Điểm báo điện tử ngày 26/9/2016
26/09/2016
0
Singapore “nghiền ngẫm” cách kiểm soát Zika
-Singapore lên kế hoạch thành lập chương trình giám sát quốc gia về sự phát triển của trẻ sơ sinh và phụ nữ mang thai nhiễm Zika.
Hãng thông tấn CNA trích dẫn thông tin từ Bộ Y tế, cho biết 16 phụ nữ mang thai đã được xác nhận là nhiễm virus này tại Singapore, con số đã tăng gấp đôi từ 8 trường hợp được báo cáo vào ngày 11/9. Được biết, Bộ Y tế vẫn theo dõi chặt chẽ sự phát triển virus ở 16 phụ nữ này.
Hầu hết người mắc có những triệu chứng dù nhẹ thì nhiễm trùng Zika ở phụ nữ mang thai đã được chứng minh là gây ra tật đầu nhỏ, một dị tật bẩm sinh nghiêm trọng. Ở người lớn, nó có thể gây ra một hội chứng thần kinh hiếm gặp gọi là hội chứng Guillain-Barre.
Quốc đảo Singapore đã phát hiện trường hợp đầu tiên nhiễm virus Zika vào ngày 27/8, và kể từ đó, số trường hợp lây nhiễm được báo cáo vào ngày 23/9 đã lên đến 387.
Virus này hiện đang ảnh hưởng đến phần lớn các nước Mỹ Latinh và vùng Caribe, với việc bùng nổ tại Brazil. Nó cũng đã lan rộng ở các bộ phận khác của khu vực Đông Nam Á.
Một tuần sau khi Singapore báo cáo về trường hợp đầu tiên nhiễm Zika tại địa phương, các nhà khoa học nói rằng họ đã hoàn thành trình tự gen của virus. Các phân tích cho thấy virus thuộc dòng dõi châu Á và có khả năng phát triển từ dòng dõi này, lưu hành trong khu vực Đông Nam Á. Được biết, virus từ hai bệnh nhân tại Singapore không phải được lây lan từ Nam Mỹ.
Muỗi Aedes truyền Zika đã được phát hiện ở 67 quốc gia và vùng lãnh thổ và ảnh hưởng nặng nề nhất là ở Brazil, khi bị muỗi đốt chỉ gây ra các triệu chứng nhẹ như sốt và phát ban.
http://toquoc.vn/y-te/singapore-nghien-ngam-cach-kiem-soat-zika-212117.html
Ghép phổi sắp tiến hành ở Việt Nam
- Mới đây, PGS.TS Tạ Bá Thắng, Phó Chủ nhiệm Khoa Lao và Bệnh phổi Bệnh viện Quân y 103, đại diện nhóm nghiên cứu đã đưa ra những dự báo về xu hướng ghép phổi ở Việt Nam trong tương lai.
Theo PGS.TS Tạ Bá Thắng, hiện nay trên thế giới, ghép phổi đã phát triển mạnh, số ca ghép phổi liên tục tăng lên qua các năm. Những người xơ hóa phổi, ung thư phổi, bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính... đều có thể ghép phổi. Bệnh nhân được ghép phổi có thời gian sống thêm tăng đáng kể. Ví dụ bệnh nhân xơ hóa phổi sau khi ghép phổi có tỷ lệ sống thêm 5 năm cao hơn người bị bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính. Hiện có hai hướng phát triển ghép phổi, đó là ghép phổi từ người sống chết não và ghép phổi từ người bình thường (hay còn gọi ghép thùy phổi từ người sống; ghép phổi từ người hiến tạng sống)
Với sự phát triển của khoa học kĩ thuật hiện đại, các bác sĩ Việt Nam có thể tiếp cận được kỹ thuật ghép phổi và thực hiện tại Việt Nam vì chúng ta đã từng ghép thành công một số bộ phận: tim, thận, gan... Nguồn phổi ghép cũng đang ngày một đa dạng hơn từ người hiến, người chết não. Đây sẽ là nền tảng để tương lai không xa các bác sĩ Việt Nam sẽ tiến hành ca ghép phổi đầu tiên.
Theo phân tích của TS Thắng, ghép thùy phổi từ người sống có thể dễ dàng hơn vì nguồn cho dồi dào từ người thân. Khoa học đã chứng minh việc cắt bớt một thùy dưới không gây ảnh hưởng đến sức khỏe người cho tạng. Các chuyên gia y tế khuyến cáo lấy nguồn cho từ những người trong độ tuổi 20-60 là thích hợp nhất. Khi nguồn cho là người sống, sẽ cho phép chủ động tiến hành những xét nghiệm, chủ động thời gian phẫu thuật.
Kỹ thuật ghép phổi từ người sống sẽ phức tạp hơn. Ghép phổi lấy nguồn từ người cho sống có hai kỹ thuật chính: Lấy một phân thùy dưới từ người cho ghép vào một lá phổi người nhận. Thứ hai là lấy 2 thùy phổi từ hai người cho khác nhau ghép vào hai lá phổi người nhận. Cũng như ghép các bộ phận khác, ghép phổi vẫn có nguy cơ thải ghép, rối loạn chức năng phổi ghép, có thể dẫn đến suy hô hấp và tử vong. Triệu chứng chủ yếu là khó thở, suy hô hấp. Những nguy cơ trên tùy thuộc vào yếu tố người cho, người nhận và quá trình phẫu thuật. Do đó, việc điều trị dự phòng rất quan trọng. Tuy nhiên, với các kỹ thuật hiện đại tỉ lệ thành công của các ca ghép hiện nay rất cao, mang lại cuộc sống tốt hơn cho bệnh nhân sau ghép.
Theo ông Nguyễn Tiến Quyết, nguyên giám đốc Bệnh viện Việt Đức, chuyên gia đầu ngành về ghép tạng, việc ghép phổi sẽ mở ra cơ hội điều trị cho bệnh nhân bị phổi tắc nghẽn mãn tính, chứng bệnh đang ngày càng trở nên phổ biến, nhất là nhóm bệnh nhân có tiền sử hút thuốc lá hoặc bị tác động từ khói bụi môi trường, hoặc một số nhóm ung thư phổi ở giai đoạn sớm. Từ năm 2017, ghép phổi sẽ là phẫu thuật phổ biến tại Việt Nam.
http://suckhoedoisong.vn/ghep-phoi-sap-tien-hanh-o-viet-nam-n122900.html
Hãy cẩn trọng với những triệu chứng của bệnh ung thư vú
-Ung thư vú là một loại ung thư phổ biến thường gặp và gây tử vong cao ở phụ nữ sau ung thư cổ tử cung. Đây là một loại bệnh lý hết sức phức tạp nên cần được phát hiện và chữa trị kịp thời. Ung thư vú cũng có tỷ lệ di truyền nhất định, thường gặp ở độ tuổi 40 đến 60 tuổi, những phụ nữ ở độ tuổi tiền mãn kinh hoặc mới mãn kinh tỷ lệ phát bệnh cao hơn.
Ung thư vú là một bệnh lý ác tính xuất hiện trong các tế bào ở mô của vú. Những tế bào này thường phát sinh từ các ống dẫn hoặc tiểu thùy ở vú, sau đó có thể lây lan trong các mô hoặc cơ quan và các bộ phận khác của cơ thể.
Nguyên nhân của bệnh ung thư vú
- Tuổi tác: ung thư vú tỷ lệ thuận với tuổi tác – tuổi càng cao nguy cơ mắc bệnh càng tăng.
- Tiền sử gia đình: phụ nữ kế thừa 2 loại gen: BRCA1 và BRCA2 có nguy cơ cao hơn. Thường yếu tố di truyền liên quan tới gia đình có tiền sử mắc bệnh gồm mẹ, chị.
- Những người có kinh nguyệt sớm hoặc mãn kinh muộn đều có nguy cơ mắc bệnh cao hơn bình thường.
- Người hiếm muộn con, khó có con hoặc không có con dễ mắc bệnh ung thư vú.
- Những người béo, thừa cân dễ có nguy cơ mắc bệnh ung thư vú.
Ung thư vú là một bệnh lý ác tính xuất hiện trong các tế bào ở mô của vú. Những tế bào này thường phát sinh từ các ống dẫn hoặc tiểu thùy ở vú, sau đó có thể lây lan trong các mô hoặc cơ quan và các bộ phận khác của cơ thể.
Nguyên nhân của bệnh ung thư vú
- Tuổi tác: ung thư vú tỷ lệ thuận với tuổi tác – tuổi càng cao nguy cơ mắc bệnh càng tăng.
- Tiền sử gia đình: phụ nữ kế thừa 2 loại gen: BRCA1 và BRCA2 có nguy cơ cao hơn. Thường yếu tố di truyền liên quan tới gia đình có tiền sử mắc bệnh gồm mẹ, chị.
- Những người có kinh nguyệt sớm hoặc mãn kinh muộn đều có nguy cơ mắc bệnh cao hơn bình thường.
- Người hiếm muộn con, khó có con hoặc không có con dễ mắc bệnh ung thư vú.
- Những người béo, thừa cân dễ có nguy cơ mắc bệnh ung thư vú.
|
ử dụng thuốc tránh thai thường xuyên là nguyên nhân gây ra rất nhiều bệnh trong đó có ung thư vú |
- Hay uống rượu, chế độ dinh dưỡng không khoa học và lành mạnh.
- Có liên quan tới phẫu thuật nâng ngực.
Triệu chứng và dấu hiệu của ung thư vú rất đa dạng, các chị em phụ nữ cần chú ý thăm khám bác sĩ khi có những biểu hiện sau:
Thay đổi hình dạng và kích thước vú
Theo Webmd, nhiều phụ nữ không sờ thấy khối u như thông thường mà họ thấy ngực to hơn, chảy xuống thấp hơn, có hình dạng khác thường. Đây là triệu chứng của ung thư vú, thường gặp ở phụ nữ có mô vú dày đặc. Nó cũng khiến việc phát hiện ung thư vú gặp khó khăn hơn, nên nếu bạn có mô vú dày, hãy cảnh giác với những dấu hiệu này.
Ngứa ở ngực
Triệu chứng này, chủ yếu liên quan tới ung thư vú dạng viêm, và thường bị bỏ qua. Người bệnh bị ung thư vú dạng viêm bị ngứa nhiều, nổi mẩn đỏ, hay da sần sùi. Nguyên nhân là do các tế bào ung thư phát triển nhanh chặn mạch máu và bạch huyết mạch ở da, khiến cho chất lỏng tích tụ trong và dưới da, gây kích thích da.
Đau tức ở ngực
Bạn bỗng cảm thấy ngực mình đau tức ngay cả những ngày bình thường, khi tới gần ngày kinh nguyệt thì ngực bạn càng thấy đau hơn nữa, giống như bị sưng vù lên vậy, cảm giác đau khiến bạn không dám chạm vào ngực mình nữa.
Có hạch ở dưới nách
Bạn sờ thử từ bầu ngực vuốt lên trên theo đường hõm nách thì thấy có hạch nổi lên ở nách.
Hạch ở nách là giai đoạn đầu tiên phát triển bệnh ung thư vú.
Có u cục ở vú
Khi sờ nắn theo đường vòng xung quanh vú thì bạn sẽ thấy có u cục nổi ở trong vú giống như là những viên sỏi nhỏ ở trong vú.
Những u cục này có thể là u lành tính hoặc u ác tính, nên đi khám xét để có được hướng điều trị tốt nhất và kịp thời.
Sự thay đổi ở núm vú
Núm vú bị loét, chảy dịch màu trong, vàng trong hoặc màu đỏ sẫm giống màu máu. Núm vú có thể bị co kéo tụt hẳn vào bên trong. Vùng da xung quanh vú nhăn nheo, cảm giác da dày lên như bì lợn.
Có biểu hiện của viêm da vùng quanh vú
- Da đỏ, phù dưới dạng da cam
- Chảy nước
- Bong da vảy nến
- Ngứa dị ứng
Đau lưng, vai, gáy
Ở một số phụ nữ mắc ung thư vú, họ cảm thấy đau ở lưng hay vai chứ không phải ở ngực hoặc vú. Cơn đau thường xảy ra ở phần lưng trên hoặc giữa 2 bả vai, dễ bị nhầm lẫn với chấn thương dây chằng, viêm xương khớp cột sống.
Cách điều trị bệnh ung thư vú
Để điều trị bệnh ung thư vú có nhiều phương pháp điều trị. Dưới đây là một số phương pháp điều trị bệnh ung thư vú hiệu quả hiện nay. Tùy từng trường hợp mà người bệnh sẽ được áp dụng phương pháp điều trị ung thư vú như thế nào để hiệu quả triệt để nhất.
Ung thư tại chỗ
Carcinoma ống tại chỗ: Điều trị chủ yếu là đoạn nhũ có tỷ lệ khỏi bệnh là 98-99% với 1-2% trường hợp tái phát. Điều trị bảo tồn vú đang là hướng đi mới, chỉ mổ lấy bướu cùng với xạ trị hỗ trợ cũng khá hiệu quả, với tỷ lệ tái phát là 7-13%. 2. Phẫu thuật chỉ áp dụng cho một số ít bệnh nhân. Bệnh nhân được theo dõi sát kết hợp với hóa phòng ngừa.
Phẫu thuật điều trị ung thư vú
Phẫu thuật cắt bỏ vú: Là phương pháp bác sĩ sẽ cắt bỏ đi toàn bộ tuyến vú và vét sạch hạch ở nách.
Phẫu thuật bảo tồn vú: Còn được gọi là cắt bỏ riêng khối u hoặc cắt bỏ một phần. Trong phẫu thuật bảo tồn vú, chỉ cắt bỏ mô ung thư và một phần mô xung quanh cũng như các hạch trong hệ bạch huyết. Phạm vi phẫu thuật cắt vú phụ thuộc vào kích thước và vị trí của khối u và các yếu tố khác. Sau phẫu thuật bảo tồn vú, bệnh nhân nhất thiết phải xạ trị.
Xạ trị
Đây là một phần của phương pháp phẫu thuật bảo tồn. Xạ trị giúp giảm nguy cơ tái phát ung thư vú. Phương pháp này hiện nay đang được sử dụng ở hầu hết các bệnh viện lớn. Xạ trị giúp thu nhỏ khối ung thư, tiêu diệt các tế bào ung thư nhanh chóng.
Liệu pháp toàn thân ngăn chặn triệt để ung thư vú
Hóa trị là một phương pháp toàn thân để ngăn chặn các tế bào ác tính lan tràn. Việc sử dụng hóa trị khá phức tạp và điều trị lâu dài nhưng lại có tác dụng triệt để trong việc ngăn chặn u bướu lan rộng. Phương pháp điều trị toàn thân này được căn cứ vào nhiều yếu tố: độ tuổi, đã mãn kinh hay chưa, bệnh nhân có thụ thể với estrogen dương tính hay không…
Phương pháp nào cũng có ưu nhược điểm riêng. Người bệnh cần được đưa tới phòng khám để làm các xét nghiệm cơ bản trước khi áp dụng bất cứ phương pháp điều trị ung thư nào. Hóa trị ung thư vú là biện pháp cần thực hiện khi khối ung thư quá lớn và có nguy cơ gây tử vong. Tại đây các bác sĩ sẽ tiêm thuốc để ngăn ngừa các tế bào ung thư hoạt động cũng như di căn sang vùng khác.
Biện pháp này thường làm cho người bệnh cảm thấy mệt mỏi vì hóa chất trong cơ thể. Tuy nhiên về lâu dài thì đây vẫn là cơ hội cuối cùng của những bệnh nhân ung thư vú./.
http://baophapluat.vn/camera-benh-vien/hay-can-trong-voi-nhung-trieu-chung-cua-benh-ung-thu-vu-296486.html
Nam Định: 45 người nhập viện sau khi ăn cỗ
Sự việc xảy ra vào hôm qua (ngày 25/9), rất may không có trường hợp nào nguy hiểm đến tính mạng.
Thông tin từ người dân cho biết, trưa 25/9, sau khi đi ăn cỗ cưới tại một gia đình ở thôn Phong Vinh (xã Đại Thắng, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định) về thì nhiều người cảm thấy khó chịu, chóng mặt, buồn nôn, đi ngoài nhiều lần. Các món ăn trong đám cỗ gồm: nem, thịt bò, thịt gà, tôm, cá quả đùm giấy bạc nướng, bánh giầy nhân đậu.
Ngoài ra, tại một đám 49 ngày ở phường Năng Tĩnh, TP. Nam Định, sau khi người dân ăn cỗ cũng xuất hiện các dấu hiệu ngộ độc thực phẩm phải vào viện cấp cứu. Các món chính trong cỗ tại đây là: thịt gà, thịt bò, tôm…
Theo thống kê, có khoảng 45 người phải nhập viện vì ngộ độc thực phẩm sau khi ăn cỗ tại hai đám trên.
Trao đổi với PV, bà Bùi Thị Minh Thu, Giám đốc Sở Y tế tỉnh Nam Định cho biết, Sở đã nhận được thông tin về các ca ngộ độc thực phẩm trên vào ngày hôm qua. Theo đó, ở thôn Phong Vinh, xã Đại Thắng, huyện Vụ Bản, người dân ăn cỗ lúc 8h30’ sáng 25/9 thì đến 11h30’ bắt đầu xuất hiện ca đầu tiên có biểu hiệu buồn nôn, đau bụng.
Nhận được tin báo, Sở Y tế tỉnh Nam Định đã lập tức chuyển các bệnh nhân đến 4 trạm y tế ở các xã xung quanh như Thành Lợi, Tam Thanh, Vĩnh Hào, Liên Minh và ở các bệnh viện Đa khoa huyện Vụ Bản, Đa khoa tỉnh, Bệnh viện Nhi đối với các trường hợp có dấu hiệu nặng hơn.
“Sở Y tế cũng đã cử cán bộ, nhân viên tới các nơi ngộ độc để khử khuẩn, đồng thời lấy mẫu thức ăn đưa đi xét nghiệm. Hiện vẫn đang chờ kết quả, sau khi có thông tin, Sở sẽ cung cấp”, bà Thu thông tin thêm.
http://www.baogiaothong.vn/nam-dinh-45-nguoi-nhap-vien-sau-khi-an-co-d169861.html
Thời tiết thất thường, trẻ mắc bệnh hô hấp tăng đột biến
- Thời gian gần đây, trung bình mỗi ngày Bệnh viện Nhi Trung ương tiếp nhận gần 4.000 bệnh nhi đến khám, trong đó số bệnh nhi phải nhập viện tăng khoảng 25%, chủ yếu là các bệnh viêm đường hô hấp, viêm phổi, nhiều trường hợp bị nặng.
Nếu ở các tuần trước, hầu hết trẻ đến khám được về theo dõi, điều trị thì mấy ngày trở lại đây bệnh nhân phải ở lại nhập viện tăng nhanh, nhiều bệnh nhân suy hô hấp nặng phải thở oxy.
Theo TS. BS Đậu Việt Hùng, Phụ trách Đơn nguyên Hồi sức Hô hấp, Bệnh viện Nhi Trung ương, đơn nguyên này mới thành lập được gần 2 tuần nhưng đã tiếp nhận gần 40 bệnh nhân viêm phổi, viêm tiểu phế quản nặng phải thở oxy từ các khoa khác chuyển vào. Đa phần các bệnh nhi mới vài tháng tuổi.
Còn tại khoa Cấp cứu – Chống độc nếu trước đó mỗi ngày Khoa chỉ tiếp nhận từ 100-120 em bé, thì hiện nay bình quân phải tiếp nhận khoảng 170 bệnh nhi mỗi ngày.
Theo TS. BS Đậu Việt Hùng, hầu hết các ca bệnh đến khám và nhập viện do bệnh lý hô hấp đều có biểu hiện rõ rệt là hắt hơi, sổ mũi, ho ngày càng tăng, ho nhiều, có đờm, đau họng, viêm phế quản. Ở trẻ nhỏ thì có biểu hiện bỏ bú, khó thở, ho do tắc đờm. Các trường hợp trẻ nhỏ dưới 6 tháng tuổi, bệnh cũng diễn tiến nhanh cấp tính và thường phải nằm ở viện lâu hơn.
Còn tại Khoa Nhi, Bệnh viện Bạch Mai, BS. Nguyễn Thành Nam, phụ trách Khoa Nhi cho biết, 2 tuần trở lại đây, lượng bệnh nhi đến khám vì các bệnh hô hấp tăng lên nhanh. Mỗi ngày, Khoa tiếp nhận tới 400 - 500 bệnh nhân, trong đó, số bệnh nhi đến khám vào buổi tối lên tới khoảng 100 - 150 ca.
“Trong tổng số bệnh nhi đến khám, quá 50% là các bệnh liên quan đến đường hô hấp, viêm phổi, sốt virus. Có những trẻ vừa khỏi sốt virus lại bị tái nhiễm viêm đường hô hấp, viêm tiểu phế quản.” BS. Nguyễn Thành Nam cho biết.
Nguyên nhân của tình trạng bệnh nhân nhập viện điều trị gia tăng này được xác định là do miền Bắc đang vào giai đoạn chuyển mùa, thời tiết ngày nóng, sáng sớm và đêm se lạnh khiến sức đề kháng của trẻ giảm. Hệ miễn dịch và cơ hô hấp của trẻ cũng chưa hoàn thiện, cấu trúc đường thở nhỏ nên rất dễ bị khó thở khi bị viêm nhiễm. Bên cạnh đó, có nhiều bà mẹ tự quyết định điều trị, sai lầm trong việc chăm sóc, đến khi dấu hiệu nặng lên mới đưa con đến các cơ sở y tế cũng là nguyên nhân khiến bệnh của trẻ trở nên nặng hơn.
Các bác sĩ khuyến cáo, để phòng các bệnh viêm tai mũi họng, viêm đường hô hấp trong thời điểm này, các bậc phụ huynh cần tăng cường sức đề kháng cho trẻ bằng chế độ dinh dưỡng hợp lý, tăng cường trái cây, vitamin. Ngoài ra cần là chú ý tiêm phòng đầy đủ cho trẻ.
Lưu ý nhiệt độ phòng, tránh tình trạng trẻ bị quá nóng hoặc quá lạnh. Khi trong gia đình có người bị hắt hơi, sổ mũi cần phòng tránh bằng cách che chắn khi ho, hắt hơi, thường xuyên rửa tay bằng xà phòng, đeo khẩu trang… để không lây bệnh sang các thành viên khác.
Trong một số trường hợp trẻ bị ho, sốt, sổ mũi, chơi bình thường, khi chưa thể đi khám bác sĩ thì cha mẹ có thể theo dõi cho trẻ ở nhà. Có thể uống các thuốc ho thông thường, sốt thì hạ sốt, cho trẻ ở chỗ thoáng mát. Nếu trẻ thở nhanh, sốt cao lên, ăn uống kém, mệt mỏi nhiều thì cần đưa con đến các cơ sở y tế để được khám và điều trị kịp thời.
http://congly.vn/xa-hoi/suc-khoe/thoi-tiet-that-thuong-tre-mac-benh-ho-hap-tang-dot-bien-176102.html
Fanpage
Youtube


















