Điểm báo điện tử ngày 3/8/2015
03/08/2015
0
Giảm hàng trăm lần số ca mắc sởi so với cùng kỳ năm ngoái
7 tháng đầu năm 2015, cả nước ghi nhận 80 trường hợp mắc bệnh sởi, rải rác tại 37 tỉnh, thành phố và không ghi nhận ổ dịch sởi nào, giảm hàng trăm lần so với cùng kỳ năm ngoái.
7 tháng đầu năm 2015, cả nước ghi nhận 80 trường hợp mắc bệnh sởi, rải rác tại 37 tỉnh, thành phố và không ghi nhận ổ dịch sởi nào, giảm hàng trăm lần so với cùng kỳ năm ngoái. Có được kết quả này là do Dự án Tiêm chủng mở rộng Quốc gia, Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương đã tổ chức thành công Chiến dịch tiêm miễn phí vắc-xin sởi - Rubella cho trẻ từ 1 - 14 tuổi trong cả nước.
Chiến dịch tiêm sởi - Rubella cho trẻ 1-14 tuổi (bắt đầu từ tháng 9/2014) được đánh giá là chiến dịch có quy mô và số đối tượng lớn nhất từ trước đến nay. Đến nay, tỷ lệ tiêm chủng đạt 98,2%; trong đó chỉ còn 5 xã có tỷ lệ tiêm chủng đạt 80-90% đang tiếp tục tiêm vét.
Chiến dịch huy động nguồn nhân lực rất lớn với hơn 300.000 lượt cán bộ y tế tham gia, lực lượng tình nguyện lên đến hơn 600.000 người. Nhờ đó, trong 7 tháng đầu năm nay, cả nước chỉ ghi nhận 80 ca sởi rải rác tại 37 tỉnh, thành; không ghi nhận ổ dịch sởi nào. Trong khi đó, cùng kỳ năm ngoái dịch sởi bùng lên mạnh mẽ ở hầu hết các tỉnh thành: toàn quốc ghi nhận đến hơn 15.000 ca sởi tại tất cả các tỉnh thành với hơn 100 bệnh nhi tử vong tại nhiều ổ dịch. Điều đó cho thấy chiến dịch năm nay mang lại hiệu quả lớn, được các tổ chức quốc tế, Bộ Y tế đánh giá thành công và đảm bảo an toàn cao. “20 triệu trẻ được tiêm chủng, nhưng chỉ có tỷ lệ khiêm tốn có phản ứng sau tiêm là một thành công của chương trình tiêm vắc-xin này, có thể nói mức độ an toàn cao hơn hẳn so với các chiến dịch tiêm năm 2005 và 2008” - TS. Dương Thị Hồng, Phó Viện trưởng Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương, Phó Trưởng ban Quản lý dự án tiêm chủng mở rộng khẳng định.
ũng theo TS. Dương Thị Hồng, tháng 7/2015, đoàn chuyên gia quốc tế về tiêm chủng đã điều tra độc lập tại Việt Nam và đưa ra đánh giá 98% trẻ em được tiêm vắc-xin, trong đó có lấy số liệu từ đợt tiêm vắc-xin sởi - Rubella. Thực tế, tỷ lệ trẻ được tiêm vắc-xin sởi - Rubella từ tháng 9/2014 đến tháng 5/2015 đạt 98,2%. Hà Nội và TP. HCM là hai địa phương lúc đầu gặp khó khăn trong vận động trẻ đi tiêm, nhưng sau đó tỷ lệ trẻ được tiêm chủng đạt rất cao, tính lan tỏa của chiến dịch rất tốt do mọi công tác từ khâu tuyên truyền, vận động đến các biện pháp phòng chống sốc, phản ứng sau tiêm, đội cấp cứu lưu động... đều được chuẩn bị và chu đáo đến từng chi tiết. Tỷ lệ trẻ tiêm vắc-xin sởi - Rubella lần này có phản ứng sau tiêm thấp hơn nhiều so với tiêu chí mà Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và nhà sản xuất vắc-xin này và Bộ Y tế đưa ra.
TS. Hồng cũng cho biết, dự kiến sau khi tiêm vét, Chương trình tiêm chủng mở rộng vẫn còn khoảng 3 triệu liều vắc-xin sởi - Rubella. Số vắc-xin này sẽ được dành để tiêm cho khoảng 2 triệu phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ (16-35 tuổi) ở những nơi có nguy cơ mắc bệnh cao như: nơi có tỷ lệ tiêm chủng thấp trong nhiều năm qua, vùng giáp biên giới, khu công nghiệp có nhiều phụ nữ làm việc. Mục đích là ngừa nhiễm Rubella cho những bà mẹ tương lai, từ đó phòng hội chứng Rubella bẩm sinh ở trẻ. Viện Vệ sinh dịch tễ đang xây dựng kế hoạch, hướng dẫn chi tiết để trình lãnh đạo Bộ. Dự kiến sẽ triển khai tiêm vào quý IV/2015 đến quý I/2016.
Sẽ tiêm miễn phí vaccine sởi - rubella cho 2 triệu phụ nữ
-Thực tế, từ xa xưa đến nay, con người đã biết đến nhiều lợi ích của trà xanh đối với sức khỏe. Tuy nhiên, ít ai biết, chính chất EGCG có trong trà xanh là yếu tố quan trọng, quyết định đến tác dụng đặc biệt của trà xanh, bao gồm giảm stress, giải nhiệt, chống lão hóa và nhiều tính năng khác có lợi cho sức khỏe.
“Đi làm bao nhiêu năm nay, tôi vẫn giữ nhiều thói quen như thời còn ở quê chăn trâu phụ ba mẹ. Hồi đó, trưa hè, khi tôi lùa trâu lên đồi quê, mẹ không quên chuẩn bị sẵn cho tôi một bi đông nước chè xanh. Mẹ thường nói, chè xanh giúp giải nhiệt, chống say nắng. Nay, làm việc ở thị thành, tôi vẫn vậy. Có khác chăng là thay chè xanh tự nấu bằng thức uống đóng chai Trà xanh Không Độ” – Trần Đức Hùng (quê Bình Định, hiện phụ trách IT cho một doanh nghiệp tại Q.3, TP.HCM) chia sẻ.
Thạc sĩ nông học Lâm Tấn Đạt - Giám đốc kinh doanh của công ty phân phối hạt giống tại Hóc Môn, TP.HCM, tiết lộ, anh từng nghiện trà từ thời sinh viên. Hiện anh vẫn duy trì thói quen thưởng thức trà bằng sản phẩm chế biến sẵn, đóng chai tiện dụng. Đặc biệt, khi ra sân tennis mỗi chiều, anh không thể không mang theo 2-3 chai Trà xanh Không Độ. Anh Đạt khẳng định: “Trà xanh Không Độ không chỉ giúp mình giải khát mà còn tạo cảm giác sảng khoái sau những trận đánh banh”.
Còn bạn Nguyễn Thành Vinh, sinh viên khoa kế toán trường đại học Kinh Tế Luật (Thủ Đức) lại tỏ ra tâm đắc: “Tôi rất thích uống Trà Xanh Không Độ, vì thích vị trà trong chai, hậu vị chan chát và không quá ngọt. Rất đã khát!”
Trong ba lô của nhiều bạn trẻ sinh viên vẫn thường có loại trà xanh đóng chai tiện dụng khi vào giảng đường, hay ngồi tìm tòi tư liệu trong thư viện. Hầu hết họ cho rằng, Trà xanh Không Độ không chỉ giúp giải khát mà còn giảm căng thẳng, mệt mỏi.
Có thể nói, cuộc sống, công việc với nhiều áp lực, không ít người bị stress. Kinh nghiệm của nhiều bạn trẻ cho biết, trà xanh có thể giúp giảm, xóa tan mệt mỏi căng thẳng thường nhật. Khoa học đã chứng minh thành phần EGCG (viết tắt của hợp chất Epigallocatechin–3 – gallate) trong trà xanh có công dụng tuyệt vời, giúp giảm căng thẳng, mệt mỏi. Tác dụng chống ô xy hóa của EGCG cũng cực kỳ hữu hiệu, gấp 100 lần so với vitamin C và 25 lần so với vitamin E. Do đó trà xanh còn giúp làm đẹp da, chống lão hóa.
Được sản xuất bằng công nghệ hiện đại Nhật Bản, giúp giữ lại cao nhất hàm lượng chất chống ôxy hóa EGCG từ 100% trà xanh thiên nhiên, Trà Xanh Không Độ đem đến cảm giác sảng khoái, giải nhiệt, không lo căng thẳng mệt mỏi, là người bạn đồng hành lý tưởng của bạn trẻ cho một ngày bận rộn với công việc và học tập.
http://anninhthudo.vn/khoe-dep/tra-xanh-giai-nhiet-cuoc-song/624701.antd
8 loại vitamin khoáng chất nên bổ sung mỗi ngày
- Việc ăn uống không thể giúp cung cấp đầy đủ những vitamin và khoáng chất cần thiết nên nhờ các loại vitamin tổng hợp chúng ta có thể dễ dàng bổ sung hằng ngày.
Những thói quen vệ sinh hằng ngày ‘phản khoa học’Vì sao bạn hay bị bầm tím?Những loại thực phẩm không nên ăn vào buổi sáng
Đôi khi chế độ ăn uống lành mạnh và cân bằng khiến bạn nghĩ rằng không cần thiết phải bổ sung các vi chất. Tuy nhiên việc bổ sung thêm các khoáng chất thiết yếu mỗi ngày có thể làm tăng khả năng miễn dịch của bạn, giúp giảm stress, phòng ngừa bệnh mãn tính như tiểu đường, bệnh tim, bệnh xương, các bệnh khác nhau của mắt thậm chí cả ung thư.
Dưới đây là 8 loại vitamin rất quan trọng và nên được bổ sung hàng ngày để có được sức khỏe tốt.
1. Chất béo Omega 3
Bổ sung Omega 3 đặc biệt được khuyến khích cho người lớn trên 55 tuổi, bởi nó đóng vai trò hiệu quả trong trấn áp bệnh tim mạch vành.
Omega-3 trong một số loại dầu cá và các nguồn thực vật là một trong những chất dinh dưỡng thiết yếu quan trọng nhất chúng ta nên dùng hàng ngày kể cả từ thực phẩm lẫn uống bổ sung.
Omega-3 rất cần thiết cho sức khỏe tim mạch, nó quy định và giúp bình thường hóa nồng độ triglyceride cholesterol (trong đó sẽ giúp ngăn ngừa huyết khối và máu cục); đồng thời ngăn chặn các vấn đề về hành vi ở trẻ em - đặc biệt là những trẻ bị rối loạn tăng động giảm chú ý (ADHD).
2. Vitamin B
Cả Vitamin B6 và B12 đều là chất bổ sung quan trọng cho sức khỏe tim mạch. Vitamin B12, được lưu trữ trong thận, gan và các mô khác của cơ thể được biết đến như là "vitamin năng lượng", và rất quan trọng cho sức khỏe của xương, mặc dù yếu tố này thường bị bỏ qua.
Ngoài rủi ro gãy xương nếu thiếu vitamin B12, nồng độ thấp của vitamin quan trọng này cũng dẫn đến suy nhược cơ bắp và mất trí nhớ. Vitamin B 12 giúp tiêu hóa, hấp thu thức ăn, chất béo, chuyển hóa carbohydrate và nhiều chức năng quan trọng khác.
3. Vitamin C
Được coi là căn nguyên của chất chống oxy hóa, vitamin C là một trong những vitamin quan trọng nhất được khuyến khích để chống lại bệnh tật, từ cảm lạnh thông thường, cúm đến các bệnh truyền nhiễm.
Nhiều thế kỷ trước đây vitamin C đã thành công trong việc chữa bệnh còi xương. Nghiên cứu gần đây cũng đã cho thấy nó có lợi cho bệnh nhân giai đoạn 3 hoặc 4 bệnh ung thư vì nó làm giảm tác dụng phụ và giúp cải thiện chất lượng cuộc sống.
Nó cũng kiểm soát các chất độc hại trong cơ thể chúng ta. Vitamin C có thể chứa rất nhiều trong thực phẩm - đặc biệt là trái cây màu sặc sỡ và rau. Nhưng nếu có bất kỳ nghi ngờ gì về thiếu vitamin C, hãy uống bổ sung.
4. Vitamin E
Vitamin E giúp tăng cường hệ thống miễn dịch, và là một thể của chất chống ôxi hóa.Vitamin E cũng là một trong những vitamin giúp chữa lành và chiến đấu với bệnh ung thư. Nó cũng tốt cho mắt và rất hữu ích trong các bệnh gan nhiễm mỡ liên quan đến béo phì và thậm chí là cả bệnh Alzheimer.
Vitamin E được tìm thấy trong một số loại hạt hữu cơ (hạnh nhân, hạt phỉ, quả hồ đào và quả óc chó) và trong các loại rau lá xanh như bông cải xanh và rau bina.
5. Kẽm
Ba khoáng chất cần thiết nên dùng hàng ngày là canxi, kẽm và magiê. Ngoài vitamin A (quan trọng đối với hệ thống miễn dịch cũng như cho tầm nhìn khỏe mạnh và tăng trưởng tế bào tốt), cả kẽm và magiê đều rất cần thiết.
Kẽm đóng vai trò quan trọng hơn bất cứ khoáng chất nào khác khi nói đến enzyme phản ứng. Nó giúp chống nhiễm trùng, làm tăng khả năng việc chống lại bệnh ung thư của các tế bào, hỗ trợ việc chữa lành vết thương, và phát hành các kháng thể vào hệ thống hỗ trợ hệ miễn dịch.
Kẽm cũng giúp bệnh nhân tiểu đường điều chỉnh nồng độ insulin, cải thiện trí nhớ, rất hữu ích cho việc điều trị các bệnh về da. Nó cũng tốt cho sức khoẻ của mắt, cải thiện cả tâm trạng và giấc ngủ.
6. Magiê
Magiê có rất nhiều lợi ích sức khỏe không nên bỏ qua. Magiê được mọi nội quan cơ thể sử dụng như trái tim, thận, cơ, xương, mắt,... và do đó có thể giúp đỡ vô số vấn đề sức khỏe từ đau khớp đến co giật mắt. Magiê được tìm thấy trong một số loại hạt, cũng như trong các loại đậu, bí đỏ và các loại rau lá xanh.
7. Vitamin K2
K2 là một trong những vitamin thường bị đánh giá thấp. K2 hoạt động cùng với magiê và vitamin D giúp di chuyển đến các khu vực hỗ trợ canxi trong cơ thể, và cũng giúp loại bỏ canxi từ mô mềm và động mạch của có thể gây hại.
Trong khi vitamin K1 được tìm thấy trong các loại rau lá xanh, và rất quan trọng để ngăn chặn chảy máu, vitamin K2 tạo điều kiện cho việc chuyển canxi từ động mạch đến tận xương trong cơ thể. Điều này làm cho nó rất quan trọng đối với sức khỏe tim mạch.
K2 được tìm thấy ở một số vi khuẩn trong một số loại thực phẩm lên men. Nhưng rất khó để tiêu thụ thực phẩm chứa K2 nên tốt nhất hãy uống bổ sung.
8. Vitamin D
Một trong những bổ sung có lợi nhưng ít tốn kém nhất là vitamin D, có khả năng cắt giảm tỷ lệ ung thư đáng kể. Một số chuyên gia cho rằng tỷ lệ thành công lên đến 50%.
Vitamin D cũng được công nhận là cần thiết cho sức khỏe tim mạch và cho sức khỏe của xương; cũng giống như vitamin C, vitamin D cũng là sự bảo vệ tốt chống lại cảm lạnh và cúm.
Chúng ta có thể nhận được đủ vitamin D từ ánh nắng mặt trời, và các loại thực phẩm nhất định bao gồm cả cá béo như cá ngừ, cá thu, cá hồi, lòng đỏ trứng, gan và dầu gan cá tuyết.
http://giaoduc.net.vn/suc-khoe/8-loai-vitamin-khoang-chat-nen-bo-sung-moi-ngay-post160630.gd
5 cách ngừa nhiễm khuẩn E-coli
PN - E-coli là một trong những chủng vi khuẩn nguy hiểm có thể làm suy yếu hệ miễn dịch, gây đau bụng, tiêu chảy, nôn mửa, kiết lỵ, sốt và thậm chí dấn đến tử vong.
Để phòng ngừa các bệnh có thể gây ra bởi vi khuẩn E-coli, các chuyên gia y tế thuộc Hiệp hội chế độ dinh dưỡng Hoa Kỳ khuyên bạn nên chú ý đến các vấn đề sau đây.
• Rửa tay
Đây là việc làm đơn giản nhưng rất quan trọng mà bạn cần phải thực hiện để giảm thiểu nguy cơ lây nhiễm khuẩn E-coli cho cơ thể, đặc biệt là sau khi bạn đi vệ sinh, chạm vào động vật và trước khi chuẩn bị thức ăn.
Tốt nhất là bạn nên sử dụng các loại xà phòng diệt khuẩn để làm sạch bàn tay trước khi tiếp xúc với thực phẩm.
• Nấu chín thực phẩm
Các loại thực phẩm sống luôn ẩn chứa nhiều loại vi khuẩn có hại cho sức khỏe. Vì vậy, bạn cần phải nấu chín thức ăn trước khi sử dụng.
Đối với các loại thịt như thịt bò, heo...hãy nấu chín chúng ở nhiệt độ 70o C (nên sử dụng một nhiệt kế để kiểm tra nhiệt độ).
Đối với các loại rau xanh, hãy nấu chúng trong 15 giây ở nhiệt độ 70o C sẽ giết chết các vi khuẩn E-coli.
• Tránh dùng thực phẩm có nguy cơ nhiễm khuẩn E-coli
Sữa, phô mai, thịt sống và nước trái cây chưa được tiệt trùng là những loại thực phẩm có nguy cơ nhiễm khuẩn E-coli rất cao. Do đó, bạn nên hạn chế sử dụng những loại thực phẩm này.
Để đảm bảo an toàn cho sức khỏe, tốt nhất là bạn nên sử dụng các loại thực phẩm đã được tiệt trùng, được nấu chín kỹ hoặc các loại nước ép trái cây được giữ lạnh sau khi chế biến.
Ngoài ra, bạn cũng phải tránh tiếp xúc với phân người và động vật vì đây là tác nhân gây nhiễm khuẩn E-coli rất cao.
Không được nuốt nước sông, ao, hồ bơi
Khi bơi lội trong các hồ bơi, sông suối và ao hồ, bạn cần phải tránh uống nước từ những môi trường này.
Bởi lẽ, những chất thải của người và động vật có thể hoàn lẫn trong nước, khi bạn vô tình nuốt nước sông, ao hồ... Một số loại vi khuẩn E-coli có thể “xâm nhập” vào cơ thể bạn và tạo ra độc tố Shiga, gây tiêu chảy, suy thận, bàng quang và các bệnh nặng khác.
Rửa sạch rau củ và dụng cụ làm bếp
Để phòng ngừa nhiểm khuẩn E-coli một cách hiệu quả hơn, bạn cũng đừng quên tạo thói quen rửa sạch rau củ và thường xuyên vệ sinh các dụng cụ bếp.
Hãy phân loại các loại thớt dành cho việc chế biến thịt sống, thịt chín, trái cây để phòng ngừa nhiễm khuẩn chéo.
Sau khi sử dụng thớt, bạn nên rửa sạch thớt ngay lập tức với hỗn hợp chanh muối hoặc dung dịch diệt khuẩn để giảm thiểu tối đa vi khuẩn gây hại cho sức khỏe của bạn.
http://phunuonline.com.vn/suc-khoe/song-khoe/5-cach-ngua-nhiem-khuan-e-coli/a147828.html
Tự điều trị bệnh cơ xương khớp rất nguy hiểm
Đây là thông tin được PGS.TS Đoàn Văn Đệ, Chủ tịch Hội Thấp khớp học Hà Nội chia sẻ tại hội nghị Thấp khớp học Hà Nội lần thứ VII do Học viện Quân y phối hợp với Hội Thấp khớp học Hà Nội tổ chức ngày 1-8.
Theo PGS.TS Đoàn Văn Đệ, bệnh cơ xương khớp là bệnh mãn tính rất phổ biến hiện nay, gồm hơn 100 bệnh lý cơ xương khớp khác nhau và xuất hiện ở hầu hết các lứa tuổi. Những năm gần đây, số người mắc các bệnh về khớp tăng lên, có khoảng 1/5 dân số thế giới chịu ảnh hưởng của các bệnh về khớp ở các mức độ khác nhau. Đáng chú ý với loại bệnh lý này, đa số bệnh nhân thường tự ý mua thuốc về điều trị. Điều này có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho người bệnh như: gây nguy cơ viêm loét đường tiêu hóa, suy thận, tăng huyết áp, ảnh hưởng đến tim mạch…
http://anninhthudo.vn/khoe-dep/tu-dieu-tri-benh-co-xuong-khop-rat-nguy-hiem/625103.antd
Rau quả càng ngọt, càng kém dinh dưỡng?
Các loại rau và củ, quả của chúng ta đang trở nên ngọt hơn, nhưng đồng thời cũng trở nên kém bổ dưỡng hơn và mang lại ít lợi ích sức khỏe cho con người hơn, theo một nghiên cứu mới.
Việc khiến cho các loại rau xanh và củ, quả ít đắng, chát hơn có thể khiến mọi người, đặc biệt là trẻ em, thích ăn chúng hơn. Tuy nhiên, các nhà khoa học phát hiện, việc làm cho rau, quả trở nên ngọt hơn này cũng phải trả giá bằng chính các lợi ích sức khỏe mà chúng mang lại.
Thống kê cho thấy, nhiều loại rau xanh và củ, quả trong vài năm gần đây đã ngọt hơn so với trước kia. Chẳng hạn như, ở bang Florida của Mỹ cách đây 30 năm, bưởi trắng phổ biến hơn nhiều so với loại bưởi hồng và đỏ, vốn ngọt hơn. Song, hiện các giống bưởi có màu sắc hồng, đỏ đang được ưa chuộng và tiêu thụ nhiều gấp đôi buổi trắng.
Dẫu vậy, các nhà nghiên cứu khám phá ra rằng, bưởi trắng chứa lượng hợp chất gây vị đắng, có liên quan đến việc cải thiện hệ thống tim mạch của người, nhiều hơn 50% so với bưởi hồng và đỏ.
Cải Brussel (bắp cải tí hon) hiện cũng trở nên ngọt hơn so với các giống ban đầu và được mô tả là "thân thiện với trẻ em". Peter van der Toorn, người đứng đầu Cơ quan gây giống rau quả Syngenta ở Hà Lan, giải thích: "Trẻ em thích ăn ngọt hơn người lớn. Chúng ta vẫn có các loại cải đắng trên thị trường, nhưng đa phần các giống cải được bày bán ngày nay dịu ngọt hơn".
Con người đã tiến hóa để cảnh giác với thực phẩm đắng và gắn vị này với các chất độc. Trong nhiều loại rau, quả, các hợp chất gây đắng là các chất độc tự nhiên, được tạo ra để xua đuổi sinh vật phá hoại. Theo chuyên gia dịch tễ học Adam Drewnowski đến từ Đại học Washington (Mỹ), các dưỡng chất vị đắng có nguồn gốc từ thực vật này còn có tác dụng phòng ngừa ung thư, vì chúng có thể phá hủy tế bào.
Nhiều nhà khoa học thậm chí cho rằng, việc loại bỏ các hóa chất đắng trong rau, quả sẽ gây hại cho chúng ta.
Các nhà nghiên cứu đã khám phá ra hàng ngàn dưỡng chất vị đắng trong thực vật. Chẳng hạn như, ở bưởi, một hợp chất siêu đắng, có tên gọi naringin được chứng minh có các đặc tính chống loét và kháng viêm. Quercetin, một chất gây đắng tồn tại trong trà xanh, rau cải xanh và rượu vang đỏ có thể giúp bảo vệ chúng ta trước nguy cơ ung thư phổi. Dưỡng chất vị đắng sinigrin trong cải Brussel, súp lơ, bắp cải và cải xoắn được phát hiện có tác dụng chống ung thư.
http://vietnamnet.vn/vn/khoa-hoc/253780/rau-qua-cang-ngot--cang-kem-dinh-duong-.html
Những thực phẩm tốt nhất cho mẹ sau sinh
Giai đoạn sau sinh cơ thể mẹ rất yếu, bị mất lượng lớn sắt và canxi, vì thế cần chú ý đến việc bổ sung dinh dưỡng qua các bữa ăn hàng ngày.
Sau khi sinh, mọi sự tập trung và quan tâm đều dồn vào em bé, từ việc cho bé ăn, vệ sinh cho bé, cho bé ngủ, mà quên mất rằng thời kỳ hậu sản của mẹ cũng cần được chú ý và chăm sóc. Những mẹ sinh mổ thì đau vết mổ, các mẹ sinh thường thì đau vết khâu rạch tầng sinh môn.
Ngoài ra tử cung lúc này cũng co lại để đẩy sản dịch ra ngoài. Giai đoạn này cơ thể mẹ rất yếu, bị mất lượng lớn sắt và canxi, vì thế cần chú ý đến việc bổ sung dinh dưỡng qua các bữa ăn hàng ngày.
Dưỡng chất cần thiết nhất đối với mẹ sau sinh là sắt và canxi. Nguồn bổ sung đầy đủ và dễ hấp thu nhất là qua đường ăn uống. Nếu khẩu phần ăn hàng ngày của mẹ không đảm bảo đủ lượng canxi và sắt cần thiết, mẹ sẽ xanh xao, thiếu máu, ảnh hưởng đến chất lượng sữa mẹ.
Các loại thực phẩm giàu sắt sau được khuyến nghị nên bổ sung vào khẩu phần ăn của bà mẹ sau sinh: Gan gà, lườn gà, thịt bò, trai, cá bơn, cá ngừ, ức gà, thịt lợn, tôm và các loại rau củ giàu sắt: Yến mạch, đậu nành, đậu lăng, đậu đen, đậu hũ, rau bina, nho khô, bánh mì trắng.
Để bổ sung canxi cho mẹ sau sinh, có thể cân nhắc các loại thực phẩm sau: Trứng, sữa chua, sữa, phô mai, đậu phụ, cá, rau chân vịt, củ cải,...
Ngoài ra mẹ lưu ý uống đủ nước (ít nhất 2 lít/ ngày) để tránh bị mất nước do cho con bú và chảy sản dịch. Mẹ có thể tắm nắng vào sáng sớm để hấp thụ vitamin D – tạo điều kiện hấp thụ canxi tốt hơn. Tránh ăn những thực phẩm lạnh, ăn uống đủ chất để hồi phục nhanh hơn và để có đủ sữa cho con bú.
Đại dịch HIV đã có mặt ở 100% tỉnh, thành
Đại dịch HIV đã có mặt ở 100% tỉnh, thành phố; 99% quận, huyện. Theo ước tính của các chuyên gia, hiện có tới khoảng 260 ngàn người nhiễm HIV đang sống trong cộng đồng.
Tại lễ tổng kết 10 năm thành lập Cục Phòng, chống HIV/AIDS, Bộ Y tế, ông Nguyễn Hoàng Long - Cục trưởng Cục Phòng, chống HIV/AIDS - cho biết, từ năm 2006-2007, mỗi năm Việt Nam phát hiện hơn 30.000 người nhiễm mới HIV. Phần lớn số người nhiễm HIV ở lứa tuổi trẻ, tuổi lao động, trụ cột của gia đình.
“HIV/AIDS đã trở thành đại dịch vô cùng nguy hiểm, ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe, tác động trực tiếp đến sự phát triển kinh tế-xã hội”, ông Long cho hay.
Theo ông, số người nhiễm HIV/AIDS chủ yếu tập trung ở các tỉnh, thành phố như Hà Nội, Hải Phòng, TP.HCM. Nhiễm HIV ở thời điểm này chủ yếu lây qua đường tình dục không an toàn. Đối tượng nghiện chích ma túy, mại dâm thường quên bao cao su mỗi khi quan hệ tình dục.
Cũng theo ông Long, mức độ bao phủ của dịch vụ phòng, chống HIV/AIDS tại Việt Nam còn thấp. Bơm kim tiêm sạch và bao cao su mới đáp ứng được khoảng 50% nhu cầu. Người dân kỳ thị, phân biệt đối xử với người nhiễm HIV/AIDS vẫn phổ biến.
Trước tình hình này, các hoạt động can thiệp giảm tác hại ngày càng được mở rộng trong 10 năm qua đã góp phần đáng kể vào việc làm giảm rõ rệt tỉ lệ lây nhiễm HIV.
Tỉ lệ nhiễm HIV trong nhóm nghiện chích ma túy từ 29% năm 2001, đã giảm gần 3 lần, xuống còn 10,5% vào năm 2014. Tỉ lệ nhiễm HIV trong nhóm phụ nữ bán dâm từ 4,2% năm 2006, giảm xuống chỉ còn 2,5% trong năm 2014. Nhờ đó, tỉ lệ người nhiễm HIV mới hàng năm đã thuyên giảm đáng kể.
Ngoài ra, chăm sóc và điều trị HIV/AIDS trong 10 năm qua đã đạt được những thành tựu to lớn. Nếu năm 2004 chỉ có 500 người đã được điều trị bằng thuốc kháng virus ARV thì đến tháng 6.2015 đã có trên 96.000 người nhiễm HIV đang điều trị ARV.
Bên cạnh đó, dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con cũng trở thành một trong những giải pháp hiệu quả và mang tính nhân văn nhất trong phòng, chống HIV/AIDS. Hiện nay khoảng 70% phụ nữ mang thai được xét nghiệm HIV. Xét nghiệm chẩn đoán sớm nhiễm HIV ở trẻ em đã được mở rộng. Tuy vậy, công tác phòng, chống HIV/AIDS những năm tới còn rất nhiều thách thức.
“Dịch HIV/AIDS đã giảm nhưng chưa giảm sâu, chưa ổn định, số người nhiễm HIV còn sống được phát hiện tiếp tục gia tăng và vẫn có nhiều nguy cơ bùng phát trở lại”, lãnh đạo Bộ Y tế lo ngại.
http://dantri.com.vn/suc-khoe/dai-dich-hiv-da-co-mat-o-100-tinh-thanh-20150803080115672.htm
Rượu, thuốc lá làm teo não, mất trí nhớ
Ngưng hút thuốc, uống rượu bia và duy trì cân nặng ổn định có thể giúp phòng ngừa chứng mất trí nhớ.
Đây là kết luận của một nghiên cứu mới của Trường Y Keck thuộc ĐH Nam California công bố trên tạp chí y khoa Radiology Today.
Nghiên cứu được thực hiện với sự tham gia của 1.629 người Mỹ. Trong vòng bảy năm, họ được theo dõi thói quen hút thuốc, uống rượu bia cũng như tình trạng cân nặng, đồng thời chụp hình cắt lớp não và thực hiện các bài trắc nghiệm nhận thức định kỳ để xác định khả năng suy nghĩ, nhận biết và ghi nhớ của họ. Các nhà nghiên cứu nhận thấy uống rượu bia làm não giảm thể tích, trong khi đó hút thuốc và béo phì làm teo các phần não liên quan đến trí nhớ.
Theo GS Kevin King, trưởng nhóm nghiên cứu, teo não, mất trí nhớ đến thời điểm này chưa có biện pháp chữa trị hữu hiệu, vì vậy tìm ra nguyên nhân để phòng ngừa rất quan trọng.
http://www.24h.com.vn/suc-khoe-doi-song/ruou-thuoc-la-lam-teo-nao-mat-tri-nho-c62a724875.html
Fanpage
Youtube


















