterone ở nam giới, gây vô sinh và sẩy thai ở nữ giới, deltamethrin cũng là một hóa chất diệt côn trùng. Dù độc hại, và phát hiện trong các loại rau ăn phổ biến hàng ngày nhưng mức xử phạt chỉ... 130.000đ.
Tại ba chợ đầu mối nông sản của TP.HCM, sau khi lấy 288 mẫu rau, quả, trái cây bằng phương pháp định lượng, cơ quan chức năng đã phát hiện bốn mẫu có dư lượng thuốc BVTV. Trong đó, một mẫu cải thìa tại chợ đầu mối Hóc Môn được đưa từ Tiền Giang về có tồn dư hoạt chất chlorpyrifos với hàm lượng 2,21mg/kg, cao hơn gấp đôi so với giới hạn cho phép (1mg/kg); một mẫu xà lách búp có nguồn gốc từ Lâm Đồng đưa về chợ Bình Điền tồn dư permethrin với hàm lượng 2,17mg cao hơn mức 2mg/kg cho phép.
Ngay cả ớt hiểm cũng bị phát hiện tồn dư vượt ngưỡng khi mẫu kiểm tra tại chợ Hóc Môn có chất permethrine hàm lượng 3,06mg/kg (mức giới hạn cho phép tồn dư của hoạt chất này là 1mg/kg).
Riêng đối với mặt hàng trái cây nhập khẩu từ Trung Quốc, cơ quan kiểm dịch thực vật của TP.HCM chỉ phát hiện một mẫu chứa hoạt chất carbendazin với hàm lượng 0,36mg/kg, cao hơn mức giới hạn 0,2mg/kg. Carbendazin là hoạt chất bảo quản trái cây nếu dùng vượt ngưỡng cho phép có thể gây vô sinh và nguy hại sức khỏe…
Với bốn mẫu tồn dư tại các chợ đầu mối, mức xử phạt cũng chỉ là một triệu đồng. Điều đáng ngại hơn, những mẫu rau, củ quả khi bị phát hiện tồn dư sau khi xử phạt hành chính, vẫn được bán ra thị trường.
Giải thích điều này, ông Dương Đức Trọng, Chi cục trưởng Chi cục BVTV TP.HCM cho hay, do chưa có quy định tạm giữ lô hàng. Có khi phải cả tuần mới có kết quả chính xác lượng thuốc BVTV tồn dư. Nếu giữ lô rau đó trong một tuần thì rau đã hư, nếu rau không vi phạm hàm lượng chất cấm, cơ quan thu giữ sẽ phải đền cho tiểu thương. Đó là lý do hầu hết các cơ quan đều có tâm lý “sợ phải đền”.
Mức phạt như "muỗi đốt sắt"
Không chỉ rau, củ quả, những mặt hàng tươi sống khác như thịt, thủy hải sản cũng gặp tình cảnh tương tự. Các mẫu thịt lấy tại các chợ đầu mối, nếu có dương tính với chất cấm cũng khó có thể tạm giữ do đây là thực phẩm tươi sống, bán ngay trong ngày.
Ông Phan Xuân Thảo, Chi cục trưởng Chi cục Thú y TP.HCM cho biết, với những lô hàng có giá trị năm, bảy triệu đồng mà khả nghi mức tồn dư vượt ngưỡng thì cán bộ thú y mới dám tạm giữ chứ lượng lớn hơn thì không thể.
Heo sống tại lò mổ nếu lưu giữ sáu-bảy ngày đợi kết quả xét nghiệm thì lúc này sức đề kháng của heo đã giảm, điều kiện vệ sinh tại lò mổ lại không đảm bảo, khiến heo dễ mắc bệnh, mà heo chết thì lực lượng thú y phải chịu trách nhiệm.
Với thịt heo ngoài chợ, dù kết quả kiểm tra nhanh dương tính với chất cấm cũng không thể thu giữ và bảo quản trong kho lạnh, vì khi có kết quả cuối cùng mà chất cấm không vượt ngưỡng thì tiểu thương cũng chẳng bán được vì lúc này hàng đã thành thịt đông lạnh.
http://phunuonline.com.vn/mua-sam/thi-truong/thuc-pham-ban-ban-truoc-phat-sau-65689/
Chế độ ăn hợp lý sau phẫu thuật trĩ
au phẫu thuật bệnh trĩ, cần có chế độ ăn theo nguyên tắc hợp lý với các loại thức ăn dễ tiêu, thức ăn nhẹ, tăng nhiều rau bổ sung chất sơ.
Sau khi mổ, bạn nên ăn đủ lượng, đủ chất, dễ tiêu, giúp cho thức ăn lưu thông tốt trong ống tiêu hóa và không làm rối loạn tiêu hóa hay nhiễm khuẩn tiêu hóa. Bạn cũng cần tránh lạm dụng một số thức ăn như khoai lang, bột sắn dây… theo dân gian là “nhuận tràng” song thực chất dễ gây phù niêm mạc đường tiêu hóa. Không nên uống các loại nước rau tươi như rau má, nước nhọ nồi trong những ngày này vì dễ gây nhiễm khuẩn, nhiễm độc đường tiêu hóa. Cụ thể bạn phải có chế độ ăn khắt khe trong những ngày đầu sau mổ.
Ngày đầu sau mổ
Ăn nhẹ bằng cháo hoặc súp, uống nhiều nước (từ 2 lít trở lên). Không uống bia, rượu vì nguy cơ làm giãn mạch, chảy máu vết mổ. Nói chung cần kiêng bia rượu trong suốt thời kỳ hậu phẫu. Không ăn hoa quả và những thức ăn đồ uống dễ sinh hơi vì những ngày đầu sau mổ do tác dụng phụ của gây mê mà nhu động ruột còn kém, dễ gây chướng bụng.
Ngày thứ hai sau mổ
Ăn cơm bình thường và cần tăng lượng rau các loại (chất xơ) vì như vậy sẽ giúp cho thức ăn lưu thông trong ruột dễ dàng hơn. Tuy nhiên, nếu bệnh nhân chưa đại tiện cần báo bác sĩ khám và chỉ định thuốc nhuận tràng để giúp người bệnh đại tiện vào ngày hôm sau (ngày thứ 3 sau mổ) là hợp lý nhất.
Ngày thứ ba sau mổ trở đi
Chế độ ăn gần như người bình thường nhưng cũng vẫn cần tuân theo những nguyên tắc đã nói ở trên.
Sau khi phẫu thuật khả năng tái phát bệnh khá là cao khoảng 50-60%. Do vậy việc sử dụng một đợt thuốc tiêu trĩ Safinar giúp ngăn ngừa bệnh tái phát trở lại là rất cần thiết.
http://news.zing.vn/Che-do-an-hop-ly-sau-phau-thuat-tri-post602656.html
Fanpage
Youtube


















