Điểm báo điện tử ngày 04/10/2016
04/10/2016
0
Top 13 đất nước có tuổi thọ trung bình trên 82
Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) xếp hạng các quốc gia, vùng lãnh thổ theo tuổi thọ trung bình của người dân để tìm ra tốp các nước có người dân sống thọ nhất.
Bản Khảo sát Cạnh tranh Toàn cầu vừa được công bố của WEF không chỉ chú trọng về kinh tế của các nước, vùng lãnh thổ trên thế giới mà còn nghiên cứu tình hình sức khỏe của người dân. Đúng như dự đoán, những nơi có nền kinh tế càng phát triển thì người dân càng sống lâu hơn nhờ vào các dịch vụ y tế phát triển cũng như chế độ ăn uống lành mạnh.
Tuy nhiên, điều thú vị là một vài quốc gia trong danh sách có tuổi thọ người dân không cao như dự kiến do sự gia tăng của các vấn đề sức khỏe tinh thần, dẫn đến tình trạng tự tử.
Dưới đây là danh sách 13 quốc gia, vùng lãnh thố có tuổi thọ người dân trung bình cao nhất thế giới (xếp từ thấp tới cao)
13. Thụy Điển (82 tuổi)
Trung bình, người dân Thụy Điển sống lâu hơn người dân của các nước thuộc Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) khoảng 2 năm. Theo OECD, nguồn nước sạch chất lượng cao là lí do giúp người dân sống lâu, khỏe mạnh hơn.
12. Iceland (82,1 tuổi)
Theo một cuộc bình chọn của các chuyên gia dinh dưỡng, Iceland có “Chế độ ăn uống tốt nhất thế giới”. Điều này giúp hạn chế nguy cơ mắc bệnh tiểu đường và bệnh tim mạch.
Đồng hạng 9: Hàn Quốc (82,2 tuổi)
Nhờ kinh tế được cải thiện, tuổi thọ trung bình của nước này đã tăng lên trong vài năm vừa qua. Tuy nhiên, OECD cảnh báo mức độ ô nhiễm của Hàn Quốc vẫn cao khi so với các nước thành viên khác.
Đồng hạng 9: Luxembourg (82,2 tuổi)
Quốc gia này có dân số rất thấp khi so với các nước còn lại của châu Âu nhưng thu nhập bình quân đầu người lại cao. Điều này giúp người dân dễ dàng có một chế độ ăn uống lành mạnh và các dịch vụ y tế tốt nhất.
Đồng hạng 9: Israel (82,2 tuổi)
Đàn ông ở Israel có tỉ lệ sống thọ thuộc hàng cao nhất thế giới, bất chấp việc bị bắt buộc phải phục vụ trong quân đội.
8. Úc (82,3 tuổi)
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), lối sống lành mạnh và chế độ y tế ngày càng phát triển ở Úc giúp tuổi thọ người dân tại đất nước này tăng cao.
7. Pháp (82,4 tuổi)
Pháp là một trong những nước có tỉ lệ người mắc bệnh béo phì thấp nhất trong các nước OECD, giúp người dân tại quốc gia này có tuổi thọ trung bình cao.
6. Singapore (82,6 tuổi)
Tuổi thọ trung bình tại đảo quốc sư tử đã tăng lên trong hơn 30 năm qua nhờ công tác y tế dự phòng và điều trị chất lượng cao.
5. Ý (82,7 tuổi)
Theo tờ tạp chí y khoa nổi tiếng The Lancet, người Ý có xu hướng sống rất thọ nhờ tỉ lệ chênh lệch giàu - nghèo thấp. Điều này có nghĩa phần lớn dân số Ý đều có khả năng ăn các loại thức ăn tươi, sạch.
4. Thụy Sĩ (82,8 tuổi)
Sự thịnh vượng của quốc gia này giúp người dân luôn được đáp ứng các chế độ chăm sóc sức khỏe và ăn uống lành mạnh. Thụy Sĩ cũng là quê hương của người phụ nữ từng nắm giữ kỷ lục người già nhất thế giới, bà Rosa Rein (1897-2010).
3. Tây Ban Nha (83,1 tuổi)
Quốc gia này vốn nổi tiếng với chế độ ăn kiêng kiểu Địa Trung Hải, được các bác sĩ ca ngợi là có khả năng giúp con người sống lâu và khỏe mạnh. Chế độ ăn này gồm toàn rau quả tươi và cá cùng các chất béo có lợi như dầu ô liu và các loại hạt.
2. Nhật Bản (83,6 tuổi)
Ba năm trước, Nhật Bản rơi xuống hạng 2 trong bảng xếp hạng bởi tình trạng tự tử ở phụ nữ tăng cao. Tuy nhiên, quốc gia này vẫn là một trong những nơi có người dân sống thọ nhất nhờ chế độ ăn uống lành mạnh.
1. Hồng Kông (84 tuổi)
Rất nhiều tạp chí y khoa ghi nhận rằng truyền thống tập Thái Cực Quyền của người dân Hồng Kông giúp họ duy trì sức khỏe và hoạt động thể chất khi về già. Sở thích ăn các món hấp và uống trà cũng giúp người dân Hồng Kông có chế độ ăn uống cân bằng.
http://saostar.vn/doi-song-xa-hoi/top-13-dat-nuoc-co-tuoi-tho-trung-binh-tren-82-811027.html
4 loại vitamin và khoáng chất ngăn ngừa móng tay giòn và dễ gãy
- Móng tay giòn và dễ gãy thường xảy ra vào thời kỳ mãn kinh. Một chế độ ăn uống giàu các vitamin và khoáng chất như kẽm, sắt, vitamin B và C có thể giúp bạn khắc phục tình trạng này.
Móng tay giòn là một vấn đề khá phổ biến, nhưng nguy cơ phát triển bất thường này tăng lên vào thời kỳ mãn kinh do sự mất cân bằng nội tiết tố. Tuy nhiên, có một số vitamin và khoáng chất có thể tăng cường móng tay và giúp khôi phục chúng. Tìm hiểu về các vitamin và khoáng chất mà mọi phụ nữ nên có trong chế độ ăn uống của mình để tránh hoặc cải thiện móng tay giòn.
1. Kẽm
Kẽm là một khoáng chất quan trọng trong việc giữ cho cơ thể khỏe mạnh. Kẽm đóng góp đối với làm sẹo vết thương, khả năng miễn dịch, tăng trưởng móng tay và tóc. Sự thiếu hụt kẽm có thể gây ra móng khô và dễ gãy. Ăn những thực phẩm chứa kẽm có thể làm tăng lượng kẽm trong cơ thể và cải thiện móng tay giòn. Hãy thử tiêu thụ kẽm nhiều hơn bằng cách tăng tiêu thụ hải sản, thịt nạc, ngũ cốc ăn sáng và viên kẽm bổ sung. Tuy nhiên, không ăn quá nhiều khoáng chất này, một lượng kẽm quá mức có thể làm rối loạn dạ dày và gây ra tiêu chảy.
2. Sắt
Sắt là cần thiết cho cơ thể để sản xuất hồng cầu, hơn một nửa nguồn cung cấp sắt của cơ thể được tìm thấy trong máu. Thiếu sắt có thể gây ra vấn đề sức khỏe, như sự phát triển của móng tay hình lõm và giòn. Ăn nhiều trái cây sấy khô hơn, các loại đậu và các loại rau lá xanh đậm để bổ sung sắt, cũng có thể tìm thấy sắt trong thịt đỏ, gà tây và trứng.
3. Vitamin C
Vitamin C (acid ascorbic) là một loại vitamin nổi tiếng, và một vitamin không thể được sản xuất bởi cơ thể; nó phải được nhận qua tiêu thụ qua thực phẩm. Thiếu vitamin C có thể dẫn đến móng tay giòn và dễ gây ra sự tăng trưởng chậm của cả tóc và móng tay. Vitamin C rất cần thiết cho việc sản xuất collagen, đó là một thành phần của da, tóc và móng tay. Do cơ thể không thể sản xuất vitamin C, điều quan trọng là tiêu thụ các thực phẩm giàu vitamin C như quả mọng, trái cây và nước trái cây, và rau xanh.
4. Vitamin nhóm B
Biotin, một phần của gia đình vitamin nhóm B và còn được gọi là vitamin H, là cần thiết cho việc duy trì sức khỏe móng tay. Sự thiếu hụt vitamin nhóm B tăng lên khi bạn già đi, và nó có thể dẫn đến móng tay khô, giòn. Biotin cùng với các vitamin nhóm B làm việc cùng nhau để duy trì móng tay sáng bóng mạnh mẽ. Một trong những cách tốt nhất để tránh sự thiếu hụt biotin là ăn gan, súp lơ, cà rốt, và cá hồi.
Rõ ràng chế độ thực phẩm ăn uống không những ảnh hưởng đến sức khỏe tổng thể, mà còn ảnh hưởng đến chất lượng và phát triển của tóc, móng và da. Một chế độ ăn giàu các loại thực phẩm bổ sung cho móng tay làm giảm thiểu đáng kể tình trạng móng tay giòn và dễ gãy. Trong trường hợp đã bổ sung đủ thực phẩm theo hướng dẫn, tình trạng xấu đi của móng tay vẫn không cải thiện, nên gặp bác sĩ để được tư vấn chẳng hạn bổ sung hoặc điều trị thay thế hormone khi bạn đang ở tuổi mãn kinh.
http://suckhoedoisong.vn/4-loai-vitamin-va-khoang-chat-ngan-ngua-mong-tay-gion-va-de-gay-n123210.html
Một số lầm tưởng về các dấu hiệu tiền đột quỵ
Các triệu chứng bệnh đột quỵ gần giống và dễ nhầm lẫn với nhiều bệnh khác. Điều này dẫn đến việc chẩn đoán không chính xác và không được cấp cứu kịp thời, gây nguy hiểm cho tính mạng người bệnh.
Nhầm bệnh đột quỵ với rối loạn tiền đình, hậu quả khôn lường
Đang ngồi chơi trong nhà thì chị Trương Thanh H. (48 tuổi, Hoàng Cầu, Hà Nội) thấy có dấu hiệu choáng váng, mắt mờ đi. Cứ nghĩ đó là biểu hiện rối loạn tiền đình như mấy lần trước, chị vội vàng thông báo cho gia đình rồi vào giường nằm.
Các con chị lấy thuốc tiền đình có sẵn trong nhà cho chị uống. Thế nhưng, sau vài tiếng, tình trạng của chị H. không khá hơn, thậm chí còn có biểu hiện hôn mê, chân tay tê cứng. Lúc này, gia đình nhanh chóng đưa chị đi cấp cứu.
Kết quả các xét nghiệm và chụp hình ảnh cho thấy bệnh nhân bị nhồi máu não. May mắn là chị H. được đưa đi cấp cứu khi chưa quá muộn nên có thể cứu chữa, tuy nhiên, phải mất nhiều thời gian và cố gắng chị mới có thể hồi phục được sức khỏe như trước.
Theo tổ chức y tế thế giới (WHO) đột quỵ não được định nghĩa như sau: Đột quỵ não là một hội chứng lâm sàng được đặc trưng bởi sự khởi phát đột ngột của các triệu chứng biểu hiện tổn thương của não (thường là khu trú), tồn tại trên 24 giờ hoặc bệnh nhân tử vong trước 24 giờ.
Những triệu chứng thần kinh khu trú phù hợp với vùng não do động mạch bị tổn thương phân bố, loại trừ nguyên nhân chấn thương
Điều đáng nói là, mặc dù có nhiều dấu hiệu cảnh báo xuất hiện trước những cơn đột quỵ nhưng không phải dấu hiệu nào cũng rõ ràng nên rất dễ gây nhầm lẫn với nhiều bệnh khác.
Điều này dẫn đến chẩn đoán không chính xác và không được cấp cứu kịp thời, gây nguy hiểm cho tính mạng người bệnh.
Một số dấu hiệu tiền đột quỵ dễ bị nhầm lẫn
Nếu gặp các dấu hiệu như dưới đây, bạn cần chú ý nghỉ ngơi và báo cho người khác biết để nếu không may bị đột quỵ còn được cấp cứu kịp thời.
Đột ngột xây xẩm, chóng mặt: Đây có thể là dấu hiệu cảnh báo mạnh mẽ của một cơn đột quỵ hoặc bệnh tiền đình, suy nhược cơ thể... Nếu bỗng dưng gặp triệu chứng này, bạn nên ngưng những việc đang làm để nghỉ ngơi và báo cho người thân theo dõi những dấu hiệu tiếp theo.
Chân tay yếu đi: Cảm giác đột ngột thấy chân tay yếu đi, không nâng nhấc được vật gì... là một trong những dấu hiệu mạnh mẽ cảnh báo một cơn đột quỵ sắp tới. Mặc dù vậy, cũng có những người trải qua triệu chứng này nhưng chỉ là vì họ quá đói hoặc đang quá mệt mỏi.
Giảm thị lực, mắt nhìn mờ: Mặc dù chưa được xác nhận rõ ràng nhưng hầu hết những người đã bị đột quỵ đều thừa nhận rằng trước khi bị đột quỵ, họ cảm thấy các triệu chứng suy giảm thị lực.
Thế nhưng, dấu hiệu ở thị lực có thể xuất hiện thoáng qua hoặc xuất hiện sớm trước các biểu hiện khác nên nhiều người chủ quan, cho rằng đó là do mệt mỏi hoặc hoa mắt mà thôi.
Đột ngột bị nấc, cảm thấy buồn nôn, mệt mỏi: Tất cả những biểu hiện này đều có thể gặp ở những người làm việc quá sức hoặc ăn quá nhiều... Nhưng nó cũng có thể là điềm báo của những cơn đột quỵ.
Khi bạn có nguy cơ bị đột quỵ, trước đó có thể bạn cảm thấy không thể hít thở sâu, thậm chí khó thở. Điều này cũng dẫn đến giảm nhịp tim do thiếu oxy. Mặc dù dấu hiệu này thường gặp ở phụ nữ nhiều hơn nhưng nam giới cũng không nên bỏ qua.
Ngoài những dấu hiệu trên, bạn cũng cần để ý cả những biểu hiện khác như: Nhức đầu và chứng đau nửa đầu; Mất phương hướng, buồn nôn; Nói lắp bắp... Những dấu hiệu này không rõ ràng nhưng cũng không thể bỏ qua vì nếu xuất hiện cùng lúc thì chứng tỏ khả năng bạn bị đột quỵ rất cao.
http://soha.vn/mot-so-lam-tuong-ve-cac-dau-hieu-tien-dot-quy-20161004094536514.htm
Lý do không nên uống cà phê thay bữa sáng
-Uống cà phê khi đói sẽ làm tăng thêm axit dạ dày gây tổn thương nghiêm trọng đến niêm mạc dạ dày và ống tiêu hóa.
Rất nhiều người có thói quen uống cà phê vào buổi sáng để tạo sảng khoái, kích thích hoạt động trí não, tăng cường hoạt động cơ.
Tuy nhiên, theo các nhà khoa học Mỹ, 1 tách cà phê đen chỉ chứa 2 calo và không có chứa chất béo, do đó khi uống cà phê, bạn nên thêm đường hoặc sữa tùy theo khẩu vị yêu thích sẽ làm tăng lượng calo trong cốc cà phê.
Ngoài ra, uống cà phê khi đói sẽ làm tăng thêm axit dạ dày gây tổn thương nghiêm trọng đến niêm mạc dạ dày và ống tiêu hóa. Ngoài ra, một lý do khác là uống cà phê khi đói khiến khiến thận hoạt động mạnh hơn để thải nước ra ngoài vì hoạt chất cafeine trong có tác dụng lợi tiểu.
Vì vậy, cách tốt nhất để thưởng thức cà phê là sau bữa sáng 30 phút đến 1 tiếng, sẽ tốt cho tim mạch cũng như khơi gợi niềm hưng phấn của ngày mới.
http://anninhthudo.vn/doi-song/ly-do-khong-nen-uong-ca-phe-thay-bua-sang/703343.antd
Cha hút thuốc, con tăng 3 lần bị hen suyễn
Trẻ sinh ra có cha hút thuốc, thậm chí ngay cả trước khi được thụ thai tăng 3 lần nguy cơ phát triển bệnh hen suyễn.
Theo các nhà khoa học trường ĐH Bergen (Na Uy), các tế bào tinh trùng nam giới dễ bị hư hỏng bởi chất nicotine từ thuốc lá và ảnh hưởng đến gene của trẻ.
Trong khi đó các bà mẹ trong thời gian mang thai hút thuốc, trẻ sinh ra dễ mắc bệnh hen suyễn, tuy nhiên nguy cơ này không thấy khi mẹ hút thuốc trước khi mang thai.
Dinh dưỡng, nội tiết tố, tâm lý và môi trường từ người mẹ làm thay đổi cấu trúc cơ quan, phản ứng của tế bào và biểu hiện gene ở trẻ. Còn lối sống và tuổi của người cha lại được phản ánh trong phân tử kiểm soát chức năng của gene.
Một nghiên cứu khác cho thấy những người đàn ông hút cần sa hơn 1 lần một tuần giảm 29% lượng tinh trùng so với những người không hút thuốc hoặc không hút thường xuyên.
Một loạt các nghiên cứu gần đây cũng chỉ ra thói quen ăn uống của một người cha có thể ảnh hưởng đến sự chuyển hóa glucose và mức độ cholesterol của con.
http://anninhthudo.vn/doi-song/cha-hut-thuoc-con-tang-3-lan-bi-hen-suyen/703344.antd
Phải cắt bỏ tinh hoàn vì tự điều trị bằng kháng sinh
Vì thói quen tự làm bác sĩ
Mới đây, TS.BS Mai Bá Tiến Dũng - Trưởng khoa Nam học, Bệnh viện (BV) Bình Dân (TP HCM) vừa tiếp nhận một trường hợp bị kháng kháng sinh dẫn đến phải cắt bỏ tinh hoàn.
Bệnh nhân là T.T.H (quận 9, TP HCM), sau khi quan hệ tình dục khoảng 10 ngày thì có dấu hiệu sưng đau vùng tinh hoàn. Thay vì đến BV khám, bệnh nhân đã tự ý mua kháng sinh về uống và tình trạng không được cải thiện.
Khi đến Khoa Nam học, BV Bình Dân thì tinh hoàn của bệnh nhân đã xuất hiện khối viêm sưng cứng. Xét nghiệm nước tiểu để làm kháng sinh đồ cho thấy bệnh nhân kháng với hầu hết các loại kháng sinh.
Sau khi điều trị 7 ngày với phác đồ gồm các dòng kháng sinh mạnh nhất hiện nay nhưng không đáp ứng thuốc, các bác sĩ đã buộc phải cắt bỏ tinh hoàn của bệnh nhân.
Còn tại BV Đa khoa Vạn Hạnh (TP HCM), chỉ tính riêng trong tháng 8, BS. Dương Minh Tuấn cũng đã chứng kiến 5 trường hợp bệnh nhân bị kháng kháng sinh, trong đó có những bệnh nhân bị kháng với hầu hết các loại kháng sinh được thử.
DS. Nguyễn Thị Đại Phong - Trưởng khoa Dược BV Bệnh nhiệt đới Trung ương cho biết: “Hầu như các kháng sinh hiện nay đều có một tỷ lệ đề kháng nhất định. Có những kháng sinh đã bị đề kháng đến 40-50%, thậm chí có những loại bị đề kháng đến 70-80%, tùy theo đó là con vi khuẩn gì. Có thể kể đến những loại vi khuẩn đã đề kháng gần như hầu hết các loại kháng sinh như Pseudomonas aeruginosa, Acinetobacter baumanii…
Khi có ca bệnh vi khuẩn kháng kháng sinh, các bác sĩ sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc điều trị, nhất là các ca bệnh nặng vì việc điều trị phải kéo dài, phải dùng đến các kháng sinh cao cấp đắt tiền nên gánh nặng kinh tế rất lớn. Thực tế có những loại kháng sinh có giá cao đến 800-900 ngàn đồng/lọ/1g, trong khi đó có những bệnh nhân phải dùng đến 6g một ngày, chưa kể phải kết hợp với các loại kháng sinh khác.
Theo DS. Phong, có nhiều nguyên nhân dẫn đến kháng kháng sinh. Về mặt nguyên tắc, mỗi loài vi khuẩn đều có sự thích nghi để đề kháng lại những loại kháng sinh tiêu diệt nó. Kể cả con người, hay bất cứ một loài động vật nào trên trái đất cũng có nguyên tắc thích nghi như vậy để tồn tại.
Nguyên nhân thứ hai là loại kháng sinh dùng càng lâu thì sẽ gây ra hiện tượng nhờn thuốc. Nguyên nhân thứ ba là do việc sử dụng kháng sinh bừa bãi và không đúng cách hoặc do dùng kháng sinh không đúng liệu trình điều trị. Nguyên nhân thứ tư là do sử dụng kháng sinh bị kém chất lượng, giảm hoạt tính. Nguyên nhân nữa là do việc ăn uống, sử dụng những loại thực phẩm không an toàn, thực phẩm lạm dụng kháng sinh trong quá trình chăn nuôi… góp phần gây nên tình trạng kháng kháng sinh.
Có cả trách nhiệm của ngành nông nghiệp?
Trước vấn nạn kháng kháng sinh ngày càng trở nên nghiêm trọng, Bộ Y tế đã đưa ra các chính sách để quản lý việc sử dụng kháng sinh sao cho đúng từ việc lựa chọn thuốc kháng sinh, liều dùng và thời gian điều trị. Tuy nhiên, để các chính sách này phát huy được hiệu quả thì các hướng dẫn phải được tổ chức thực hiện một cách đồng bộ từ tuyến cơ sở đến tuyến trung ương và phải có sự kiểm tra, giám sát chặt chẽ. Bên cạnh đó cần có sự phối hợp giữa Bộ Y tế và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trong việc quản lý sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi.
Để hạn chế gia tăng đề kháng kháng sinh, Bộ Y tế khuyến cáo cách tốt nhất là sử dụng kháng sinh hợp lý. Đối với cơ sở y tế, chỉ sử dụng kháng sinh khi thật sự bị bệnh nhiễm khuẩn, không điều trị kháng sinh khi không có bệnh nhiễm khuẩn, ngay cả khi người bệnh yêu cầu.
Lựa chọn đúng kháng sinh theo vị trí nhiễm trùng, xét nghiệm vi khuẩn và chọn đường dùng thuốc thích hợp. Nắm được xu hướng đề kháng kháng sinh tại địa phương mình. Sử dụng kháng sinh đúng liều lượng, đúng khoảng cách liều và đúng thời gian quy định. Chú ý khi điều trị kháng sinh trên những đối tượng bệnh nhân đặc biệt, có bệnh mắc kèm, phụ nữ có thai, người già, người bị suy gan, suy thận…
Vận dụng các nguyên tắc chủ yếu về phối hợp kháng sinh. Kết hợp bừa bãi hoặc kết hợp quá nhiều kháng sinh có thể gia tăng độc tính, đối kháng dược lý và gia tăng đề kháng. Sử dụng kháng sinh dự phòng theo đúng nguyên tắc. Có chiến lược quay vòng kháng sinh hợp lý.
Thực hiện tốt công tác kiểm soát nhiễm khuẩn nhằm ngăn ngừa lây truyền vi khuẩn đề kháng giữa người bệnh với người bệnh, giữa người bệnh với nhân viên y tế hoặc ngăn ngừa lây lan từ môi trường trong các cơ sở chăm sóc y tế bằng rửa tay, cách ly đối với người bệnh và nhân viên y tế mang các vi khuẩn đề kháng.
Các chuyên gia y tế cũng khuyến cáo chỉ sử dụng kháng sinh khi được kê đơn. Không nên tự mua thuốc kháng sinh mà không có đơn của bác sĩ. Luôn sử dụng kháng sinh đủ liều, đủ thời gian ngay cả khi sức khỏe khá hơn, không tự chia nhỏ liều dùng hoặc cắt bớt thời gian điều trị.
http://baophapluat.vn/camera-benh-vien/tu-mua-khang-sinh-ve-uong-benh-nhan-phai-cat-bo-tinh-hoan-297742.html
Fanpage
Youtube


















