Điểm báo điện tử ngày 16/9/2016
16/09/2016
0
10 nguyên nhân hàng đầu gây vô sinh ở nữ giới
- Từ rụng trứng không thường xuyên đến chế độ ăn uống nghèo dinh dưỡng cũng có thể là các nguyên nhân gây vô sinh mà ít người để ý tới.
Mặc dù ngày nay, chúng ta có kiến thức nhiều hơn về các nguyên nhân hàng đầu gây vô sinh so với cách đây 10 năm, nhưng với các chuyên gia y tế, đây vẫn là một căn bệnh vô cùng phức tạp. Tuy nhiên, tất cả đều thống nhất có những nguyên nhân chính dẫn tới vô sinh ở nữ giới dưới đây:
1. “Tại chồng”
Theo chuyên gia về sinh sản nổi tiếng – tiến sĩ William Schoolcraft, người sáng lập Trung tâm Y học sinh sản Colorado – thì nguyên nhân hàng đầu của vô sinh chính là bắt nguồn từ nam giới. Nguyên nhân này chiếm một con số khổng lồ từ 30 đến 40% các vấn đề vô sinh ở các cặp vợ chồng. Tuy nhiên, căn bệnh này có thể được điều trị bằng thuốc hoặc phẫu thuật, tùy theo mức độ của nó. Một trong những biện pháp điều trị thường được khuyên dùng cho những nam giới có số lượng tinh trùng ít hoặc tinh trùng có tốc độ di chuyển chậm là thụ tinh ống nghiệm (IVF) hoặc tiêm tinh trùng vào bào tương của trứng trưởng thành (ICSI).
2. Lạc nội mạc tử cung
Lạc nội mạc tử cung là căn bệnh mà lớp tế bào nội mạc tử cung (lớp niêm mạc tử cung) mọc “lạc chỗ” ra bên ngoài tử cung gây nên sự tắc nghẽn ở vòi trứng, khiến trứng và tinh trùng không gặp được nhau, hoặc trứng đã thụ tinh bị chặn khi đi xuống ống dẫn trứng (gây chửa ngoài tử cung). Triệu chứng thường gặp của căn bệnh này là đau nặng trong kì kinh nguyệt, đau khi giao hợp và co thắt từ nặng đến nhẹ khi hành kinh.
Cách duy nhất để biết được liệu bạn có bị lạc nội mạc tử cung không là thông qua nội soi, bạn cũng có thể loại bỏ các u nang qua phẫu thuật nội soi và có thể thụ thai từ 6 đến 8 tháng sau khi phẫu thuật. Nếu không, bác sĩ sẽ tư vấn cho bạn sử dụng thuốc kích thích rụng trứng, thụ tinh nhân tạo hoặc thụ tinh ống nghiệm trong trường hợp nặng.
3. Rối loạn rụng trứng
Đây có lẽ là nguyên nhân phổ biến nhất gây vô sinh ở phụ nữ, chiếm từ 20 đến 40%. Rối loạn rụng trứng là khi sự rụng trứng không xảy ra, hoặc xảy ra không đều (có thể ba tháng mới rụng trứng một lần). Có rất nhiều lý do gây ảnh hướng đến chu kỳ rụng trứng ở phụ nữ, có thể là do mất cân bằng nội tiết tố, tập thể dục quá nhiều, quá căng thẳng, sụt cân hoặc tăng cân quá mức. Tức là, bất cứ điều gì “quá” đều không tốt cho hệ thống sinh sản của bạn.
Rối loạn rụng trứng có thể được điều chỉnh bằng các loại thuốc uống như Clomid. Bạn sẽ được khuyên dùng thuốc uống kích thích rụng trứng Clomid trước khi chuyển sang thụ tinh nhân tạo (IUI). Với những phụ nữ lớn tuổi, các bác sĩ thường khuyên nên áp dụng biện pháp thụ tinh ống nghiệm để có tỉ lệ thành công cao hơn.
4. Quá béo hoặc quá gầy
Khi cơ thể quá thừa cân hoặc quá thiếu cân cũng có thể gây rối loạn chức năng nội tiết tố. Các nghiên cứu đã chứng minh rằng tập thể dục quá nhiều cũng ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng sinh sản của nữ giới. Bạn nên đến gặp bác sĩ để có các tư vấn dinh dưỡng cần thiết như bổ sung dầu cá, vitamin D, chế phẩm sinh học, vitamin… giúp tăng chất lượng trứng, giúp quá trình thụ thai diễn ra hiệu quả hơn.
5. Hội chứng buồng trứng đa nang (PCOS)
Đây là một kiểu rối loạn chức năng rụng trứng rất phức tạp và không phải người bệnh nào cũng có cùng biểu hiện như nhau. Nhiều bệnh nhân mắc hội chứng buồng trứng đa năng mà không hề biết mình có bệnh vì các biểu hiện của bệnh trải trên một phạm vi rộng, dường như không có liên quan gì đến nhau như rụng trứng thưa, không rụng trứng, rối loạn chu kì kinh nguyệt, tăng cân, trứng cá, lông rậm hơn bình thường…
Một trong những đặc điểm thường gặp ở phụ nữ mắc bệnh PCOS là sự gia tăng nồng độ hormone nam trong máu, vì thế, nếu bạn tăng cân, lượng testosterone tự do sẽ tăng lên, khiến các triệu chứng trở nên nặng hơn. Do đó, cách tốt nhất để điều trị PCOS là tập thể dục để kiểm soát cân nặng và tăng khả năng mang thai.
6. Stress
Nếu một người phụ nữ phải đối phó với mức độ căng thẳng quá mức có thể gây ra sự ức chế chức nặng ở vùng dưới đồi là nơi kiểm soát các tuyến yên, từ đó kiểm soát tuyến giáp, tuyến thượng thận, buồng trứng và sau đó dẫn tới sự rối loạn trong chu kì kinh nguyệt. Chính vì vậy, cách tốt nhất là bạn nên tìm cách kiểm soát mức độ căng thẳng của mình ngay từ đầu bằng cách nhờ đến sự hỗ trợ của các chuyên gia tâm lý, yoga, thiền hoặc các hoạt động thích hợp khác để giảm stress trước khi nhờ đến sự can thiệp của bác sĩ sản khoa.
7. Tắc vòi trứng
Tắc vòi trứng là một trong những nguyên nhân chủ yếu gây vô sinh ở nữ giới, chiếm tới 25 – 30% nguyên nhân hiếm muộn. Bệnh này có thể là hậu quả của viêm nhiễm phụ khoa, lạc nội mạc tử cung, nạo phá thai không an toàn, thậm chí nó xảy ra cả với những trường hợp không vệ sinh sạch sẽ trong chu kỳ kinh nguyệt hoặc trước và sau khi quan hệ tình dục khiến vi khuẩn dễ dàng xâm nhập sâu vào bên trong vòi trứng, gây viêm, tắc. Tùy theo mức độ nhẹ hay nặng mà các bác sĩ có thể sẽ phẫu thuật tái tạo vòi trứng hoặc can thiệp theo hướng kẹp đốt hoặc phẫu thuật cắt bỏ hai tai vòi trứng để giảm thiểu nguy cơ mang thai ngoài tử cung khi thụ tinh ống nghiệm.
8. Tuổi tác
Tuổi tác là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của nữ giới. Phụ nữ khi sinh ra có trung bình từ một đến hai triệu quả trứng. Số trứng này mất dần đi hàng tháng, cả về số lượng và chất lượng. Vào tuổi dậy thì, chúng ta chỉ còn khoảng 300.000 quả và chỉ có 300 quả sẽ trưởng thành và rụng trong quá trình rụng trứng. Cứ như vậy, khi bạn đạt đến thời kì mãn kinh vào khoảng độ tuổi 51, cơ thể bạn sẽ không còn trứng.
Sự mất liên tục của trứng giống như quá trình lão hóa, tức là tuân theo tự nhiên và không thể đảo ngược, tức là bạn không thể làm cho trứng nhiều lên. Chính vì điều này mà tỉ lệ vô sinh ở phụ nữ 35 tuổi trở lên cao hơn những người phụ nữ khác. Công việc của các bác sĩ điều trị vô sinh là cố gắng để giữ trứng của bạn ở trạng thái tốt nhất có thể cùng lời khuyên về chế độ ăn uống đảm bảo chất lượng trứng như các loại dầu cá, vitamin D, CoQ10 và các vitamin khác.
9. Thiếu hụt Progesterone
Progesterone là một hormone steroid chủ yếu được tiết ra từ hoàng thể ở nửa sau chu kỳ kinh nguyệt, giúp trứng làm tổ và duy trì thai sản. Sự thiếu hụt progesterone trong giai đoạn này của chu kỳ kinh nguyệt được gọi là tình trạng suy hoàng thể (LPD), dẫn đến rối loạn sự phát triển của niêm mạc tử cung, gây khó thụ thai. Để chữa trị tình trạng này, các bác sĩ sẽ kê đơn bổ sung progesterone ở dạng thuốc viên, thuốc đặt âm đạo hoặc tiêm.
10. Thuốc lá
Những phụ nữ hút thuốc trong thời gian dài có dẫn tới việc rụng trứng không thường xuyên, tác động tiêu cực đến khả năng sinh sản. Vì vậy, nếu đang cố gắng có thai, bạn nên từ bỏ thói quen này trước đó ít nhất vài tháng. Cơ thể bạn càng khỏe mạnh thì khả năng có thai càng cao hơn và thai kì càng khỏe hơn.
Có rất nhiều các nguyên nhân gây ra vô sinh, trong đó có những nguyên nhân không có triệu chứng rõ ràng. Chính vì vậy, các chuyên gia y tế khuyên những cặp vợ chồng dưới 35 tuổi nên tìm kiếm sự giúp đỡ của bác sĩ nếu sau 12 tháng không sử dụng các biện pháp tránh thai mà vẫn không có thai. Còn đối với những phụ nữ trên 35 tuổi, thời gian để tìm sự giúp đỡ là sau 6 tháng cố gắng thụ thai tự nhiên mà không có kết quả. Bạn càng sớm có chẩn đoán đúng bệnh, bạn càng có cơ hội thụ thai cao hơn.
http://emdep.vn/lam-me/10-nguyen-nhan-hang-dau-gay-vo-sinh-o-nu-gioi-20160916100433994.htm
Đại dịch đầu nhỏ do virus Zika có nguy cơ lan rộng trên toàn cầu
Tạp chí y học The Lancet ngày 15/9 đăng tải khuyến cáo của các nhà khoa học Anh và Brazil nhấn mạnh thế giới cần chuẩn bị sẵn sàng để đối phó với dịch bệnh đầu nhỏ xảy ra toàn cầu trong bối cảnh virus Zika đang xuất hiện tại nhiều quốc gia mới.
Dựa trên kết quả nghiên cứu được tiến hành đối với các trẻ sơ sinh tại những vùng dịch bệnh Zika hoành hành mạnh nhất ở Brazil, các nhà khoa học đã phát hiện thêm bằng chứng cho thấy virus Zika là tác nhân dẫn tới chứng rối loạn và suy nhược cơ thể.
Gần một nửa trong tổng số 32 trẻ mắc chứng đầu nhỏ có một lượng nhỏ virus Zika trong máu hoặc trong dịch não tủy trong khi không có ai trong 62 trường hợp trẻ nhỏ chào đời với cấu trúc não bộ bình thường dương tính với virus Zika trong máu.
Theo các nhà khoa học, mối liên hệ nói trên đã giúp họ có cơ sở rút ra kết luận rằng dịch bệnh đầu nhỏ là hệ quả của việc nhiễm virus Zika bẩm sinh. Do đó, họ cho rằng các quốc gia trên thế giới cần chuẩn bị để đối phó với dịch bệnh này lan rộng toàn cầu khi virus Zika lây lan, cũng như cần chuẩn bị các biện pháp nhằm hạn chế các ca sinh con nhiễm virus Zika bẩm sinh.
Các nhà khoa học cũng đề xuất giới chức y tế thế giới bổ sung thêm thuật ngữ Zika vào danh mục các bệnh truyền nhiễm bẩm sinh hiện nay bao gồm bệnh nhiễm ký sinh trùng, bệnh giang mai, rubella, bệnh tăng bạch cầu đơn nhân nhiễm trùng do cytomegalovirus gây ra, hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải do virus HIV và bệnh mụn rộp sinh dục herpes.
Tuy nhiên, trong nghiên cứu nói trên, sau khi quan sát các phim chụp cấu trúc não bộ, giới khoa học phát hiện ra rằng không phải tất cả các trẻ sơ sinh mắc chứng đầu nhỏ đều mang những dị tật bất thường.
Virus Zika lây lan sang người chủ yếu khi bị muỗi Aedes aegypti đốt và cũng có thể lây lan qua đường tình dục. Người nhiễm virus Zika có những triệu chứng nhẹ hơn bị sốt xuất huyết hoặc sốt phát ban, gồm sốt, viêm kết mạc, nhức đầu, đau cơ, đau khớp và phát ban.
Phụ nữ mang thai bị nhiễm virus Zika có thể sinh ra con mang dị tật đầu nhỏ - một khiếm khuyết đặc trưng của não nhỏ bất thường và kém phát triển, hoặc các vấn đề sức khỏe khác. Hiện các nhà khoa học vẫn chưa bào chế được vaccine phòng chống virus Zika hay thuốc đặc trị.
Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), kể từ năm ngoái, có hơn 1,5 triệu người nhiễm virus Zika, chủ yếu tại Brazil, và hơn 1.600 trẻ sơ sinh mắc chứng đầu nhỏ do được sinh ra từ những người mẹ mang virus này./.
http://www.vietnamplus.vn/dai-dich-dau-nho-do-virus-zika-co-nguy-co-lan-rong-tren-toan-cau/406308.vnp
Bệnh nhân phát hiện Zika tại Nhật Bản đang sống và làm việc tại TP.HCM
Ngày 12/9, cơ quan y tế Nhật Bản phát đi thông báo về một phụ nữ Việt Nam bị nhiễm virus Zika, nghi do muỗi ở Việt Nam đốt. BN này sau khi sốt có các biểu hiện như phát ban toàn thân, đau khớp...
Ngày 15/9, Cục Y tế dự phòng (Bộ Y tế) đã liên lạc được với bệnh nhân (BN) phát hiện mắc Zika tại Nhật Bản. BN này là người Đức, không phải quốc tịch Việt Nam như thông báo trước đó của phía Nhật Bản. BN đang làm việc tại TP.HCM, sống tại Q2.
Vừa qua, BN đi du lịch Nhật Bản và phát hiện mắc virus Zika trong thời gian này. Đến ngày 15/9, sức khỏe của BN đã hồi phục hoàn toàn và trở về Việt Nam. Hiện Bộ Y tế vẫn tiếp tục chỉ đạo cơ quan y tế địa phương tăng cường triển khai các biện pháp giám sát và phòng chống dịch bệnh do virus Zika tại khu vực BN này sinh sống, đồng thời triển khai quyết liệt các biện pháp phòng chống dịch trên toàn quốc.
Trước đó, ngày 12/9, cơ quan y tế Nhật Bản phát đi thông báo về một phụ nữ Việt Nam bị nhiễm virus Zika, nghi do muỗi ở Việt Nam đốt. BN này sau khi sốt có các biểu hiện như phát ban toàn thân, đau khớp, đau mắt đỏ...
http://phunuonline.com.vn/thoi-su/tin-tuc/benh-nhan-phat-hien-zika-tai-nhat-ban-dang-song-va-lam-viec-tai-tphcm-83098/
Trẻ chậm cắt rốn sau sinh 3 - 5 phút sẽ lớn lên thông minh, khỏe mạnh hơn
- Trẻ sinh non được cắt dây rốn chậm sẽ giảm nguy cơ chảy máu não và tổn thương ruột do được truyền thêm máu qua nhau thai. Đối với trẻ sinh đủ tháng bình thường, chậm cắt dây rốn vài phút sẽ giúp quá trình chuyển đổi thuận lợi hơn và hệ hô hấp được hoàn thiện hơn.
Từ trước đến nay, việc kẹp và cắt dây rốn trẻ sơ sinh luôn được bác sĩ và nữ hộ sinh thực hiện ngay khi em bé cất tiếng khóc chào đời, và hành động này được xem như sự kết thúc quá trình chuyển dạ và sinh con ở mẹ bầu. Tuy nhiên hiện nay, các bác sỹ lại chỉ ra những lợi ích to lớn của việc chậm cắt rốn sau sinh cho trẻ và khuyến khích mẹ bầu nên thực hiện theo phương pháp này để trẻ lớn lên thông minh, khỏe mạnh hơn.
Lý giải điều này, các bác sỹ cho rằng chậm cắt dây rốn cho trẻ sơ sinh mang lại rất nhiều lợi ích thiết thực, đặc biệt với trẻ sinh non. Trẻ sinh non được cắt dây rốn chậm khoảng vài phút có thể giảm nguy cơ chảy máu não và tổn thương ruột, do được truyền thêm máu qua nhau thai, có thêm sắt trong máu nên giảm nhu cầu truyền máu. Đối với trẻ sinh đủ tháng bình thường, việc cắt dây rốn chậm cũng mang lại nhiều lợi ích, trẻ sẽ có quá trình chuyển đổi thuận lợi hơn và hệ hô hấp cũng hoàn thiện hơn.
Tuy nhiên, để đảm bảo an toàn, tránh hoàn toàn các nguy cơ nhiễm khuẩn có thể gặp phải, phương pháp này chỉ nên áp dụng đối với trường hợp sinh thường, không nên áp dụng với những ca sinh mổ.
Những lợi ích to lớn đối với sức khỏe của trẻ sơ sinh khi được cắt rốn chậm:
Tăng khả vận động của trẻ
Các nhà khoa học Thụy Điển cho rằng, cắt dây rốn ngay sau sinh là hành động tước đi “cơ hội” nhận đầy đủ các tế bào gốc “tự nhiên” từ cơ thể mẹ của trẻ sơ sinh. Điều này sẽ khiến trẻ phải chịu nhiều “thiệt thòi” hơn về sức khỏe so những trẻ được cắt dây rốn chậm sau sinh.
Một nghiên cứu khác còn chỉ ra rằng, mặc dù sự phát triển như nhau, nhưng những trẻ 4 tuổi được kẹp cắt dây rốn trong 3 phút sau sinh có kỹ năng vận động tốt hơn những trẻ cắt dây rốn trong vòng 10 giây sau chào đời.
Giảm nguy cơ thiếu máu
Theo cơ chế sinh lý của hoạt động sống, khi dây rốn chưa ngừng đập nghĩa là trẻ sơ sinh vẫn được nhận từ người mẹ một lưu lượng máu nhất định thông qua nhau thai. Như vậy, sau khoảng 2 - phút sau khi lọt lòng, phổi trẻ có thể tự đảm nhận việc đưa oxy vào máu, đồng thời nhận được thêm khoảng 30% tế bào hồng cầu, tế bào gốc và lượng chất sắt nhờ vào việc gắn kết với mẹ qua dây rốn.
Nhờ đó đó, việc chậm cắt dây rốn sẽ giúp trẻ có thêm thời gian để nhận đủ lượng máu, giúp trẻ ngăn ngừa nguy cơ thiếu máu do thiếu sắt sau sinh.
Phát triển não bộ
Do cắt dây rốn chậm, trẻ sơ sinh sẽ nhận đủ lượng máu và lượng sắt cần thiết ngay từ những phút đầu đời. Nhờ đó, trẻ sẽ có hệ thần kinh khỏe mạnh và phát triển hơn những trẻ cắt rốn theo phương pháp thông thường.
Một số nhà khoa học Mỹ cũng nhận định rằng, việc chậm cắt dây rốn khoảng 3 phút sẽ giúp trẻ sơ sinh có chỉ số IQ cao hơn và thông minh hơn khi lớn lên.
Có lợi cho trẻ sinh non
Nghiên cứu của Mercer và CS đăng trên tạp chí Pediatr (2016) cho biết, phương pháp cắt dây rốn chậm có thể giúp trẻ sinh non dưới 32 tuần ngừa thiếu máu lúc 6 tuần tuổi và cải thiện khả năng vận động khi đến 18 tháng tuổi.
Ngoài ra, kẹp cắt dây rốn muộn 2 - 5 phút cũng giúp giảm nguy cơ xuất huyết não và viêm ruột hoại tử ở trẻ sinh non.
http://suckhoe.com.vn/me-va-be/tre-cham-cat-ron-sau-sinh-3-5-phut-se-lon-len-thong-minh-khoe-manh-hon-72862
Béo phì làm tăng nguy cơ mắc nhiều loại ung thư
Theo báo cáo của Viện Nghiên cứu quốc tế về ung thư (CIRC/IARC) tại Lyon, Pháp, thừa cân có thể làm tăng nguy cơ mắc phải bệnh ung thư dạ dày, gan, túi mật, tụy, buồng trứng và tuyến giáp.
Không những vậy, nguy cơ bị u màng não, ung thư não, u tủy và những tổn thương về tủy xương ở những người béo phì cũng cao hơn rất nhiều so với những người có trọng lượng cân đối. Trong khi đó, thông tin đăng trên tạp chíNew England Journal of Medicine cho biết thừa cân không chỉ làm tăng khả năng mắc ung thư dạ dày và hệ tiêu hóa mà còn dẫn đến nguy cơ phát triển những khối u trong não hoặc cơ quan sinh sản.
Năm 2002, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) tuyên bố thừa cân tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các tế bào ung thư đại tràng, thực quản, thận, vú và cổ tử cung. Ngoài ra, trên thế giới cũng đã có hàng ngàn những cuộc nghiên cứu phân tích mối liên hệ giữa ung thư và thừa cân, và cuối cùng tất cả đều đi đến kết luận, kìm hãm tăng cân có thể làm giảm nguy cơ mắc nhiều bệnh ung thư.
Phát biểu trong một báo cáo đăng trên trang Prevention, TS Graham Colditz, trưởng nhóm nghiên cứu tại IARC đồng thời là thành viên khoa y học tại Trường đại học Washington de St.Louis cho biết gánh nặng của bệnh ung thư do thừa cân hoặc béo phì nguy hiểm hơn rất nhiều so với những gì chúng ta nghĩ, và nhiều căn bệnh ung thư mới được xác định đa phần có liên quan đến thừa cân một cách khắng khít.
Tế bào ung thư thường phát triển mà không có lý do cụ thể nào. Chúng đôi khi có thể liên kết với virus, các chất ô nhiễm, yếu tố di truyền hay do bức xạ… nhưng thói quen sống (hút thuốc, uống rượu, thừa cân…) cũng đóng vai trò quan trọng. Chất béo tích tụ trong cơ thể có thể gây nên viêm nhiễm và gây ra khủng hoảng từ sự thừa estrogen, testosterone và insulin, từ đó đẩy mạnh sự phát triển của tế bào ung thư.
Theo thống kê của WHO, hiện nay trên thế giới có khoảng 640 triệu người lớn và 110 triệu trẻ em bị béo phì. Do đó, để ngăn ngừa ung thư, cần có một lối sống lành mạnh như cân bằng ăn uống, ổn định cân nặng, thường xuyên tập thể dục, không hút thuốc lá…
http://thanhnien.vn/suc-khoe/beo-phi-lam-tang-nguy-co-mac-nhieu-loai-ung-thu-744179.html
Fanpage
Youtube


















