Điểm báo điện tử ngày 19/3/2018
20/03/2018
0
Ánh sáng xanh ảnh hưởng sức khoẻ như thế nào?
Các nghiên cứu lâm sàng cho thấy tiếp xúc quá nhiều với ánh sáng xanh có thể làm ảnh hưởng đến các tế bào nhạy cảm ánh sáng ở võng mạc, gây ra thoái hóa hoàng điểm, dẫn đến mất thị lực vĩnh viễn. Hơn nữa, ánh sáng xanh còn góp phần gây khô mắt vì nó có năng lượng cao nhất so với các bước sóng ánh sáng khả kiến khác.
Ánh sáng xanh có từ đâu?
Mặt trời là nguồn sáng chính chứa ánh sáng xanh. Ở ngoài trời cả ngày là lúc chúng ta tiếp xúc với ánh sáng xanh nhiều nhất. Tuy nhiên, trong nhịp sống “không có màn đêm” của các thành phố “không ngủ” như hiện nay, các thiết bị do con người tạo ra cũng không ngừng phát ra tia sáng xanh mà chúng ta không hề chú ý tới; đó là các thiết bị chiếu sáng rất quen thuộc như: đèn huỳnh quang – một trong những thiết bị chiếu sáng trong nhà chủ yếu của mọi gia đình; đèn LED – thành phần không thể thiếu của các thiết bị điện tử có thể phát sáng mà chúng ta sử dụng hằng ngày như màn hình máy tính, điện thoại thông minh, TV màn hình phẳng..v..v
Lượng ánh sáng xanh phát ra bởi các thiết bị nhân tạo không đáng kể như lượng ánh xanh có trong bức xạ mặt trời. Tuy nhiên, thời gian và khoảng cách mà con người tiếp xúc trực tiếp với các màn hình điện tử khiến cho các bác sĩ mắt và nhà chăm sóc sức khỏe lo ngại về những ảnh hưởng lâu dài đến sức khỏe con người do chúng gây ra.
Khi con người tiếp xúc với nguồn bức xạ khổng lồ một cách dễ dàng lại chính là một nguy cơ tiềm ẩn. Bởi vì, về đêm, ánh sáng phá vỡ nhịp điệu sinh học trong cơ thể chúng ta (chu kì ngày-đêm, chu kỳ giấc ngủ và thời gian tỉnh táo), giấc ngủ bị ảnh hưởng và tệ hơn nữa, các cuộc nghiên cứu cho thấy rằng đây còn là nguyên nhân làm tăng nguy cơ mắc các bệnh ung thư, tiểu đường, bệnh tim mạch, béo phì và sự thoái hóa sớm của đôi mắt.
Các ánh sáng có màu sắc khác nhau gây ra các ảnh hưởng khác nhau. Sóng ánh sáng xanh – loại ánh sáng rất có lợi vào ban ngày, lại là kẻ gây hại nguy hiểm vào ban đêm. Sự phổ biến của các màn hình phát sáng (màn hình điện thoại, máy tính,…) cũng như các bóng đèn tiết kiệm năng lượng đang tăng dần nguy cơ con người tiếp xúc với ánh sáng xanh, đặc biệt là vào ban đêm.
Có phải ánh sáng xanh lúc nào cũng có hại?
Ánh sáng xanh không phải lúc nào cũng có hại, một số thời điểm tiếp xúc với ánh sáng xanh đặc biệt có lợi. Các nghiên cứu cho thấy ánh sáng khả kiến năng lượng cao giúp thúc đẩy sự “làm mới”, hỗ trợ chức năng ghi nhớ, nhận thức và tăng cảm hứng. Trong đó, ánh sáng xanh còn giúp cân bằng chu kỳ sinh học của cơ thể. Thậm chí các liệu pháp ánh sáng được sử dụng để điều trị bệnh tâm lý. Điều quan trọng là thời điểm tiếp xúc trong ngày. Tiếp xúc với ánh sáng xanh vào ban ngày giúp duy trì chu kỳ sinh học khỏe mạnh nhưng nếu lượng ánh sáng xanh quá nhiều vào ban đêm, điều đó thật sự gây hại.
Giảm thiểu ánh sáng xanh được không?
Mặc dù ánh sáng xanh ảnh hưởng xấu tới sức khỏe, nó lại là giải pháp cho các quan ngại về môi trường, nhu cầu về thắp sáng tiết kiệm năng lượng và phát triển công nghệ. Đèn huỳnh quang và đèn LED tiết kiệm năng lượng hơn các thiết kế đèn dây tóc cũ, nhưng chúng cũng có xu hướng tạo ra nhiều ánh sáng xanh hơn. Vì vậy chúng ta không đơn giản có thể giảm thiểu ánh sáng xanh bằng việc ngưng sử dụng các thiết bị trên.
Richard Hansler, một nhà nghiên cứu ánh sáng ở ĐH Carroll, Cleveland, ghi lại rằng đèn dây tóc cũ tạo ra ít ánh sáng xanh và luôn thấp hơn hầu hết các loại đèn huỳnh quang. Tính chất vật lý của đèn huỳnh quang không thể thay đổi, nhưng lớp phủ bên trong chúng có thể làm giảm lượng sáng xanh. Đèn LED có hiệu suất cao hơn đèn huỳnh quang, nhưng chúng tạo ra một lượng ánh sáng xanh tương tự như đèn huỳnh quang. Điều này có nghĩa là chúng ta nên ưu tiên sử dụng cách chiếu sáng bằng đèn LED hơn là đèn huỳnh quang.
Con người có thể làm gì để giảm tác động của ánh sáng xanh với sức khoẻ?
- Sử dụng ánh sáng đỏ và mờ vào ban đêm. Ánh sáng đỏ có năng lượng thấp nhất nên ít ảnh hưởng nhất đến chu kì sinh học và quá trình tổng hợp melatonin.
- Tránh nhìn vào màn hình sáng 2-3 giờ trước khi đi ngủ.
- Nếu bạn làm việc vào ca tối hoặc sử dụng nhiều thiết bị điện tử vào ban đêm, hãy nên mang một cặp kính hấp thụ ánh sáng xanh hoặc cài đặt các ứng dụng có khả năng lọc các ánh sáng bước sóng xanh và lục.
- Sử dụng tối ưu ánh sáng tự nhiên vào ban ngày giúp bạn dễ ngủ vào buổi tối cũng như thúc đẩy quá trình “làm mới” của cơ thể.
http://suckhoedoisong.vn/anh-sang-xanh-anh-huong-suc-khoe-nhu-the-nao-n142324.html
Lý do không nên uống trà khi đang đói bụng
Uống trà vào buổi sáng có thể giúp bạn bắt đầu ngày mới phấn chấn và hứng khởi hơn. Tuy nhiên, bạn nên chắc chắn mình không uống trà khi đói bụng bởi những ảnh hưởng của trà đối với cơ thể dưới đây.
Rất nhiều người có thói quen uống một tách trà mỗi sáng để khởi động một ngày mới tỉnh táo, minh mẫn. Thậm chí, nhiều người còn cảm thấy khó chịu nếu không uống trà buổi sáng.
Chắc chắn, thói quen uống trà có những lợi ích cho sức khỏe như cung cấp thêm chất chống oxy hóa, cải thiện hệ miễn dịch và tăng cường sự trao đổi chất. Nhưng bên cạnh đó, trà cũng có những nguy hại riêng đối với sức khỏe bởi nó có chứa caffeine có thể gây ra axit dạ dày và phá hoại đường tiêu hóa. Đó là lý do bạn không nên uống chúng vào buổi sáng khi dạ dày trống rỗng.
Làm gián đoạn hoạt động trao đổi chất
Uống trà khi bụng rỗng vào buổi sáng sẽ làm mất cân bằng tính axit và tính kiềm trong dạ dày. Điều này có thể tác động đến hoạt động tiêu hóa nói riêng và sự trao đổi chất của cơ thể nói chung.
Phá hỏng men răng
Uống trà có thể gây khô miệng và rất dễ bị sâu răng, hỏng men răng. Nguyên nhân là khi bạn chưa ăn gì, nước trà có thể làm thay đổi nồng độ axit trong khoang miệng, tạo điều kiện cho vi khuẩn hoạt động và phá vỡ men răng.
Làm mất nước
Trà xanh được xem là thuốc lợi tiểu tự nhiên, uống nhiều nước sẽ tăng số lần đi tiểu, điều này sẽ tăng nguy cơ bị mất nước. Nguy hiểm hơn, có thể mất nước trầm trọng gây chuột rút.
Gây buồn nôn
Uống trà buổi sáng trước khi ảnh hưởng đến hoạt động của mật trong dạ dày. Điều này có thể dẫn đến buồn nôn và căng thẳng.
Khiến cơ thể giảm hấp thụ sắt
Trà xanh có thể làm giảm khả năng hấp thụ sắt của cơ thể. Vì vậy, những người bị thiếu máu không nên uống trà lúc bụng đói vào buổi sáng, vì nó có thể làm giảm tỷ lệ hấp thu sắt trong cơ thể từ các nguồn thực phẩm khác.
Lo lắng
Uống trà khi đói sẽ có tác dụng phụ. Những ảnh hưởng này có thể dẫn đến lo lắng và các vấn đề khác liên quan đến giấc ngủ. Nếu bạn muốn uống trà vào buổi sáng, hãy uống nó sau bữa ăn sáng.
Lưu ý khi uống trà xanh
- Những người không nên uống trà xanh: trẻ nhỏ, người bị thiếu máu, táo bón, suy nhược thần kinh, mất ngủ, thiếu canxi, cao huyết áp, viêm loét dạ dày…
- Không dùng trà xanh để uống thuốc: trà xanh có thể kích thích hormone và kháng sinh trong cơ thể. Khi gặp thuốc, chúng sẽ tạo ra những phản ứng hóa học khiến thuốc mất tác dụng và cơ thể khó hấp thu. Từ đó, bệnh lâu khỏi thậm chí còn gây nguy hiểm cho gan khi phải xử lý các chất tồn đọng.
- Không uống trà xanh để qua đêm: các Vitamin B, C trong trà xanh khi để qua đêm sẽ bị phân hủy. Nếu bạn uống sẽ gây rối loạn cho đường tiêu hóa.
Tác hại ít người biết nếu ngủ quá nhiều
Các bác sĩ cho rằng ngủ quá nhiều có thể khiến sức khỏe kém hơn, gây ra một số bệnh như trầm cảm, béo phì, bệnh tim, tiểu đường,... thậm chí có thể dẫn đến tử vong sớm.
Susan Redline, giáo sư về thuốc ngủ ở Harvard cho biết: "Những người ngủ nhiều hơn 10 giờ mỗi ngày thường có sức khỏe kém hơn những người ngủ từ 7 đến 8 giờ."
Bác sĩ Michael Irwin, bác sĩ khoa tâm thần học và khoa học sinh học tại Trường Y David Geffen ở UCLA, cũng cho biết ngủ quá nhiều cũng có thể gây ra bệnh tật. Nguyên nhân là bởi những giấc ngủ "dài" (nhiều hơn 8 giờ) thường là những giấc ngủ kém. Dưới đây là một số bệnh có thể được gây ra từ việc ngủ quá nhiều.
Bệnh tim
Bệnh tim là nguyên nhân số một gây tử vong ở Mỹ và ngủ nhiều hơn 8 tiếng một đêm làm tăng nguy cơ tử vong do bệnh này lên 34%. Phụ nữ dễ ngủ lâu hơn đàn ông, khiến họ có nguy cơ mắc bệnh tim cao hơn.
Béo phì
Nhiều nghiên cứu cho thấy những người không ngủ đủ có xu hướng nặng hơn, nhưng cũng có mối liên hệ giữa việc ngủ quá mức và béo phì. Một số lý thuyết cho rằng việc ngủ quá nhiều sẽ đồng nghĩa với thời gian dành cho việc tập thể dục sẽ bị cắt giảm, đây cũng là một nguy cơ dẫn đến béo phì. Nói cách khác, bạn càng ngủ nhiều, bạn càng ít vận động và lượng calo được đốt cháy cũng ít đi.
Bệnh tiểu đường
Ngủ quá nhiều có thể làm tăng lượng đường trong máu. Đường trong máu cao có thể làm tăng nguy cơ bị tiểu đường tuýp 2. Bên cạnh đó, thừa cân cũng có thể là một yếu tố nguy cơ dẫn đến bệnh tiểu đường.
Khó tập trung
Theo nghiên cứu đăng trên tạp chí Journal of the American Geriatrics Society, giấc ngủ dài mãn tính có thể làm bộ não già đi 2 năm dẫn đến việc thực hiện các công việc hàng ngày trở nên khó khăn. Thực tế là ngủ nhiều có thể gây rối loạn các chức năng cơ bản của cơ thể, dẫn đến việc thức giác vào ban đêm. Nếu thức dậy quá thường xuyên, giấc ngủ sẽ không sâu, dẫn đến không đáp ứng được các nhu cầu của cơ thể.
Ảnh hưởng tâm trạng
Trầm cảm và giấc ngủ đi đôi với nhau. Thông thường, những người bị trầm cảm thường ngủ nhiều hơn và giấc ngủ dài hơn có thể khiến trầm cảm trở nên tồi tệ hơn. Tuy nhiên không phải tất cả những ai ngủ quá nhiều và cảm thấy tệ cũng đều mắc trầm cảm. Trong một số trường hợp, việc rút ngắn khoảng thời gian ngủ có thể giúp nâng cao tinh thần.
http://vietq.vn/tac-hai-it-nguoi-biet-neu-ngu-qua-nhieu-d140430.html
47 người Việt Nam chết vì bệnh lao mỗi ngày
Lao là căn bệnh truyền nhiễm hàng đầu trên thế giới, mức độ nguy hiểm như HIV/AIDS. Theo thống kê của Bộ Y tế, mỗi năm Việt Nam có khoảng 17.000 người tử vong (gần 47 người tử vong mỗi ngày) vì bệnh lao.
Nữ giới chiếm tỷ lệ cao
Theo PGS – TS Nguyễn Viết Nhung, Giám đốc Bệnh viện Phổi Trung ương, dù đã xuất hiện từ rất lâu nhưng mỗi năm lao vẫn gây tử vong cho gần 2 triệu người trên thế giới và nguyên nhân chính là do vi khuẩn lao.
Theo các chuyên gia y tế, bệnh lao là nguyên nhân gây tử vong thứ 2 trong các bệnh nhiễm trùng với khoảng 1,3 triệu người tử vong, trong đó có khoảng 510.000 phụ nữ. Con số tử vong này đã khiến lao trở thành một trong các bệnh gây tử vong hàng đầu ở nữ giới.
Gánh nặng bệnh lao ở Việt Nam đứng thứ 12 trong 20 nước có số người bệnh lao cao nhất trên toàn cầu, đồng thời đứng thứ 14 trong số 27 nước có gánh nặng bệnh lao đa kháng thuốc cao nhất thế giới.
Tình hình lao kháng thuốc đang có diễn biến phức tạp và đã xuất hiện ở hầu hết các quốc gia. Riêng năm 2013, ước tính tỷ lệ mắc lao kháng đa thuốc toàn cầu là 3,5% trong số bệnh nhân mới và 20,5% trong số bệnh nhân.
Báo cáo mới nhất của Bộ Y tế cho biết, trong số 130.000 người Việt Nam dương tính với bệnh lao mới mỗi năm thì có khoảng 7.000 người nhiễm lao đồng thời với HIV.
Điều trị lao không được ngắt quãng dù chỉ một ngày.
Mục tiêu của Chương trình chống lao Quốc gia đến năm 2020 Việt Nam cố gắng giảm tỷ lệ mắc lao trong cộng đồng xuống còn 131/100.000 người dân; giảm số người chết do lao xuống dưới 10/100.000 người dân; 100% bệnh nhân lao được điều trị với công thức điều trị chuẩn của Chương trình và được cung cấp các loại thuốc chống lao đầy đủ, bảo đảm chất lượng.
Cũng theo PGS.TS Nhung, trước đây Việt Nam chưa có thuốc chữa và chưa có nhiều thông tin về căn bệnh này nhưng hiện nay người bệnh lao kháng thuốc, kể cả bệnh nhân siêu kháng thuốc cũng đã có phác đồ điều trị.
Mỗi năm, Việt Nam có khoảng 130.000 bệnh nhân mắc lao mới, tuy nhiên mới chỉ phát hiện được khoảng 70%, còn 30% bệnh nhân lao trong cộng đồng chưa được phát hiện. Đây được xác định là nguồn lây lan bệnh lao lớn nhất.
Trong điều trị lao có 4 nguyên tắc cần nhớ: đủ thuốc, đủ liều, đủ thời gian và liên tục. Tuyệt đối không được ngắt quãng dù chỉ 1 ngày. Vì đó là khoảng thời gian mà vi khuẩn lao hồi phục và tấn công trở lại. Thường điều trị chia làm 2 đợt, đợt tấn công, thường gồm 4 thuốc và đợt duy trì, thường gồm 2 thuốc.
http://toquoc.vn/y-te/47-nguoi-viet-nam-chet-vi-benh-lao-moi-ngay-284216.html
Fanpage
Youtube


















