Điểm báo điện tử ngày 7/8/2015
07/08/2015
0
4 loại vắc-xin cần tiêm trước khi mang thai
- Tiêm phòng trước khi mang thai là rất cần thiết để an toàn cho cả mẹ và con. Tùy vào điều kiện của từng người có thể tiêm nhiều hay ít các loại vắc-xin.
Tiêm phòng trước khi mang thai là rất cần thiết để an toàn cho cả mẹ và con. Tùy vào điều kiện của từng người có thể tiêm nhiều hay ít các loại vắc-xin. Trên thực tế hiện nay rất ít phụ nữ biết sự cần thiết của tiêm phòngtrước khi mang thai. Vậy, ngoài việc dinh dưỡng đầy đủ, việc tiêm phòngtrước khi mang thai là cần thiết. Các loại bệnh cần tiêm phòng là:
Sởi - Rubella: Nếu mẹ bị nhiễm Rubella trong ba tháng đầu của thai kỳ sẽ lây cho thai nhi gây ra sẩy thai hoặc nhiều dị tật bẩm sinh cho trẻ như mù, điếc, suy dinh dưỡng bào thai, tật ở tim... Vì vậy, trước khi để có thai ít nhất ba tháng, phụ nữ nên đi tiêm phòng Rubella. Tuy nhiên, nếu đã bị nhiễm Rubella trước đó (được bác sĩ chẩn đoán hoặc làm xét nghiệm máu dương tính) thì không cần chích tiêm phòng nữa. Ngoài ra, đối với phụ nữ không được tiêm phòng sởi khi chuẩn bị mang thai cần đến cơ sở y tế để được tư vấn cụ thể. Viêm gan siêu vi B (VGSVB): Tại các nước đang phát triển như nước ta, VGSVB được lây truyền chủ yếu qua các đường: từ mẹ truyền sang con, truyền máu, thực hành tiêm truyền không an toàn, quan hệ tình dục.Thống kê cho thấy nếu mẹ mang thai bị VGSVB trong ba tháng đầu của thai kỳ thì tỉ lệ lây truyền bệnh cho trẻ sơ sinh không đáng kể (1%) nhưng nếu mẹ bị VGSVB trong ba tháng giữa, nguy cơ lây truyền cho trẻ là 10%-20%, nguy cơ này tăng lên đến 90% nếu mẹ bị nhiễm bệnh trong ba tháng cuối của thai kỳ. Phụ nữ có thể bị nhiễm VGSVB trước hoặc bất kỳ lúc nào trong thời gian mang thai. Vì thế phụ nữ nên tiêm chủng vắc-xin phòng VGSVB trước khi mang thai để tránh lây truyền cho con.
Cúm: Phụ nữ cũng nên tiêm phòng cúm trước khi có ý định mang thai để phòng tránh những cơn cúm trong thời gian mang thai và nhất là phòng tránh dị tật thai khi bị cúm trong ba tháng đầu. Tuy nhiên, văc-xin tiêm phòng cúm thường hiệu lực chỉ trong một năm. Vì vậy, phòng chống cúm khi mang thai là một yếu tố cần thiết của việc chăm sóc trước sinh, và các chiến lược hiệu quả nhất để ngăn ngừa cúm là tiêm chủng hàng năm.
Thủy đậu: Đối với phụ nữ đang mang thai thì mối nguy hại của bệnh thủy đậu ảnh hưởng nghiêm trọng đến thai nhi, cụ thể khoảng 2% số bé có mẹ mắc thủy đậu trong năm tháng đầu của thai kỳ có nguy cơ mắc dị tật, gồm dị dạng hình thể, liệt chân tay. Ngoài ra, người mẹ mắc thủy đậu còn có thể chuyển virut gây bệnh này sang cơ thể con trong khi sinh nở. Vì vậy, trước khi chuẩn bị có bầu, phụ nữ nên tiêm phòng bệnh thủy đậu một lần duy nhất và ít nhất ba tháng sau đó mới nên có em bé.
Lưu ý: Khi tiêm chủng phòng bệnh, cần áp dụng các biện pháp tránh thai an toàn trong khoảng 3 - 6 tháng. Trong thời gian mang thai, thai phụ chỉ tiêm hai mũi uốn ván. Nếu đang bị bệnh, nóng sốt hay các bệnh khớp, thận... cần phải hỏi ý kiến bác sĩ trước khi tiêm phòng vắc-xin. Trong khoảng thời gian đó, nếu mang thai ngoài ý muốn cần tham khảo ý kiến của bác sĩ và theo dõi quá trình phát triển của em bé một cách chặt chẽ.
Còn trong giai đoạn tiếp theo của thai kỳ thì nguy cơ bị sẩy thai, thai chết lưu, đẻ non hoặc thai nhiễm sởi tiên phát... cũng khá cao.
Viêm gan siêu vi B (VGSVB): Tại các nước đang phát triển như nước ta, VGSVB được lây truyền chủ yếu qua các đường: từ mẹ truyền sang con, truyền máu, thực hành tiêm truyền không an toàn, quan hệ tình dục.Thống kê cho thấy nếu mẹ mang thai bị VGSVB trong ba tháng đầu của thai kỳ thì tỉ lệ lây truyền bệnh cho trẻ sơ sinh không đáng kể (1%) nhưng nếu mẹ bị VGSVB trong ba tháng giữa, nguy cơ lây truyền cho trẻ là 10%-20%, nguy cơ này tăng lên đến 90% nếu mẹ bị nhiễm bệnh trong ba tháng cuối của thai kỳ. Phụ nữ có thể bị nhiễm VGSVB trước hoặc bất kỳ lúc nào trong thời gian mang thai. Vì thế phụ nữ nên tiêm chủng vắc-xin phòng VGSVB trước khi mang thai để tránh lây truyền cho con.
Cúm: Phụ nữ cũng nên tiêm phòng cúm trước khi có ý định mang thai để phòng tránh những cơn cúm trong thời gian mang thai và nhất là phòng tránh dị tật thai khi bị cúm trong ba tháng đầu. Tuy nhiên, văc-xin tiêm phòng cúm thường hiệu lực chỉ trong một năm. Vì vậy, phòng chống cúm khi mang thai là một yếu tố cần thiết của việc chăm sóc trước sinh, và các chiến lược hiệu quả nhất để ngăn ngừa cúm là tiêm chủng hàng năm.
Thủy đậu: Đối với phụ nữ đang mang thai thì mối nguy hại của bệnh thủy đậu ảnh hưởng nghiêm trọng đến thai nhi, cụ thể khoảng 2% số bé có mẹ mắc thủy đậu trong năm tháng đầu của thai kỳ có nguy cơ mắc dị tật, gồm dị dạng hình thể, liệt chân tay. Ngoài ra, người mẹ mắc thủy đậu còn có thể chuyển virut gây bệnh này sang cơ thể con trong khi sinh nở. Vì vậy, trước khi chuẩn bị có bầu, phụ nữ nên tiêm phòng bệnh thủy đậu một lần duy nhất và ít nhất ba tháng sau đó mới nên có em bé.
Lưu ý: Khi tiêm chủng phòng bệnh, cần áp dụng các biện pháp tránh thai an toàn trong khoảng 3 - 6 tháng. Trong thời gian mang thai, thai phụ chỉ tiêm hai mũi uốn ván. Nếu đang bị bệnh, nóng sốt hay các bệnh khớp, thận... cần phải hỏi ý kiến bác sĩ trước khi tiêm phòng vắc-xin. Trong khoảng thời gian đó, nếu mang thai ngoài ý muốn cần tham khảo ý kiến của bác sĩ và theo dõi quá trình phát triển của em bé một cách chặt chẽ.
http://suckhoedoisong.vn/me-va-be/4-loai-vac-xin-can-tiem-truoc-khi-mang-thai-20150806103339133.htm
Hàng ngàn dịch vụ y tế chuẩn bị tăng giá
Liên Bộ Y tế - Tài chính sắp ban hành thông tư điều chỉnh giá hàng ngàn dịch vụ y tế, trong đó tính thêm phụ cấp phẫu thuật, thủ thuật và cả tiền lương của nhân viên y tế.
Phẫu thuật ngoại khoa và nội soi có mức phụ cấp đặc biệt được đề xuất cao nhất là hơn 1.500.000 đồng/ca với kíp mổ gồm 8 người.
Đối với các chuyên ngành như phụ sản, bỏng, răng hàm mặt…, phụ cấp phẫu thuật đặc biệt cũng dự kiến cao nhất là hơn 1.400.000 đồng/ca cho kíp 6-7 người.
Không chỉ chi phí phẫu thuật, lương của đội ngũ y bác sĩ cũng sẽ được điểu chỉnh tăng thêm. Tuy nhiên, những người không có thẻ bảo hiểm y tế sẽ bị tác động mạnh nhất nếu đau ốm.
http://vtv.vn/xa-hoi/hang-ngan-dich-vu-y-te-chuan-bi-tang-gia-20150806160616867.htm
Xử trí nhanh đột quỵ não tại nhà
Điều quan trọng bậc nhất là phát hiện sớm từ các dấu hiệu thường có của người đột quỵ não.
Điều quan trọng bậc nhất là phát hiện sớm từ các dấu hiệu thường có của người đột quỵ não. Nếu nghi ngờ, người nhà cần gọi ngay cho cấp cứu y tế (115), đồng thời cần để bệnh nhân nằm yên, đầu nâng cao 30 độ và nghiêng sang một bên (tránh chất nôn, đờm, chất tiết chảy vào khí quản), nới rộng quần áo, theo dõi nhịp thở, yêu cầu người bệnh hít thở sâu và thở ra chậm, nếu người bệnh còn tỉnh táo. Đề phòng người bệnh cắn vào lưỡi, cần dùng khăn vải quấn quanh một chiếc đũa hay cán muỗng đặt giữa hai hàm răng của bệnh nhân. Nếu bệnh nhân tỉnh táo nên động viên người bệnh để người bệnh an tâm, không quá lo lắng ảnh hưởng đến tình trạng bệnh. Nếu bệnh nhân hôn mê, ngừng thở phải tiến hành hô hấp nhân tạo. Tuyệt đối không cho người bệnh uống hoặc tiêm bất cứ một loại thuốc gì, ngay cả thuốc làm giảm huyết áp (người THA) hoặc thuốc nâng huyết áp (người huyết áp thấp) hoặc thuốc đái tháo đường (người bị đái tháo đường), không cạo gió, không xoa bóp, châm cứu, và không chờ xem người bệnh có đỡ hơn không mà cần khẩn trương đưa người bệnh đến cơ sở y tế gần nhất, tốt nhất là đến cơ sở y tế có đủ điều kiện càng nhanh càng tốt.
Phòng ngừa đột quỵ
Người cao tuổi khi mắc các bệnh về tim mạch, huyết áp, đái tháo đường, tăng mỡ máu cần được khám bệnh định kỳ và uống thuốc đều đặn theo chỉ định của bác sĩ, không tự động bỏ thuốc hoặc tăng, giảm liều hoặc thay đổi thuốc. Người cao tuổi nên có chế độ sinh hoạt, dinh dưỡng hợp lý và giảm béo. Cần tuân theo chế độ ăn kiêng theo tư vấn của bác sĩ khám bệnh cho mình. Cần làm việc nhẹ nhàng, tránh căng thẳng. Cần ngủ đủ thời gian trong một ngày đêm (khoảng 7-8 giờ là vừa phải). Muốn đạt được điều đó, luôn vận động cơ thể bằng các hình thức tập thể dục, ngồi thiền, đi bộ, chơi các môn thể thao nhẹ (cầu lông, bơi,...).
http://suckhoedoisong.vn/ban-can-biet-ve-y-hoc/xu-tri-nhanh-dot-quy-nao-tai-nha-201508051028157.htm
Một cháu bé tử vong do ngộ độc thịt và trứng cóc
Ngày 6-8, một trong số ba cháu bé được đưa vào Bệnh viện đa khoa tỉnh Đác Lắc cấp cứu vào chiều 5-8 do bị ngộ độc thịt và trứng cóc đã tử vong.
Người tử vong được xác định là cháu H’Tuyết Niê, hai tuổi ở buôn Cư Knia, xã Ea Bar, huyện Buôn Đôn. Hai cháu còn lại đang được các bác sĩ ở Khoa Hồi sức tích cực - Chống độc Bệnh viện đa khoa tỉnh Đác Lắc tích cực điều trị. Đến chiều 6-8, hai cháu đã hết nôn, ăn uống được nhưng các bác sĩ vẫn đang tiếp tục theo dõi và điều trị cho các cháu, bác sĩ Trịnh Hồng Nhựt, Trưởng Khoa Hồi sức tích cực - Chống độc Bệnh viện đa khoa tỉnh Đác Lắc cho biết.
Theo người nhà các cháu, vào sáng 5-8, chị H’Jút Niê (SN 1990) và Y Chim Niê trú tại buôn Cư Knia, xã Ea Bar, huyện Buôn Đôn cùng đi rẫy, đến gần trưa Y Chim Niê về nhà trước để nấu cơm. Trên đường về nhà, Y Chim Niê bắt được một con cóc và mang về làm thịt ăn. Phát hiện trong bụng cóc có một buồng trứng, do không biết trứng cóc có độc nên Y Chim Niê đem nấu chung với thịt cóc để các anh em cùng ăn.
Đến khoảng 12 giờ trưa cùng ngày, khi chị H’Jút Niê từ rẫy về thì phát hiện các em là Y Chim Niê chín tuổi và Y Wi Niê bốn tuổi đang bị nôn ói liên tục, còn H’Tuyết Niê hai tuổi thì nằm li bì, bất tỉnh trong nhà.
Chị H’Jút Niê gặng hỏi thì Y Chim Niê cho biết đã làm thịt cóc và cả ba anh em cùng ăn, trong đó H’Tuyết Niê ăn nguyên bộ trứng cóc. Nghi ngờ ba em bị ngộ độc thịt và trứng cóc nên H’Jút liền gọi người thân trong gia đình lập tức đưa các em đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Đác Lắc cấp cứu.
Thời gian qua, tình trạng ăn thịt cóc bị ngộ độc xảy ra tại nhiều địa phương trong cả nước, vì vậy các bác sĩ khuyến cáo người dân không nên ăn thịt cóc. Mặc dù thịt cóc chứa nhiều chất dinh dưỡng nhưng độc tố của cóc có rất nhiều ở nội tạng, trứng, da, nếu ăn phải dễ bị ngộ độc và nguy hiểm đến tính mạng.
http://www.nhandan.org.vn/suckhoe/tin-tuc/item/27088102-mot-chau-be-tu-vong-do-ngo-doc-thit-va-trung-coc.html
Mẹ đi lấy quần áo trong 2 phút, con trai tử vong ở phòng tắm
Chỉ sau 2 phút chạy đi lấy quần áo khi quay trở lại người mẹ đã phát hiện con trai bị đuối nước trong phòng tắm và tử vong sau đó.
Nạn nhân trong sự việc đáng tiếc trên là bé trai 2 tuổi có tên Edward. Cậu bé là con trai của cô Zoe Warner-Simpson, 29 tuổi sống tại Milton Keynes, Anh.
Tai nạn xảy ra chiều ngày 13/4 tại nhà riêng. Lúc đó, mẹ của Edward đã để bé và anh trai chơi trong bồn tắm chỉ trong 2 phút để đi lấy quần áo ngủ thay cho con. Thế nhưng khi quay lại cô phát hiện con nằm úp mặt, bất động trong bồn tắm.
Khẩn trương đưa bé đến bệnh viện nhưng các bác sĩ xác định cậu bé đã bị tổn thương não vì thiếu oxy. Điều trị trong viện vài ngày, gia đình quyết định tháo ống thở để Edward ra đi thanh thản. Tai nạn thương tâm này xảy ra khiến nhiều cha mẹ bàng hoàng.
“Edward bị tổn thương não, cơ hội sống sót của bé rất thấp. Ngay cả khi còn sống, bé cũng sẽ không bình thường. Theo lời khuyên của bác sĩ, chúng tôi quyết định để bé ra đi, đó là cách tốt nhất chúng tôi có thể làm cho bé”, người mẹ cho hay.
Thẩm phán Tom Osborne cho rằng vụ sự việc không có sự tham gia của bên thứ ba. Cái chết của Edward chỉ là một tai nạn bi thảm: “Tôi chắc chắn đây là cơn ác mộng tồi tệ nhất của gia đình. Mẹ để con lại trong bồn tắm đúng hai phút để đi lấy quần áo. Nhưng khi trở về, họ thấy con đang úp mặt vào bồn tắm. Tôi chia sẻ sự đồng cảm và có lời chia buồn với gia đình. Tắm với trẻ con là một chuyện rất bình thường, không ai có thể ngờ đến tình trạng này.”
Sau khi Edward về với chúa, mẹ của bé đã đăng một bức ảnh mặt trăng vàngôi sao năm cánh với lời chú thích: “Edward của tôi! Bé đã tỏa sáng kể từ khi có đôi cánh của riêng mình. Ngày chúng tôi mất bé, tôi cảm thấy như nhìn thấy con trai tôi tỏa sáng trên trời”.
http://phunutoday.vn/xa-hoi/me-di-lay-quan-ao-trong-2-phut-con-trai-tu-vong-o-phong-tam-81257.html
5 sai lầm hay gặp khi nuôi dưỡng trẻ
Một số bà mẹ có thói quen cho con ăn cơm nhai, cơm mớm rất mất vệ sinh, thậm chí còn là nguồn lây truyền bệnh. Dưới đây là một số sai lầm trong chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ thường gặp:
Không cho con bú sữa mẹ
Sữa mẹ là nguồn thức ăn tự nhiên tốt nhất cho trẻ, có đầy đủ các thành phần dinh dưỡng với tỷ lệ cân đối phù hợp với hệ tiêu hóa và hấp thụ của bé. Nó có kháng thể giúp trẻ tăng cường sức đề kháng chống lại các bệnh nhiễm trùng.
Nuôi con bằng sữa mẹ sẽ giảm nguy cơ suy dinh dưỡng hoặc thừa cân/béo phì, các bệnh mãn tính không lây khi trưởng thành; đặc biệt là bệnh lý tim mạch, tăng huyết áp, đái tháo đường,...
Sữa mẹ có nhiều lợi ích cho trẻ nhưng không phải bà mẹ nào cũng biết và thực hiện. Theo kết quả nghiên cứu tại Kiến Thụy, Hải Phòng, tỷ lệ bà mẹ cho con bú sau sinh một giờ đầu là 55%; chỉ 20% cho con bú hoàn toàn trong 6 tháng đầu.
Các yếu tố ảnh hưởng đến nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu thường là mẹ phải đi làm sớm, bà mẹ nghĩ rằng sữa của mình không tốt bằng sữa công thức, chuộng sữa ngoại, muốn giữ gìn vóc dáng... Ngoài ra, một số bà mẹ không biết cách cho trẻ bú đúng cách và bảo vệ nguồn sữa của mình.
Ăn bổ sung quá sớm hoặc quá muộn
Ăn bổ sung là hình thức bổ sung thêm thức ăn khác cho trẻ ngoài sữa mẹ. Theo khuyến nghị của Tổ chức Y tế Thế giới, thời điểm cho trẻ ăn bổ ăn dặm là khi bé tròn 6 tháng tuổi. Do nhu cầu của trẻ tăng cao, sữa mẹ không đáp ứng đủ vì vậy cần bổ sung thêm thức ăn cho bé.
Hiện nay nhiều chị em quan niệm cho ăn bổ sung sớm, trẻ sẽ cứng cáp hơn và không bị đói. Vì vậy, nhiều bé đã được cho ăn bổ sung từ tháng thứ 4, 5 thậm chí từ tháng tuổi thứ 3. Điều đó ảnh hưởng đến việc tận dụng nguồn sữa mẹ, trẻ dễ bị rối loạn tiêu hóa dẫn đến suy dinh dưỡng. Đặc biệt một số bà mẹ ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa vẫn còn cho trẻ ăn cơm nhai, cơm mớm rất mất vệ sinh, thậm chí còn là nguồn lây lan truyền bệnh cho trẻ.
Trẻ ăn bổ sung sớm sẽ làm tăng gánh nặng cho bộ máy tiêu hóa, ảnh hưởng đến tiêu hóa, sức khỏe và sự phát triển của trẻ. Thức ăn bổ sung thường khó tiêu, nên bé sẽ biếng ăn. Không đủ chất dinh dưỡng, bé sẽ chậm tăng cân và dễ bị suy dinh dưỡng. Chế độ ăn được tuần tự từ các thức ăn lỏng như sữa, chuyển sang bột loãng, bột đặc rồi cháo và cơm.
Ngược lại, khi cho trẻ ăn bổ sung muộn, sữa mẹ không đủ đáp ứng nhu cầu thì trẻ sẽ chậm tăng cân. Ngoài bú sữa mẹ, trẻ cần được ăn thêm 1 - 2 bữa bột trong một ngày.
Chăm sóc và nuôi dưỡng khi trẻ ốm
Chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ trước, trong, sau khi bị ốm rất quan trọng vì nó sẽ làm cho bệnh mau khỏi, tăng cường sức đề kháng.
Khi trẻ bị ốm sốt, tiêu chảy... nhu cầu năng lượng và các chất dinh dưỡng cần nhiều hơn bình thường. Tuy nhiên, một số bà mẹ lại có quan niệm sai lầm bắt trẻ phải ăn kiêng khem như không cho trẻ ăn dầu hoặc mỡ, chỉ cho ăn bột ngọt (đường), không cho trẻ bú, không cho trẻ ăn rau xanh... vì sợ con đi ngoài nhiều hơn.
Sau khi khỏi bệnh, cha mẹ lại không cho trẻ ăn nhiều hơn để mau chóng phục hồi sức khỏe. Chế độ ăn uống kiêng khem, bữa ăn của trẻ mất cân đối không đủ chất, dễ bị nguy cơ suy dinh dưỡng.
Cho trẻ ăn quá nhiều chất bổ dưỡng
Nhu cầu chất đạm của trẻ 6 - 11 tháng tuổi là 2 - 2,5 g cho một kg cân nặng mỗi ngày, nhu cầu trung bình là 20 - 30 g thịt một bữa. Lượng dầu hoặc mỡ 1-2 thìa cà phê, lượng rau xanh 1-2 thìa cà phê mỗi bữa. Công thức một bữa bột cua cho trẻ 7 - 9 tháng tuổi gồm: bột gạo tẻ 4 thìa cà phê, nước lọc cua một bát con, mỡ ăn một thìa cà phê, rau xanh giã nhỏ 2 thìa cà phê.
Trong năm đầu, nhu cầu dinh dưỡng của trẻ rất cao trong khi đó dạ dày nhỏ, hệ tiêu hóa yếu, nếu nuôi dưỡng không tốt trẻ dễ bị tiêu chảy, kéo theo suy dinh dưỡng, còi xương. Vì vậy, các bà mẹ cần chú ý vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm trong khi lựa chọn thực phẩm, trong bảo quản/chế biến...; cho trẻ ăn đúng nhu cầu cần thiết, tránh ăn quá nhiều chất bổ dưỡng.
Bữa ăn bổ sung của trẻ phải đảm bảo đủ các chất dinh dưỡng thiết yếu: đường bột, chất đạm, chất béo, vitamin và chất khoáng. Khẩu phần ăn quá nhiều chất đạm, khiến hệ tiêu hóa non nớt phải làm việc mệt mỏi, dễ rối loạn tiêu hóa, gây phân sống, tiêu chảy,..
Một sai lầm khác cũng hay gặp là một số bà mẹ vẫn cho rằng nước thịt, nước hầm xương là đủ bổ, không cho trẻ ăn cái... Thực tế, các loại nước hầm này hầu như không chứa đạm. Nhiều bà mẹ không cho con ăn cá, cua, tôm, trứng... vì sợ trẻ bị dị ứng với thức ăn, sợ chất tanh. Điều này dễ gây chán ăn, đồng thời tạo thói quen ăn uống thiên lệch, khó thay đổi về sau.
Nhỏ không được nuôi dưỡng, chăm sóc, lớn lên sẽ “nuôi bù”
Đây là một quan điểm hết sức sai lầm. Thực tế khoa học đã chứng minh suy dinh dưỡng trong giai đoạn trước và trong quá trình mang thai, trong 2 năm đầu đời của trẻ, đã lập trình cho mỗi cá nhân trong việc điều tiết tăng trưởng và ảnh hưởng đến sự phát triển não bộ.
Do vậy suy dinh dưỡng đầu đời có thể dẫn đến những tổn thương không phục hồi được đối với sự phát triển của não, hệ miễn dịch và tăng trưởng thể lực. Trẻ có não kém phát triển những năm đầu đời sẽ có nguy cơ về các bệnh của hệ thần kinh sau này: Học tập kém, bỏ học sớm hơn, kỹ năng làm việc kém... Giai đoạn 1.000 ngày đầu đời chính là cửa sổ cơ hội để phòng ngừa các bệnh mạn tính không lây có liên quan đến dinh dưỡng như thừa cân béo phì, rối loạn chuyển hóa, các bệnh tim mạch, huyết áp, loãng xương.
Việc chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ từ khi còn trong vào thai đến khi trẻ được 2 tuổi là rất quan trọng, quyết định đến chiều cao, cân nặng, bệnh tật và bộ não của trẻ khi trưởng thành. Nếu giai đoạn này trẻ không được chăm sóc nuôi dưỡng tốt thì dù có nỗ lực đến đâu cũng không thể bù đắp được vì hầu như mọi chuyện đã được “an bài”.
http://alobacsi.com/tre-em/nuoi-con/5-sai-lam-hay-gap-khi-nuoi-duong-tre-a20150806073322194c353.htm
66% dân số ở đô thị lớn bị… ho
Đó là kết quả nghiên cứu của Công ty Nielsen (nghiên cứu độc lập) được tiến hành vào cuối năm 2014 được nêu ra tại Hội thảo khoa họcPhòng ngừa các bệnh thường gặp theo mùadiễn ra vào ngày 6-8.
Theo nghiên cứu này, tỉ lệ người mắc bệnh ho trong ba tháng gần đây tại các TP phố lớn của Việt Nam là 66%, trong đó trẻ em 3-7 tuổi chiếm đến 72%.
BS Lâm Quốc Dũng, khoa Hô hấp, BV Chợ Rẫy cho biết, ho là một phản xạ bảo vệ cơ thể, ho tống những chất nhầy, chất lạ trong đường hô hấp ra ngoài. Có hai loại, ho khan và ho đàm. Ho khan có thể nguyên nhân do hội chứng trào ngược dạ dày thực quản, dịch dạ dày làm viêm họng. Hoặc ho đàm nguyên nhân có thể viêm xoang sàng sau hay sàng trước làm chảy nước mũi, gây viêm họng mãn và gây ra ho…
Tại hội thảo, các BS khuyến cao người bệnh nên dùng các loại thuốc trợ họ làm long đàm, tống các chất nhầy gây kích thích ho ra khỏi đường hô hấp hơn là dùng thuốc điều trị.
http://phapluattp.vn/suc-khoe/66-dan-so-o-do-thi-lon-bi-ho-572517.html
Làm sao để tự đo huyết áp đúng cách?
Mỗi người đều có thể tự đo huyết áp tại nhà, tuy nhiên không phải ai cũng thực hiện đúng cách.
Theo Bs. Nguyễn Thảo Nguyên, Trung tâm Tim mạch, BV E, đo huyết áp là tối cần thiết, là cách đơn giản nhất để phát hiện sớm hoặc theo dõi căn bệnh tăng huyết áp. Mỗi người đều có thể tự đo huyết áp cho mình tại nhà, tuy nhiên không phải ai cũng hiểu và thực hiện đo đúng cách. Việc đo không đúng cách, rồi dựa vào kết quả sai lệch để quyết định uống thuốc hay không uống thuốc tai hại không kém việc quên đo huyết áp. Do vậy, muốn tự đo huyết áp cho đúng cần lưu ý những điều sau:
1. Tư thế
Bệnh nhân phải chọn tư thế ngồi thoải mái. Trước đó nên thư giãn 5 phút. Đo huyết áp nếu muốn thực sự chính xác không thể mất dưới 10 phút. Không đo huyết áp ngay sau khi chạy nhanh, leo cầu thang (trừ khi thầy thuốc cần đo lúc gắng sức), vừa mới ăn no, quá đói, quá mệt…, vì huyết áp khi đó cao hay thấp hơn con số trung thực.
2. Vị trí đo huyết áp
Với máy đo điện tử, có thể đo huyết áp ở bắp tay hay cổ tay miễn là điểm cảm ứng trong băng quấn tay (sensor) phải nằm ngang mực tim. Nếu đo ở bắp tay có thể đặt cánh tay nằm ngửa trên mặt bàn với điểm cảm ứng nằm trên nếp khuỷu tay khoảng 2cm. Nếu đo ở cổ tay thường phải gập cánh tay một góc khoảng 45 độ để cổ tay ngang với trái tim. Do đó, đo huyết áp ở cổ tay dễ sai lệch hơn đo ở bắp tay vì người đo khó giữ cánh tay cho yên.
3. Phương tiện
- Máy đo: Nói chung, máy đo hiện nay hầu như đều có độ chính xác cao. Muốn chắc chắn nên so sánh kết quả của máy tự động với máy kinh điển đo bằng thính lực. Nếu dùng máy điện tử tự động nên chọn máy:
+ Vận hành đơn giản chỉ với một nút (one touch) để người đo đỡ phân tâm.
+ Bơm nhanh và không gây tiếng động lớn khi bơm hơi để người đo bớt lo lắng trong khi chờ đợi.
+ Có tính cảm ứng cao thể hiện qua dấu hiệu máy ngưng vận hành ngay khi cánh tay cử động thay vì tiếp tục bơm rồi cuối cùng báo lỗi.
- Bao quấn tay: Phải dài tối thiểu 33 cm nếu đo ở bắp tay và 19,5 cm nếu đo ở cổ tay. Nếu bao quá dài hay quá ngắn do người quá ốm hay quá mập phải thay bao khác với chiều dài thích hợp. Bao khi quấn phải chặt nhưng không gây cảm giác khó chịu cho người đo.
4. Thao tác
- Không ăn, không uống, không nói trong lúc đo huyết áp vì có thể gây sai lệch kết quả.
- Khi đo lần đầu cần đo cả hai tay để sau đó chọn cánh tay với huyết áp có khuynh hướng cao hơn.
- Nên đo huyết áp ngày hai lần, buổi sáng trước khi uống thuốc và buổi chiều sau bữa ăn khoảng 1 giờ. Ghi tất cả kết quả với ngày và giờ đo vào sổ để thầy thuốc tiện việc đánh giá trong lần tái khám.
5. Kết quả
- Phải ghi cả hai trị số thu tâm (số lớn) và trương tâm (số nhỏ) vì thầy thuốc chỉ có thể định bệnh cũng như đánh giá diễn tiến khi có đủ hai trị số.
- Trị số huyết áp không cố định, thay đổi theo nhịp sinh học, trọng lượng, nếp sinh hoạt…, thường có khuynh hướng cao hơn vào buổi sáng sớm, đúng ngọ và buổi tối. Do đó, không nên mất bình tĩnh nếu thấy huyết áp trong ngày dao động ít nhiều.
+ Huyết áp được định nghĩa là cao nếu huyết áp thu tâm >140 và huyết áp trương tâm >90. Tuy vậy, không nên coi thường huyết áp với trị số 135/85 nếu kéo dài nhiều ngày. Mặt khác, trị số huyết áp đơn phương không phản ánh mức độ nghiêm trọng mà là khoảng sai biệt giữa hai trị số. Khoảng này càng hẹp càng nguy hiểm. Thí dụ: huyết áp 150/90 (sai biệt là 60) tuy thuộc về huyết áp cao nhưng ít nguy hiểm bằng huyết áp 140/100 (sai biệt là 40).
+ Nếu ghi nhận huyết áp cao nên nằm nghỉ 15-30 phút rồi đo lại. Nếu huyết áp vẫn cao nên tham vấn ý kiến thầy thuốc cho sớm thay vì tự điều trị hay do dự.
+ Ðừng quên là kết quả rất dễ sai lệch nếu máy đo sắp hết pin. Nếu cẩn thận nên thay pin mới và đo lại huyết áp.
http://www.baogiaothong.vn/lam-sao-de-tu-do-huyet-ap-dung-cach-d115388.html
5 hành động khiến trẻ đang sốt gặp nguy hiểm
Khi trẻ sốt, bố mẹ luôn tìm mọi cách để con hạ nhiệt nhanh nhất, mà không ngờ hành động này chính là nguyên nhân khiến bé gặp nguy hiểm.
1. Dán miếng hạ sốt PGS. TS Nguyễn Tiến Dũng, nguyên Trưởng khoa Nhi, Bệnh viện Bạch Mai, cho biết hiện nay trên thị trường chủ yếu là miếng dán lạnh, hạ nhiệt theo cơ chế hấp thụ nhiệt và phân tán ra ngoài nhưng thực tế chưa có nghiên cứu khoa học nào chứng minh tác dụng của phương pháp này. Bệnh viện Bạch Mai từng tiếp nhận nhiều trẻ nhập viện trong tình trạng khó thở, người tím tái trong cơn co giật do các mẹ chỉ dùng miếng hạ dán hạ sốt mà không cho trẻ uống thuốc, trong khi biện pháp này không đem lại tác dụng cho trẻ. Bên cạnh đó, nhiều trẻ còn bị viêm da vùng trán do dán quá lâu khiến lỗ chân lông bị bít. Đặc biệt, khi trẻ bị dị ứng với các chất trong miếng dán rất nguy hại. Nếu không phát hiện kịp thời cũng có thể ảnh hưởng đến sức khỏe, thậm chí gây tử vong. “Khi trẻ bị sốt, có thể dùng khăn ấm lau toàn thân cho trẻ, đặc biệt lau nhiều ở trán, 2 hốc nách và bẹn, thay khăn 2-3 phút/lần để trẻ hạ nhiệt. Không nên cho trẻ dùng miếng dán hạ sốt bởi vừa mất tiền vừa không giúp trẻ hạ sốt, chưa kể đến việc còn gây hại cho trẻ", ông Dũng cho hay. 2. Chườm lạnh Thay vì dùng khăn ấm lau người cho trẻ, chườm lạnh là biện pháp hầu như bố mẹ nào cũng áp dụng khi con sốt nhưng thực chất biện pháp này không có tác dụng mà còn gây hại. Theo PGS Dũng, khi trẻ sốt bố mẹ thường không hiểu rõ căn nguyên từ đâu, nếu sốt do nhiễm khuẩn, viêm phổi, chườm lạnh sẽ làm bệnh trầm trọng thêm. Đặc biệt, bố mẹ tuyệt đối không dùng đá chườm vì có thể gây bỏng lạnh, khiến trẻ bị suy hô hấp. Đắp khăn lạnh, tắm lạnh hay chườm lạnh chỉ được thực hiện trong trường hợp say nóng, say nắng. Tuy nhiên, vị chuyên gia này không khuyến khích vì hiệu quả rất thấp. 3. Đóng kín cửa Bác sĩ Dũng cho biết sốt quá cao sẽ gây hiện tượng co mạch ngoại vi nên trẻ em (kể cả người lớn) lúc này sẽ có cảm giác ớn lạnh, rét run, chân tay lạnh ngắt nhưng thực chất nhiệt độ trong người rất nóng, lên đến 40-41 độ C. Vì thế, càng đắp chăn, càng đóng kín cửa, thân nhiệt càng lên cao, khi đó, trẻ lại càng lạnh, đến khi lên đỉnh điểm, trẻ sẽ bị co giật, tím tái. "Khi bị sốt là không được đắp chăn, không được đóng kín cửa mà phải mở cửa, quạt cho thông gió, để không khí trong nhà lưu thông. Với cách này chỉ một lúc sau người bệnh sẽ hết cảm giác rét, cơ thể dần ấm lên. Trong khi đó, hầu hết chúng ta lại làm ngược lại, khiến bệnh càng nặng thêm", tiến sĩ Dũng khuyến cáo. Chuyên gia lưu ý thêm việc tạo môi trường, không khí thông thoáng rất quan trọng trong việc thoát nhiệt của cơ thể, làm cơn sốt tan biến, thậm chí trẻ không cần phải uống thuốc. 4. Uống thuốc hạ sốt Nhiều ông bố mà mẹ đều có chung tâm lý là phải hạ sốt thật nhanh cho con bằng mọi cách như uống thuốc, đặt thuốc ở hậu môn, dùng thuốc kết hợp. Bác sĩ Dũng nhấn mạnh: “Cha mẹ không cho trẻ uống thuốc hạ sốt khi nhiệt độ dưới 38,5 độ C. Cũng không cho trẻ uống thuốc co giật sớm, điều này sẽ làm khó cho bác sĩ khi thăm khám”. Ở trẻ, thân nhiệt ở miệng từ 37,5 độ C trở lên, ở nách từ 37,2 độ C tức là bé đang sốt, song không phải trường hợp nào cũng cần dùng đến thuốc hạ sốt. Khi sốt nhẹ, thân nhiệt trẻ ở mức 37,5-38,5 độ C, chỉ cần cởi bớt quần áo, cho bé uống nhiều nước, hoặc bú mẹ nhiều hơn. Nếu trẻ ở nhiệt độ từ 38,5 độ C trở lên, có thể dùng loại thuốc được ưu tiên dùng, ít tác dụng phụ nhất hiện nay là paracetamol với liều 15mg/kg cân nặng. Khoảng cách các lần uống từ 4-6 tiếng. Sau uống khoảng gần một tiếng thuốc mới bắt đầu phát huy tác dụng và hạ sốt dần. Trong thời gian chờ thuốc có tác dụng,tránh nôn nóng cho trẻ uống thêm thuốc. 5. Ăn kiêng Khi trẻ bị ốm thường kèm theo các biểu hiện sốt, tiêu chảy, nhu cầu năng lượng và các chất dinh dưỡng cần nhiều hơn bình thường. Tuy nhiên, nhiều bà mẹ lại bắt trẻ phải ăn kiêng khem như không cho trẻ ăn dầu hoặc mỡ, không cho trẻ bú, không cho trẻ ăn rau xanh, chất tanh bởi sợ trẻ đi ngoài nhiều hơn. Bác sĩ Dũng khuyến cáo chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ trong và sau khi bị ốm rất quan trọng vì nó sẽ làm cho bệnh mau khỏi, mau phục hồi sức khỏe và tăng cường sức đề kháng đối với bệnh tật. Đặc biệt, trường hợp sốt mất nước, không được bù nước (uống nước Oresol) và ăn uống thiếu chất, trẻ dễ bị nguy cơ suy dinh dưỡng, sức đề kháng yếu, lâu lành bệnh.
:http://news.zing.vn/5-hanh-dong-khien-tre-dang-sot-gap-nguy-hiem-post566461.html
Fanpage
Youtube


















