Điểm báo từ ngày 4 đến ngày 10 tháng 12 năm 2018
10/12/2018
0
Điểm báo từ ngày 4 đến ngày 10 tháng 12 năm 2018
Ngành Y tế đã có sự thay đổi rất lớn
Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị thường niên Câu lạc bộ Giám đốc các Bệnh viện khu vực phía Nam lần thứ XVII 2018, PGS.TS Nguyễn Thị Kim Tiến - Bộ trưởng Bộ Y tế cho biết, “Tôi thật sự hạnh phúc khi thấy ngành y đã có sự thay đổi rất lớn. Đây là kết quả của rất nhiều nỗ lực. Trong đó, phải kể đến vai trò quản lý của giám đốc và ban lãnh đạo các bệnh viện”…
PGS.TS Nguyễn Trường Sơn – Thứ trưởng Bộ Y tế, Chủ nhiệm Câu lạc bộ Giám đốc Các Bệnh viện khu vực phía Nam cũng nhấn mạnh, đáp ứng tình hình phát triển kinh tế xã hội của đất nước, ngành y tế cả nước trong thời gian qua đã đạt nhiều thành tựu đáng tự hào, nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật được triển khai tại nhiều đơn vị trong cả nước. Để đạt được những thành tựu này, phải kể đến vai trò lãnh đạo và quản lý hiệu quả của Lãnh đạo Bộ Y Tế của như lãnh đạo các đơn vị. Thứ trưởng Nguyễn Trường Sơn cũng mong muốn, thông qua Hội nghị những chủ trương, thông tin cập nhật từ Bộ Y Tế, những chia sẻ kinh nghiệm trong việc thực hiện quản lý tại các đơn vị, giúp các nhà quản lý có thể áp dụng, cải tiến được tại đơn vị của mình, theo phương châm lấy người bệnh làm trung tâm phục vụ.
Báo cáo tại Hội nghị, PGS.TS Lương Ngọc Khuê – Cục trưởng Cục Quản lý Khám, chữa bệnh Bộ Y tế cho biết, người bệnh đã hài lòng hơn với chất lượng khám chữa bệnh. Như kết quả khảo sát hài lòng người bệnh trực tuyến sau 1 năm với trên 1 triệu phiếu khảo sát: tỷ lệ hài lòng của người bệnh nội trú đạt 75,6%, người bệnh ngoại trú đạt 66,3%.
Kết quả khảo sát độc lập của Tổ chức Sáng kiến Việt Nam phỏng vấn qua điện thoại với 3000 người bệnh sau ra viện có kết quả tỷ lệ hài lòng đạt 79,6%. Khảo sát độc lập của PAPI cũng cho thấy người dân hài lòng hơn về dịch vụ y tế công. Riêng năm 2018, có sự tiến bộ hết sức rõ rệt.
PGS.TS Lương Ngọc Khuê cũng cho biết thêm, nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật được ứng dụng thành công, đặc biệt trong lĩnh vực ghép tạng. Chẳng hạn, thực hiện thành công ca ghép phổi đầu tiên trên người tại Việt Nam; ca ghép tim cho bệnh nhân 10 tuổi; Bệnh viện Chợ Rẫy lập 8 kỷ lục Việt về ghép tạng do Hội Kỷ lục Việt Nam xác nhận. Kết quả đáng ghi nhận khác là giảm nằm ghép và giảm quá tải ở nhiều chuyên khoa.
Các bệnh viện ký cam kết không để người bệnh nằm ghép trong 24 - 48 giờ. Tỷ lệ nằm ghép so với năm 2012 giảm từ 58% xuống còn 16,7% ở tuyến trung ương; từ 47% xuống còn 11,4% ở tuyến tỉnh. Mạng lưới bệnh viện vệ tinh ở tất cả 63 tỉnh/thành phố, tăng từ 98 (2016) lên 117 (năm 2917) giúp giảm tỷ lệ bệnh nhân chuyển tuyến từ tuyến tỉnh lên trung ương, so với năm 2012: chuyên khoa tim mạch, ngoại khoa giảm 98,5%, ung thư giảm 97%, sản khoa giảm 99%, nhi khoa giảm 73% (Sức khỏe & Đời sống,
Thu tiền của sinh viên thực hành tại bệnh viện, nên hay không?
Từ tháng 11-2017, theo Nghị định 111/2017/NĐ-CP, các BV được phép thu tiền thực hành của sinh viên, học viên. Điều này đã tạo nên một cơn “khủng hoảng” giữa các trường đại học y (ĐHY) với các bệnh viện (BV) là cơ sở thực hành. Điều này khiến sinh viên lo bị tăng học phí và ảnh hưởng đến hoạt động đào tạo của trường ĐHY.
Tại Hội nghị “Đổi mới giáo dục y khoa toàn quốc” diễn ra 2 ngày cuối tuần vừa qua, đây là nội dung “nóng” nhất với những ý kiến khá gay gắt của lãnh đạo nhiều trường ĐHY.
Từ nhiều thập kỷ qua, việc hợp tác giữa Trường ĐHY Hà Nội với các BV lớn như Việt Đức, Bạch Mai, Xanh Pôn, Nhi Trung ương, BV K, Bệnh viện Phụ sản Trung ương vẫn tồn tại “tự nhiên như hơi thở, như trong một nhà” như lời của GS. Trần Bình Giang – Giám đốc BV Việt Đức. Bởi 2 bên đều có lợi khi trường y có nơi thực hành cho sinh viên, học viên, còn các BV có một lực lượng lao động rất lớn mà không phải trả tiền.
Nhưng một số BV lại “đòi tiền” Trường ĐHY với lý do: Mỗi ngày có hàng trăm sinh viên, học viên đến BV thực hành, sẽ tiêu hao điện, nước, xà phòng, bông băng, cồn, gạc vv… trong khi BV phải tự chủ về kinh phí. Rồi giảng viên của Trường ĐHY đến BV làm việc thì “khó quản”, vì không phải người của BV; BV mất công đào tạo cán bộ thành nghề thì họ lại chuyển đi BV khác; có giảng viên của trường làm lãnh đạo khoa ở BV, nhưng khi nghỉ hưu ở trường, BV vẫn không biết…
Tuy nhiên, có một thực tế là qui định chưa thấy cái lợi lớn hơn nhiều mà các BV được hưởng. Đó là hàng ngàn sinh viên, học viên Trường ĐHY, như ĐHY Hà Nội– nơi luôn tuyển sinh với điểm đỗ đại học cao ngất ngưởng – chính là nguồn nhân lực chất lượng cao mà các BV được sử dụng “không công”.
Mỗi ngày, hàng ngàn bác sĩ nội trú, chuyên khoa vừa học, vừa phục vụ bệnh nhân tại các BV, hỗ trợ rất hiệu quả cho các BV khám, chữa bệnh, đặc biệt là trong cấp cứu. Ở các BV tuyến cuối luôn quá tải thì đây chính là lực lượng quý giá giúp cho chủ trương giảm tải của Bộ Y tế trở thành hiện thực, vì các BV không thể đủ nhân lực.
Trong các “tua” trực, 100% sinh viên và bác sĩ nội trú, chuyên khoa làm thâu đêm. Ở BV ngoại khoa hàng đầu như Việt Đức, với hàng trăm ca phẫu thuật mỗi ngày, thì việc có các sinh viên phụ mổ là rất quan trọng.
Bên cạnh đó, các giáo viên của các Trường ĐHY Hà Nội là những chuyên gia hàng đầu, ăn lương của trường nhưng đến BV làm việc “không công”, hoặc được BV trả công “bèo bọt” so với mức lương vài trăm triệu mà các BV tư sẵn sàng trả cho họ.
Hiện nay, BV Bạch Mai đang có tới 168 cán bộ của Trường ĐHY Hà Nội, BV Việt Đức có 69 người, đều là các chuyên gia giỏi. Họ vừa giảng dạy sinh viên, vừa trực tiếp khám, chữa bệnh như bác sĩ của BV, nhiều người còn làm quản lý: lãnh đạo BV, Khoa, Trung tâm vv…
Theo GS. Trần Bình Giang: “Nếu không có những chuyên gia giỏi của Trường ĐHY Hà Nội, thì nhiều bệnh nhân ở BV Việt Đức đã không có cơ hội sống”.
Việc cho phép các BV thu tiền của sinh viên thực hành dường như đã “thương mại hóa” vấn đề vô cùng nhạy cảm là giáo dục ở ngành y tế. Bất hợp lý nhất chính là không nhìn thấy giá trị về tri thức của đội ngũ giáo sư, tiến sĩ, chuyên gia, sinh viên ở ngôi trường nổi tiếng này lớn gấp nhiều lần giá trị vật chất mà một số BV đang đòi. Vì vậy đã làm “xáo trộn” một truyền thống vốn tốt đẹp giữa các BV lớn với Trường ĐHY –nơi đào tạo hầu hết các cán bộ lãnh đạo, bác sĩ của các BV.
Nhằm tháo gỡ những vướng mắc do qui định cho phép các BV thu tiền của sinh viên đến thực hành, trong ngày 3 và 4-12, Hiệu trưởng Trường ĐHY Hà Nội đã có hàng loạt buổi làm với 10 BV là cơ sở đào tạo, thực hành của trường. May mắn, hầu hết các BV đều nhìn rõ điều mà Nghị định 111 “không thấy” là quyền lợi các BV được hưởng.
Vì thế, hầu hết các BV đều nhất trí duy trì mối quan hệ truyền thống để tiếp tục hợp tác. Giám đốc BV Phụ sản Trung ương, Giám đốc BV K cho biết sẵn sàng hỗ trợ thêm thầy và trò Trường ĐHY đến BV thực hành. BV K và BV Đống Đa còn đề nghị Trường ĐHY Hà Nội cử thêm cán bộ và sinh viên đến để “đỡ” cho BV.
Các BV Bạch Mai, Việt Đức, Xanh Pôn, Đống Đa vv… đều nhất trí không thu phí các sinh viên, học viên đến thực hành. GS. Trần Bình Giang cho hay: “Chút tiền còm ấy đáng gì với hoạt động của một BV đầu ngành như Việt Đức”. BV Y học Cổ truyền tha thiết đề nghị được trở thành cơ sở đào tạo của ĐHY Hà Nội.
Trong số các BV, duy chỉ có BV Nhi Trung ương vẫn đòi thu tiền thực hành của sinh viên, học sinh trường y. Để tiếp tục tháo gỡ những vướng mắc mà các BV đưa ra, GS. Tạ Thành Văn –Hiệu trưởng Trường ĐHY Hà Nội cho biết, tới đây Trường sẽ rà roát lại toàn bộ các lĩnh vực hợp tác để có qui chế phối hợp. Cán bộ được cử đến các BV phải có sự đồng ý của lãnh đạo nhà trường và BV, thay cho trước đây chỉ do Trưởng Bộ môn của trường quyết định. Tăng cường thông tin 2 chiều giữa BV và nhà trường để quản lý cán bộ và sinh viên tốt hơn.
Việc Trường ĐHY Hà Nội và các BV bắt tay nhau giải quyết “cuộc khủng hoảng”, sẽ tạo tiền lệ để các Trường ĐHY và các BV trên cả nước thoát ra khỏi vướng mắc do mối quan hệ hợp tác trong đào tạo - thực hành bị “thương mại hóa” kể từ cuối năm 2017. (Công an Nhân dân, trang 7).
An toàn thực phẩm và trách nhiệm truyền thông
An toàn thực phẩm (ATTP) luôn được Nhà nước và xã hội quan tâm sâu sắc. Đây cũng là một chủ đề chính được đăng tải thường xuyên trên các phương tiện báo chí, truyền thông trong những năm gần đây, giúp công chúng ngày càng ý thức hơn tới quy trình sản xuất, cách thức tạo ra thực phẩm họ tiêu dùng hằng ngày, đồng thời đề cao vấn đề an toàn và dinh dưỡng. Đáng chú ý, báo chí truyền thông, qua những bài viết giàu tính phát hiện, cũng đã cảnh báo về quy trình sản xuất nông nghiệp không an toàn.
Tuy nhiên, nếu nhìn nhận một cách thấu đáo và toàn diện, thực tế vẫn còn tình trạng thông tin về ATTP thiếu khoa học, thiếu chính xác, thậm chí thông tin nhằm phục vụ mục đích không trong sáng, vụ lợi, được “cường điệu hóa”. Trong thời đại thông tin bùng nổ, sự phát triển của mạng xã hội thì những biến tướng này càng trở nên đáng sợ và lan rộng. Điều này cho thấy, trách nhiệm to lớn của báo chí chính thống không chỉ phải cung cấp thông tin một cách khoa học, đầy đủ, giúp công chúng có kiến thức tiêu dùng mà còn phải là những cơ quan giúp Nhà nước, nhân dân và doanh nghiệp định hướng, dẫn dắt dư luận và giảm tin đồn thất thiệt, các luồng dư luận xấu.
Trong buổi hội thảo có chủ đề về an toàn thực phẩm và vai trò của truyền thông khoa học mới được tổ chức ở Hà Nội cuối tháng 11 vừa qua, một chuyên gia nước ngoài đã thẳng thắn cho rằng, việc không cung cấp thông tin đầy đủ tới công chúng về những tiêu chí đánh giá này đã làm tăng sự lo lắng của người dân và dẫn tới những hiểu lầm tai hại trong sản xuất thực phẩm nói riêng, sản xuất nông nghiệp nói chung.
Nước ta có tới 24,5 triệu hộ nông dân chủ yếu sản xuất quy mô nhỏ, năng suất, chất lượng sản phẩm phụ thuộc nhiều vào phân bón, thuốc bảo vệ thực vật. Tuy nhiên, lạm dụng vật tư nông nghiệp đầu vào, cũng như thiếu kiểm soát đối với sản phẩm nguyên liệu; thiếu truy xuất nguồn gốc… đang là các yếu tố tiềm ẩn nguy cơ mất ATTP. Vấn đề mấu chốt là cần một nền tảng pháp lý chuẩn khoa học và sự tham gia của nhiều bên để thực thi các phương thức thực hành nông nghiệp bền vững. Nông dân, cơ quan quản lý, các đơn vị sản xuất - phân phối, và bản thân các cơ quan báo chí, truyền thông đều có trách nhiệm và nghĩa vụ trong việc đưa nông sản an toàn, đủ dinh dưỡng tới người tiêu dùng.
Bên cạnh đó, hành lang pháp lý cho công tác truyền thông về vấn đề ATTP, an toàn nông nghiệp chưa đầy đủ, đồng bộ cũng là một trong những nguyên nhân chính dẫn tới tình trạng nêu trên. Mới đây, Chính phủ đã giao Bộ Y tế chủ trì, phối hợp Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Công thương, Bộ Khoa học và Công nghệ tập trung chỉ đạo xây dựng hệ thống thông tin ATTP theo hướng là hệ thống thông tin mở, tin cậy, cập nhật về vệ sinh ATTP. Một mặt phục vụ yêu cầu công tác quản lý nhà nước của các bộ, ngành, địa phương. Mặt khác hỗ trợ doanh nghiệp, người dân thực hiện các quy định về vệ sinh ATTP; giúp người tiêu dùng nhận biết, truy xuất thông tin về chất lượng, nguồn gốc của sản phẩm; thúc đẩy sản xuất, kinh doanh các sản phẩm thực phẩm an toàn. Các cơ quan báo chí, truyền thông cần tăng cường năng lực, nâng cao chất lượng các chương trình phát thanh, truyền hình, đưa tin về ATTP - một vấn đề đặc biệt nhạy cảm và quan trọng với nhà sản xuất và người tiêu dùng. (Nhân dân, trang 1).
trang 3).
Thu hồi thực phẩm bảo vệ sức khỏe chứa chất cấm Sibutramine
Ngày 4-12, Cục An toàn thực phẩm (Bộ Y tế) đã ban hành quyết định về việc thu hồi sản phẩm không bảo đảm an toàn thực phẩm của Công ty TNHH Mat Xi S.G (ở số J29 đường Võ Thị Sáu, KP7, phường Thống Nhất, TP Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai).
Theo đó, Công ty TNHH Mat Xi S.G phải thu hồi ngay 2 lô thực phẩm bảo vệ sức khỏe là Go Lean Detox (sản xuất ngày 29-8-2018 và 20-10-2018) vì có chứa chất Sibutramine.
Cục An toàn thực phẩm cũng yêu cầu doanh nghiệp này chịu trách nhiệm thu hồi sản phẩm có sai phạm, dưới sự giám sát của các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền, đồng thời có trách nhiệm báo cáo với Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm tỉnh Đồng Nai và Cục An toàn thực phẩm về kết quả thu hồi.
Tại Việt Nam, Sibutramine từng được chỉ định trong điều trị béo phì và duy trì cân nặng. Tuy nhiên đây là chất gây ra tác động nguy hiểm đến hệ tim mạch ở những người có nguy cơ cao, nên từ tháng 4-2011, Bộ Y tế đã yêu cầu đình chỉ lưu hành, thu hồi toàn bộ thuốc chứa hoạt chất Sibutramine (Sức khỏe & Đời sống, trang 6).
Hơn 100 người nhiễm ấu trùng sán dây lợn
Sau khi Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng TPHCM công bố kết quả 108/904 người nhiễm ấu trùng sán dây lợn (heo gạo) tại các xã Phú Nghĩa, Đắk Ơ, Bù Gia Mập của huyện Bù Gia Mập (Bình Phước) đã khiến nhiều người dân lo lắng.
Qua công tác giám sát, Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng TPHCM đã phát hiện ổ bệnh sán dây lợn ở thôn Bù Gia Phúc 1, xã Phú Nghĩa, huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước. Nghi ngờ heo bị nhiễm ấu trùng sán dây, viện đã cử đoàn công tác đến địa phương để điều tra, thu thập mẫu thịt heo nghi nhiễm bệnh để xét nghiệm, đồng thời tổ chức xét nghiệm ấu trùng bệnh heo gạo cho nhân dân khu vực.
Kết quả, mẫu thịt heo bị nhiễm ấu trùng sán dây lợn với mật độ 50 - 70 ấu trùng/kg thịt. Sau khi có kết quả xét nghiệm, viện đã kết hợp với Trung tâm Y học dự phòng quân đội phía Nam (Bộ Quốc phòng) và các đơn vị y tế địa phương tiến hành điều tra xét nghiệm máu, chẩn đoán huyết thanh bệnh ấu trùng sán dây lợn tại các xã nói trên. Kết quả, 108/904 mẫu máu nhiễm ấu trùng sán dây lợn, chiếm tỷ lệ 11,95 %. Trong đó, xã Phú Nghĩa chiếm 9,19% (26/283), xã Đắk Ơ 14,9% (48/322), xã Bù Gia Mập 11,37% (34/299). Khảo sát một vòng quanh huyện Bù Gia Mập cho thấy, hiện trên địa bàn huyện, nguồn thực phẩm sử dụng chính trong các lễ cưới hỏi, ma chay chủ yếu là thịt heo, trâu, bò. Chính khâu chế biến thức ăn ngay tại nhà cũng như nguồn gốc vật nuôi tại địa phương tiềm ẩn nguy cơ nhiễm ấu trùng bệnh.
Trung tâm Y tế huyện Bù Gia Mập đã phản hồi danh sách những trường hợp dương tính với sán dây lợn về các trạm y tế xã để tuyên truyền, tư vấn những trường hợp này nên về Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng TPHCM và Bệnh viện Bệnh nhiệt đới khám, xét nghiệm và điều trị. Theo Phó Giám đốc Sở Y tế tỉnh Bình Phước Quách Ái Đức, nước ta đã phát hiện ít nhất 55 tỉnh, thành có các bệnh sán dây lợn, nhưng tỷ lệ mẫu máu nhiễm ấu trùng sán dây lợn ở Bình Phước cao so với tỷ lệ chung trên toàn quốc (2% - 6%). Nguyên nhân có thể do Bình Phước là vùng người dân có tập quán chăn nuôi heo thả rông để lấy thịt ăn.
Hiện Sở Y tế tỉnh Bình Phước đã có công văn chỉ đạo đến trung tâm y tế các huyện, thị xã tăng cường các biện pháp phòng chống giun sán như: giám sát các hộ chăn nuôi, đặc biệt các hộ nuôi heo thả rông để phát hiện và xử lý; tuyên truyền đến người dân về việc chăn nuôi gia súc, gia cầm đúng cách; tư vấn thực hiện vệ sinh môi trường, đảm bảo ăn chín, uống sôi, không sử dụng thịt heo, thịt bò sống hoặc tái; sử dụng thực phẩm hoặc rau phải rửa bằng nguồn nước sạch để đảm bảo vệ sinh; rửa tay trước khi chế biến các món ăn để đảm bảo không nhiễm ấu trùng sán. (Sài Gòn giải phóng, trang 6)
Gánh nặng ung thư
Bệnh ung thư ngày càng gia tăng, trong khi đó chi phí cho chẩn đoán, điều trị cũng ngày càng tăng, là gánh nặng lớn cho người bệnh và cả hệ thống y tế.
Thống kê của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), số ca mắc mới ung thư (UT) tại VN không ngừng gia tăng, từ 68.000 ca năm 2000 lên 126.000 năm 2010. Năm 2018, số ca mắc mới tăng lên gần 165.000, trong đó gần 70% trường hợp tử vong, tương đương khoảng 115.000 ca. Số tử vong gấp 9 lần tai nạn giao thông
Với 20 năm công tác chuyên ngành, TS-BS Bùi Vinh Quang, Giám đốc Bệnh viện (BV) Ung bướu Hà Nội, cho biết tại VN, theo ước tính chưa đầy đủ, mỗi năm có khoảng 126.000 ca mắc mới và 94.000 ca tử vong do UT, gấp 9 lần con số tử vong do tai nạn giao thông. Ước tính đến năm 2020 sẽ có tối thiểu 189.344 ca UT mới mắc.
TS Vinh Quang lưu ý, tại VN tính chung cả 2 giới, 5 loại UT có tỷ lệ mắc nhiều nhất gồm: UT gan (chiếm 15,4%), UT phổi (14,4%), UT dạ dày (10,6%), tiếp theo là UT vú, UT đại tràng. Trong đó, UT phổi là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở nam giới và là nguyên nhân thứ hai gây tử vong do UT ở phụ nữ. Mỗi năm VN có khoảng 22.000 ca mắc mới và 19.500 bệnh nhân (BN) tử vong do UT phổi.
BV Ung bướu TP.HCM thực hiện việc ghi nhận UT quần thể TP.HCM (population-based) và ghi nhận UT BV (hospital based) từ năm 1995 đến nay.
Theo đó, mỗi năm có hàng chục ngàn trường hợp UT mắc mới, gồm các BN có hộ khẩu tại TP.HCM và ở các tỉnh lên điều trị tại TP.HCM. Công trình được sự hợp tác của các BV lớn trong TP và được giám sát về kỹ thuật và chất lượng số liệu bởi Cơ quan Nghiên cứu UT quốc tế (IARC) của WHO. Công trình nghiên cứu trong hơn 20 năm từ 1995 đến nay đã có các kết luận như sau: Tại TP.HCM tỷ lệ bệnh mắc UT từ 130 - 145/100.000 dân. Ở nam giới, chỉ riêng 5 loại UT đứng đầu là phổi, gan, đại trực tràng, dạ dày và đầu cổ. Còn ở nữ, 5 UT đứng đầu là vú, cổ tử cung, đại trực tràng, phổi và tuyến giáp.
Nguy cơ bởi ô nhiễm, thực phẩm "bẩn"...
“Theo tôi hiện nay UT phổi, đường tiêu hóa bao gồm gan, khoang miệng, thực quản, dạ dày, đại trực tràng đang có xu hướng gia tăng mạnh nhất. Có thể do ô nhiễm các chất độc hại, thuốc trừ sâu trong quá trình sản xuất nông sản thực phẩm, hóa chất bảo quản, quá trình chế biến thực phẩm sử dụng thực phẩm cháy, thực phẩm hun khói, lối sống ăn uống không hợp lý, sử dụng rượu bia thuốc lá, ăn thức ăn nhiều mỡ động vật ít các thành phần chất xơ và vitamin A, C, E là các yếu tố nguy cơ gây UT”, TS Bùi Vinh Quang khuyến cáo và cho biết thêm: “Với UT phổi thì thuốc lá là nguyên nhân chính dẫn đến bệnh này. Các nghiên cứu cho thấy khoảng 90% số lượng ca UT phổi có hút thuốc lá và những người hút 40 bao trong 1 năm có nguy cơ bị UT phổi cao gấp 20 lần so với người không hút thuốc. Trong khi đó, UT gan do mắc viêm gan B, C và xơ gan do rượu”.
Theo TS-BS Phạm Xuân Dũng, Giám đốc BV Ung bướu TP.HCM, ô nhiễm không khí đã được chính thức phân loại là nguyên nhân gây UT bởi IARC. Theo IARC, ô nhiễm không khí từ giao thông và khói công nghiệp là nguyên nhân gây UT phổi và cũng liên quan đến UT bàng quang. Vấn đề thực phẩm gây UT thường là do các chất bảo quản, tạo màu và bao bì chứa thực phẩm. Hiện nay IARC thường xuyên cập nhật và công bố các chất có thể sinh UT (tùy mức độ nguy cơ được đánh số từ 1 - 3).
Gánh nặng tài chính
Chia sẻ về gánh nặng UT, TS-BS Vinh Quang cho hay chẩn đoán và điều trị UT là một khó khăn lớn đối với BN cũng như BS. Vì chẩn đoán và điều trị UT cần độ chính xác cao về giải phẫu bệnh học và giai đoạn bệnh. Chẩn đoán giai đoạn của bệnh UT hiện nay được sử dụng nhiều xét nghiệm tiên tiến như chụp CT64, CT128, CT256 dãy, chụp cộng hưởng từ, PET-CT... những xét nghiệm này có giá thành rất cao, trung bình 2,5 - 10 triệu đồng tùy theo xét nghiệm.
Đặc biệt, trong chẩn đoán giai đoạn bệnh của một số UT thì chụp PET-CT cũng được khuyến cáo nên dùng cho độ nhạy và độ đặc hiệu cao góp phần cho quá trình điều trị, chi phí làm cũng dao động từ 23 - 30 triệu đồng. Chính vì lý do đó ngay trước khi điều trị UT thì việc chẩn đoán bệnh cũng là một khó khăn về mặt tài chính đối với BN và gia đình cũng như với BHYT.
Ngoài ra, điều trị UT gồm 3 phương pháp chính là phẫu thuật, hóa chất và xạ trị, có thể thêm điều trị nhắm trúng đích và điều trị miễn dịch.
Phẫu thuật UT thường rất rộng triệt căn nên có tính tàn phá cao. Việc phẫu thuật vi phẫu, phẫu thuật tạo hình sau điều trị UT (như UT vú, đầu cổ) nhằm mang lại thẩm mỹ cho BN đang được triển khai nhưng chi phí là khá cao.
Đặc biệt, trong lĩnh vực xạ trị nhiều phương pháp mới cũng đang được áp dụng cho điều trị UT đầu cổ, phổi, tuyến tiền liệt, vú... Như xạ trị điều biến liều (IMRT), xạ trị điều biến liều theo thể tích hình cung VMAT đang thực hiện mang lại hiệu quả cao hạn chế tác dụng phụ nhưng giá thành của một ngày điều trị cũng cao, thường từ 1,5 - 1,7 triệu đồng.
Hóa chất cho điều trị cũng là một vấn đề (trung bình điều trị hóa chất một đợt khoảng 10 - 30 triệu đồng tùy từng phác đồ) vì chủ yếu bệnh phát hiện ở giai đoạn muộn và cần có hóa chất bổ trợ hoặc hóa chất điều trị triệt căn nên ít nhất cũng từ 4 - 6 đợt điều trị.
Bên cạnh đó là điều trị trúng đích và điều trị miễn dịch có mang lại hiệu quả khả quan trên lâm sàng và cũng đang được áp dụng tại VN. Để điều trị được thuốc này BN cần làm một số xét nghiệm quan trọng và khá đắt đỏ, khi điều trị thuốc cũng cần phải chi phí một lượng tiền khá lớn. Ví dụ như điều trị UT phổi không tế bào nhỏ có đột biến gien EGFR cũng phải tốn khoảng 40 - 50 triệu đồng/tháng. Điều trị UT gan bằng thuốc điều trị trúng đích tốn khoảng 110 - 120 triệu đồng/tháng. (Thanh niên, trang 2).
Fanpage
Youtube


















