Điểm báo điện tử ngày 21/8/2015
21/08/2015
0
Sốt xuất huyết tăng nhanh tại một số địa phương: Chủ quan là nguy!
Thống kê của Cục Y tế dự phòng (YTDP) Bộ Y tế cho thấy, từ đầu năm đến nay, cả nước đã ghi nhận gần 10.000 trường hợp mắc sốt xuất huyết (SXH) trong đó đã có một số trường hợp tử vong.
Thống kê của Cục Y tế dự phòng (YTDP) Bộ Y tế cho thấy, từ đầu năm đến nay, cả nước đã ghi nhận gần 10.000 trường hợp mắc sốt xuất huyết(SXH) trong đó đã có một số trường hợp tử vong. Trong đó nhiều địa phương có số mắc SXH lũy tích tăng cao so với cùng kỳ năm ngoái như: TPHCM, Đồng Nai, Sóc Trăng, Đồng Tháp, Hà Nội. Hiện nay, dịch bệnh SXH đang vào giai đoạn cao điểm, với số người mắc tăng nhanh, đặc biệt là một số địa phương phía Nam. Trong khi các cơ quan chức năng tích cực các biện pháp phòng chống dịch thì vai trò của mỗi người dân cũng góp phần tích cực trong việc đẩy lùi dịch bệnh này.
Nhiều ca bệnh SXH biến chứng nặng
BS. Cao Trọng Ngưỡng, Giám đốc Trung tâm YTDP Đồng Nai cho biết, hiện nay tình hình dịch SXH đang bùng phát dữ dội tại nhiều địa phương trong tỉnh. Chỉ tính riêng 2 tuần cuối tháng 7 và đầu tháng 8, mỗi tuần đã có trên 200 ca mắc. Tại một số bệnh viện tuyến tỉnh, số ca SXH tăng đáng kể, đáng lưu ý số ca bệnh nặng tăng cao hơn so với cùng kỳ năm 2014. Khoa Nhiễm, BVĐK Đồng Nai hiện trong tình trạng quá tải, khi mỗi ngày có từ 10-20 ca bệnh SXH mới nhập viện chiếm 2/3 số ca bệnh nhiễm điều trị nội trú. Tương tự, tại Khoa Nhiệt đới, BVĐK Thống Nhất, mỗi ngày có khoảng 35 bệnh nhân SXH điều trị, chiếm 1/3 bệnh nhân trong khoa, trong đó có nhiều trường hợp bị sốc, mạch nhanh, huyết áp tụt phải điều trị tích cực. Tại BV Nhi đồng Đồng Nai, mỗi ngày điều trị nội trú cho 60-70 bệnh nhân SXH, trong đó có đến 10% các ca bệnh bị sốc, suy đa tạng... Tại Bình Dương, SXH cũng đã cướp đi sinh mạng của hai cháu bé, trong đó một trường hợp sinh năm 2008 và một trường hợp sinh năm 2004. Theo nhận định của Sở Y tế Bình Dương, hiện đang là mùa mưa, dịch bệnh SXH có thể tiếp tục gia tăng và diễn biến phức tạp, có thể tiếp tục có ca bệnh nặng, nguy hiểm. Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh hiện SXH cũng đang tăng đột biến. Tại TP.HCM, đến nay đã ghi nhận trên 6.200 trường hợp mắc, trong đó riêng đầu tháng 8 có trên 310 ca mắc mới. Tại Hà Nội, từ đầu năm đến nay có trên 850 ca mắc rải rác tại 29 quận huyện. Còn tại Bệnh viện Bệnh nhiệt đới TW, số lượng bệnh nhân SXH bắt đầu tăng nhanh, chỉ tính riêng trong 13 ngày đầu tháng 8 đã có tới gần 70 trường hợp nhập viện. Đáng lưu ý, nhiều trường hợp chủ quan nghĩ là sốt virut nên nhập viện muộn. PGS.TS. Nguyễn Văn Kính, Giám đốc Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương cho biết, hầu hết các bệnh nhân SXH đều nhập viện muộn vì chủ quan, tưởng nhầm bị sốt virut hoặc sốt phát ban... Việc này không chỉ khiến thời gian điều trị kéo dài mà còn khiến bệnh nhân bị tình trạng nặng.
Dồn lực phòng chống SXH
Để ứng phó với diễn biến phức tạp của dịch SXH, Bộ Y tế đã quyết định thành lập 5 đoàn kiểm tra, giám sát tình hình SXH trong cả nước. Đồng thời, khuyến cáo người dân chủ động thực hiện các biện pháp phòng chống dịch bệnh nguy hiểm này bằng cách đậy kín tất cả các dụng cụ chứa nước để muỗi không vào đẻ trứng. Hàng tuần thực hiện các biện pháp diệt lăng quăng/bọ gậy bằng cách thả cá vào dụng cụ chứa nước lớn. Khi bị sốt kéo dài, người dân cần đến ngay cơ sở y tế để được khám và tư vấn điều trị, tuyệt đối không tự ý điều trị tại nhà.
Giám đốc Sở Y tế Đồng Nai Huỳnh Minh Hoàn khẳng định, một trong những nhiệm vụ cần tập trung thực hiện trong tháng 8 của ngành y tế là phòng, chống dịch SXH. Theo đó, ngoài đẩy mạnh tuyên truyền, triển khai phun thuốc diện rộng tại các vùng trọng điểm, cần tăng cường giám sát dập dịch để đánh giá hiệu quả của công tác này, nếu dập dịch chưa hiệu quả thì phải có giải pháp khắc phục kịp thời. BS. Đặng Thanh Phong - Trưởng khoa Kiểm soát bệnh truyền nhiễm và vắc-xin sinh phẩm, Trung tâm YTDP cũng nhấn mạnh, tại Sóc Trăng tình hình SXH diễn biến phức tạp, trong đó điểm nóng là thị xã Vĩnh Châu. Các cán bộ chống dịch tuyến tỉnh, huyện đã dốc toàn lực khống chế bệnh, không để dịch lan rộng. Cho đến nay, bệnh SXH vẫn chưa có vắc-xin phòng bệnh và chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, do đó, việc phòng bệnh trở nên cấp bách và cần thiết hơn bao giờ hết. Bởi, nếu không chủ động thì bệnh SXH sẽ bùng phát thành dịch, trở thành gánh nặng và cản trở sự phát triển kinh tế của gia đình và xã hội.
Cảnh báo những thói quen ở phụ nữ gây hại cho khớp
Chế độ vận động không hợp lý, tăng cân quá nhanh, thường xuyên ngồi xổm, đi giày cao gót hay làm việc quá sức… đều là những thói quen có hại, góp phần làm bệnh thoái hóa khớp xuất hiện sớm ở nữ giới.
Khớp hư tổn vì thói quen
Trong sinh hoạt và lao động hằng ngày, có những động tác có thể gây tổn hại khớp như:
Ngồi xổm, quỳ gối: Là tư thế xấu dễ gây tổn thương dây chằng và sụn khớp. Nghiên cứu gần đây cho thấy: có khoảng 40% phụ nữ sau tuổi 40 xuất hiện triệu chứng đau khi ngồi xổm, cao gấp đôi nam giới; những người này có nguy cơ thoái hóa khớp gối tăng đến 41%.
Mang vác nặng, sử dụng khớp quá sức: Phụ nữ làm công việc nội trợ, lao động tay chân, mang vác nặng rất dễ mắc thoái hóa khớp bàn tay, khớp vai. Thống kê cho thấy, nữ giới chiếm tỷ lệ 2/3 các trường hợp thoái hóa khớp bàn tay. Đáng lưu ý, tỷ lệ nữ nhân viên văn phòng có các dấu hiệu của thoái hóa khớp bàn tay ngày càng tăng, do thường xuyên đánh máy với cường độ cao.
Ít vận động: Phụ nữ làm việc văn phòng thường mắc thói quen xấu này. Khi các khớp xương không được hoạt động trong một thời gian dài, sụn khớp giảm tính đàn hồi lẫn cơ hội hấp thu các chất dinh dưỡng từ dịch khớp. Từ đó, lớp sụn dần thoái hóa và rất dễ bị tổn thương.
Mang giày cao gót: Sử dụng giày cao gót làm thay đổi tư thế tự nhiên của cơ thể, ảnh hưởng đến cột sống và tăng áp lực trên các khớp bàn chân, mắt cá chân, cổ chân, gia tăng nguy cơ viêm khớp ở phái đẹp. Đặc biệt, mang giày cao gót làm tăng áp lực tại khớp gối, xương bánh chè lên đến 30 - 40%.
Tăng cân, béo phì: Khoảng 80% bệnh nhân thoái hóa khớp gối thuộc nhóm bệnh có thừa cân, béo phì. Các công trình nghiên cứu trên thế giới đã nhận thấy, khi cơ thể tăng một đơn vị trọng lượng thì mỗi gối phải chịu thêm 2 - 3 lần trọng lượng đó. Khi bước qua tuổi 40, phụ nữ thừa cân có nguy cơ thoái hóa khớp gối cao gấp 6 lần so với người bình thường.
Cần chăm sóc sức khỏe sụn khớp ngay từ sớm
Trong các bệnh lý xương khớp, thoái hóa khớp là nguyên nhân phổ biến hàng đầu gây ra tàn phế và giảm chất lượng sống của con người. Tình trạng thoái hóa bắt đầu xảy ra khi mất đi sự cân bằng giữa lực cơ học tác động lên khớp và khả năng chịu đựng của sụn khớp, từ đó khiến sụn khớp bị tổn thương và biến dạng. Bên cạnh yếu tố lão hóa, các thói quen xấu càng làm sụn khớp quá tải, nhanh hao mòn và hư dần theo thời gian, gia tăng nguy cơ mắc bệnh xương khớp ở nữ giới.
Để tránh nguy cơ thoái hóa khớp, phái đẹp cần duy trì một trọng lượng tối ưu, luyện tập thể dục đều đặn, tránh ngồi xổm, hạn chế mang vác nặng, không mang giày quá 2 - 3 cm... nhằm giảm tăng chịu tải khớp và tăng cường các chất dinh dưỡng cho sụn khớp. Trong trường hợp cần mang giày cao gót, không nên mang lâu, nên thay thế ngay khi có thể. Việc giữ tư thế cơ thể luôn thẳng cũng rất cần thiết để cân bằng lực cho hệ thống cơ - gân - sụn, giúp hạn chế tối đa lực đè ép lên hai mặt sụn khớp.
Quan trọng hơn, phụ nữ cần quan tâm chăm sóc sức khỏe khớp ngay từ sớm bằng chế độ dinh dưỡng hợp lý, có thể bổ sung những dưỡng chất cần thiết được chứng minh giúp phục hồi, bảo vệ sụn, bôi trơn và nuôi dưỡng khớp từ gốc và an toàn như UC-II. Theo nghiên cứu của các nhà khoa học thuộc Viện InterHealth (Mỹ), dưỡng chất sinh học UC-II hoạt động theo cơ chế đáp ứng điều hòa miễn dịch, làm giảm các phản ứng viêm trong khớp, giúp giảm đau và sưng khớp. Đồng thời, UC-II còn cung cấp dưỡng chất cần thiết cho quá trình tái tạo, sửa chữa sụn khớp đã hư tổn, làm chậm sự tiến triển của thoái hóa khớp.
Nghiên cứu lâm sàng cho thấy, sử dụng UC-II có tác dụng làm tăng biên độ vận động của khớp và khả năng vận động của khớp cải thiện một cách rõ rệt. Do đó, khả năng hoạt động hằng ngày của cơ thể tốt lên, nâng cao chất lượng cuộc sống, kéo dài tuổi thọ.
http://www.thanhnien.com.vn/suc-khoe/canh-bao-nhung-thoi-quen-o-phu-nu-gay-hai-cho-khop-599254.html
Chức năng của tiền liệt tuyến
Tăng sinh lành tính tiền liệt tuyến hay còn gọi là phì đại tiền liệt tuyến lành tính là bệnh gặp ở nam giới từ tuổi trung niên, đặc biệt là nam giới cao tuổi. Bệnh gây nhiều phiền toái trong cuộc sống hàng ngày, ảnh hưởng đến sức khỏe và có thể gây biến chứng.
Tiền liệt tuyến (TLT) là một bộ phận không thể thiếu của hệ thống sinh dục nam, là một tổ chức nhỏ bao quanh niệu đạo, nằm ở đáy bàng quang, phía sau xương mu, trước trực tràng, bao quanh đoạn đầu của niệu đạo. TLT có chiều cao khoảng 30mm, chiều rộng khoảng 40mm và độ dày khoảng 25mm. Đó là một tuyến chắc, hình quả hạt dẻ, khối lượng khoảng 20g.
Chức năng chính của TLT là tiết ra dịch nhầy trắng, khi kết hợp với tinh trùng sẽ tạo thành tinh dịch. Chất nhầy trắng do TLT tiết ra có tác dụng trung hòa môi trường axít loãng của tinh dịch, nhờ vậy tinh trùng có điều kiện dễ di chuyển từ âm đạo vào tử cung và vòi trứng.
Ở nam giới, TLT bắt đầu phát triển ở tuổi dậy thì, đến khoảng 20 - 25 tuổi có kích thước ổn định, từ tuổi 40 TLT có xu hướng tăng sinh chậm, không di căn (lành tính) và thường gây ra triệu chứng sau 50 tuổi.
Nguyên nhân tăng sinh TLT lành tính chủ yếu là do tuổi tác và có liên quan nhiều đến nội tiết tố nam giới, ngoài ra có thể do nam giới thường lạm dụng các chất thích (rượu, bia, thuốc lá, cà phê,…). Một số yếu tố như: viêm nhiễm, đặc biệt là viêm nhiễm do vi sinh vật gây ra (vi khuẩn, virút) có thể làm cho TLT to ra trong một thời gian nhất định và nếu được điều trị kịp thời, tiền liệt tuyến có thể trở về trạng thái ban đầu. Nếu không được điều trị hoặc điều trị không dứt điểm TLT bị viêm nhiễm sẽ trở thành viêm mạn tính, kéo dài, to ra gây không ít khó khăn cho người bệnh.
Triệu chứng
Tăng sinh TLT lành tính phất triển chậm, từ từ, vì vậy, triệu chứng xuất hiện cũng tương ứng với từng giai đoạn của bệnh. Các nhà chuyên môn chia bệnh cảnh của phì đại TLT thành 3 giai đoạn, tùy theo mức độ của bệnh. Đó là giai đoạn đầu (giai đoạn cơ năng) chưa có tổn thương thực thể, nhưng sự to ra của tiền liệt tuyến tác động vào cổ bàng quang, đoạn đầu của niệu đạo gây tiểu khó, nước tiểu chảy ra chậm, dòng nhỏ, yếu. Đôi khi tiểu không thành dòng mà bị ngắt quãng, đi tiểu xong còn nhỏ giọt, vì nước tiểu vẫn còn, do đó thời gian đi tiểu kéo dàivà rất buồn đi tiểu. Nhiều trường hợp tiểu bị són, đi tiểu nhiều lần, nhất là ban đêm, gần sáng.
Giai đoạn tiếp theo (giai đoạn 2) do ứ đọng nước tiểu lâu ngày vì cổ bàng quang bị TLT chèn ép và bàng quang bị giãn, vì vậy, đi tiểu khó hơn, nhiều lần hơn, gây hiện tượng đái rắt, són nhiều hơn. Ở giai đoạn này có thể bị nhiễm trùng bàng quang do nước tiểu ứ đọng kéo dài và có thể nhiễm trùng TLT kèm theo. Lúc này xuất hiện thêm các triệu chứng đái buốt, đái đục. Giai đoạn tiếp theo có thể có tổn thương thực thể hệ tiết niệu do TLT chèn ép cổ bàng quang ngày một nặng hơn bởi TLT càng ngày càng to ra, kèm theo ứ đọng nước tiểu gây nhiễm trùng ngược dòng dẫn đến viêm thận và ảnh hưởng đến chức năng của thận, có thể gây suy thận. Ở giai đoạn này, cơ thành bàng quang bị giãn nhiều nên mỏng, mất trương lực, ứ đọng nước tiểu tăng gây hiện tượng tiểu liên tục và có thể tình trạng nhiễm khuẩn tăng lên. Tuy vậy, hiện tượng tăng sinh TLT lành tính còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố, vì vậy bệnh có thể không diễn biến tuần tự theo các giai đoạn như vừa trình bày, nhưng tiểu khó, són, tiểu nhiều lần trong ngày bao giờ cũng có.
http://suckhoedoisong.vn/ban-can-biet-ve-y-hoc/chuc-nang-cua-tien-liet-tuyen-20150813090741111.htm
10% dân số rối loạn tâm thần: Chưa đáng lo
- Con số 10% dân số VN bị rối loạn tâm thần có thể làm một số người giật mình, nhưng theo các BS chuyên ngành, tỷ lệ này vẫn chưa đáng lo.
Bác sĩ La Đức Cương, Giám đốc BV Tâm thần TW cho biết, ở một số nước phát triển như Pháp, Mỹ thì con số này lên đến hơn 50% dân số. Do vậy, con số 10% dân số VN bị rối loạn tâm thần so với thế giới thì vẫn là một tỷ lệ thấp.
Ông nhấn mạnh, không chỉ những người bị điên mới là những người bị rối loạn tâm thần mà bất kì ai cũng đều có thể có những rối loạn tâm thần nhất định. Vì dấu hiệu tâm thần có rất nhiều mức độ từ nặng đến nhẹ, ngay cả mất ngủ cũng có thể coi là một biểu hiện rối loạn tâm thần.
Giám đốc BV Tâm thần TW cũng cho biết một số nguyên nhân chính dẫn đến rối loạn tâm thần thường gặp. Thứ nhất là do sang chấn tâm lý; nguyên nhân thứ hai là do sử dụng các chất kích thích tâm thần như rượu, ma túy,…; thứ ba là do não bị tổn thương (chấn thương sọ não, tai biến mạch máu não, …).
Một nguyên nhân khác có thể gây ra rối loạn tâm thần là nguyên nhân từ những tai biến bẩm sinh hoặc tổn thương vỏ não trong những năm tháng đầu đời.
Ngoài ra, nghiện game online và một số thói quen khác có thể gây ra những ảnh hưởng đến thần kinh dẫn đến rối loạn tâm thần.
Trao đổi với Đất Việt về vấn đề này, BS tâm thần Nguyễn Khắc Dũng cũng cho rằng số liệu 10% dân số bị rối loạn tâm thần, nghĩa là cứ 10 người thì có 1 người bị rối loạn tâm thần thật ra không phải là một con số đáng kể. Con số này chủ yếu rơi vào độ tuổi thanh thiếu niên, nhân cách chưa được hình thành ổn định.
Theo BS, nguyên nhân dẫn đến tình trạng này có một phần rất lớn đến từ phía gia đình.
Trước đây, thế hệ ông bà, bố mẹ sống trong môi trường khổ cực, khắc nghiệt nên họ đã tự hình thành nên những cơ chế để vượt qua những căng thẳng, khó khăn và những yêu tố khác tác động đến cuộc sống.
Ngược lại, khi cuộc sống càng được cải thiện thì dường như các bậc bố mẹ lại vô tình bao bọc con mình quá mức khiến cơ chế vượt qua căng thẳng của giới trẻ nói chung là rất kém.
Do vậy, hững người này chỉ cần một tác động nhỏ trong cuộc sống như bị điểm kém hay bị bạn bè trêu chọc cũng có thể khiến họ rơi vào trạng thái trầm cảm, thậm chí nảy sinh ý định tự vẫn.
http://baodatviet.vn/doi-song/gia-dinh/10-dan-so-roi-loan-tam-than-chua-dang-lo-3282536/
Axit uric bao nhiêu là cao?
Axit uric là một chất thừa, sản phẩm của chuyển hóa tự nhiên trong cơ thể. Khi tế bào chết đi, nhân của nó bị phá hủy và chuyển hóa thành axit uric.
Hiện tại, tôi đang điều trị bệnh lao (đã tiêm thuốc 3 tuần) thấy bị đau chân, đi xét nghiệm axit uric 758. Có phải do thuốc chống lao gây tăng axit urictrong máu? Hay do nguyên nhân gì?
Lê Trung Thành (trungthanhpgd.mc@gmail.com)
Axit uric là một chất thừa, sản phẩm của chuyển hóa tự nhiên trong cơ thể. Khi tế bào chết đi, nhân của nó bị phá hủy và chuyển hóa thànhaxit uric. Đây là nguồn axit uric nội sinh. Ngoài ra, những loại thực phẩm có nguồn gốc từ động vật (nhất là nội tạng, hải sản...) cũng có nhân tế bào, khi được ăn vào cơ thể cũng sẽ chuyển hóa thành axit uric. Axit uric được thải loại 80% qua đường niệu, 20% qua đường tiêu hóa và da. Bên cạnh đó, rượu bia có tác dụng kích hoạt men xanthine oxidase gây tăng sản xuất acid uric.
Chỉ số axit uric trong máu được coi là bình thường ở nam là 180-420µmol/L, ở nữ là 150-360µmol/L. Tăng axit uric có thể do nhiều nguyên nhân nhưng thường gặp trong bệnh gút và cũng gặp do dùng một số thuốc như thuốc chống lao. Nếu do dùng thuốc thì sau khi ngừng thuốc chỉ số này sẽ giảm dần và về bình thường. Một điều lưu ý là thuốc điều trị bệnh lao có thể gây một số tác dụng phụ, vì vậy trong thời gian điều trị thuốc chống lao thường người bệnh cũng thấy mệt mỏi và nhược cơ bắp, nhất là cơ bắp chân nên có thể biểu hiện đau mỏi chân, nhưng không có sưng nóng đỏ như trong viêm khớp cấp do gút. Trường hợp của bác cần xét nghiệm thêm nếu có tinh thể urat thì rất có thể bác bị bệnh gút. Nếu chỉ tăng đơn độc axit uric thì có thể do tác dụng phụ của thuốc.
BS. Nguyễn Văn Thịnh
http://suckhoedoisong.vn/ban-can-biet-ve-y-hoc/axit-uric-bao-nhieu-la-cao-20150818143006146.htm
Phải đổi mới từ cả hai phía
Là một trong 4 bệnh viện (BV) đầu tiên của ngành y tế đã ký cam kết thực hiện Kế hoạch “Đổi mới phong cách, tinh thần thái độ phục vụ của cán bộ y tế hướng tới sự hài lòng của người bệnh”...
Là một trong 4 bệnh viện (BV) đầu tiên của ngành y tế đã ký cam kết thực hiện Kế hoạch “Đổi mới phong cách, tinh thần thái độ phục vụ của cán bộ y tế hướng tới sự hài lòng của người bệnh”, sau hơn một tháng triển khai thực hiện dù đã có những chuyển biến bước đầu tích cực, nhưng BV K vẫn nhận được không ít phàn nàn của người bệnh. Để tháo gỡ những tồn tại trong thực hiện kế hoạch này, chiều ngày 19/8, tại Bộ Y tế, PGS.TS. Nguyễn Thị Xuyên - Thứ trưởng Bộ Y tế cùng lãnh đạo các vụ/cục chức năng đã làm việc với lãnh đạo chủ chốt và các đồng chí trong Ban chấp hành Đảng bộ BV K.
Sự phản biện của người bệnh: Rất cần
Theo TS. Bùi Diệu - Giám đốc BV K, BV K đã chuyển hầu hết các khoa, phòng ra cơ sở 3 khá khang trang, rộng rãi đi vào hoạt động gần 1 năm nay tại khu vực Tân Triều, Hà Nội. Tuy nhiên, theo thói quen người dân vẫn đổ dồn lên cơ sở 1, ở phố Quán Sứ, Hai Bà Trưng (Hà Nội) khám vốn chật chội, cơ sở vật chất xuống cấp, gây quá tải cho cả nhân viên y tế và người bệnh và đây chính là điểm có nhiều phàn nàn nhất.
Ông Diệu cũng cho biết thêm, ngay sau khi ký cam kết với Bộ Y tế, Đảng ủy, Ban giám đốc, Công đoàn, Đoàn thanh niên và các trưởng khoa, phòng đã họp để bàn kế hoạch, tổ chức thực hiện đổi mới phong cách, thái độ phục vụ của nhân viên y tế. Đồng thời thành lập Ban chỉ đạo tổ chức thực hiện “Đổi mới phong cách, thái độ phục vụ của cán bộ, nhân viên y tế hướng tới sự hài lòng của người bệnh” gồm 21 thành viên. BV cũng đã triển khai nội dung này đến các khoa, phòng qua các buổi giao ban. Ngày 21/8, BV sẽ tổ chức các lớp tập huấn cho toàn bộ cán bộ, nhân viên y tế trong toàn BV. Các trưởng khoa, phòng sẽ phải ký cam kết với giám đốc, mỗi cán bộ, nhân viên y tế sẽ ký với trưởng các khoa, phòng. Ngoài ra, BV đã và đang cải tạo, mở rộng quy mô các phòng khám bệnh tại cơ sở Quán Sứ. Trước đây các bàn hướng dẫn đã được triển khai, nay sẽ cụ thể, chi tiết hơn sao cho người bệnh dễ hiểu, dễ thấy.
Trong 6 tháng đầu năm 2015, BV nhận được 42 phản biện từ Bộ Y tế gửi đến gồm các ý kiến phản ánh của người bệnh thông qua Đường dây nóng ngành y tế, fanpage của Bộ trưởng Bộ Y tế liên quan đến tình trạng cò mồi, cơ sở vật chất, thời gian chờ khám, trả kết quả xét nghiệm và tinh thần thái độ của cán bộ y tế. 30% trong số các phản biện đó liên quan đến tinh thần thái độ của cán bộ y tế. “Hiện nay, BV có hơn 1.500 giường bệnh mà chỉ có gần 1.000 cán bộ cả biên chế và hợp đồng. Áp lực công việc rất lớn. Tuy nhiên, Ban giám đốc BV cho rằng, những phản biện của người bệnh/người nhà bệnh nhân đòi hỏi tập thể BV phải nhìn lại mình để khắc phục tồn tại, ngày càng làm tốt hơn. Cái gì đổi mới cũng phải dần dần, không thể làm ngay, nhưng chính sự phản biện của người bệnh, người nhà bệnh nhân góp phần rất lớn trong việc thực hiện mục tiêu này và nâng cao chất lượng KCB ngày một tốt hơn”- ông Diệu trải lòng.
“Rối ở đâu, gỡ ngay tại đó”
Theo PGS.TS. Nguyễn Văn Thuấn, trong chẩn đoán ung thư bao gồm: chẩn đoán xác định, chẩn đoán mô bệnh học và chẩn đoán giai đoạn bệnh từ đó có kế hoạch điều trị phù hợp với từng loại ung thư với từng giai đoạn bệnh. Việc chẩn đoán mô bệnh học cần có thời gian, nên người bệnh dễ bị hiểu nhầm. “Thầy thuốc đều là những người có tâm, luôn đặt việc điều trị có hiệu quả nhất lên trên hết, tất cả vì sự an toàn của người bệnh. Đôi khi trong lúc làm việc do áp lực công việc, mệt mỏi khó tránh được sự cáu gắt nhưng vẫn với mục tiêu làm sao điều trị hiệu quả nhất cho người bệnh. Do đó mong người bệnh hiểu và thông cảm, chia sẻ và hợp tác với chúng tôi”- ông Thuấn chia sẻ.
Tại cuộc họp, TS. Phạm Văn Tác - Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ - Bộ Y tế mới đây khi trả lời trực tuyến với độc giả, cả ông và Giám đốc BV K đều nhận được một số phàn nàn của người bệnh về BV K, thậm chí còn có ý kiến lo ngại BV K đã ký cam kết thực hiện kế hoạch “Đổi mới phong cách, tinh thần thái độ phục vụ của cán bộ y tế hướng tới sự hài lòng của người bệnh” nhưng lại theo kiểu “đánh trống bỏ dùi”, do đó BV đã thành lập Ban chỉ đạo thực hiện kế hoạch thì cần xây dựng chương trình thực hiện cho phù hợp với tình hình thực tiễn của từng cơ sở (BV K hiện có 3 cơ sở KCB - PV). Về công tác tập huấn, ông Tác đề nghị BV K cần triển khai tập huấn theo từng nhóm cán bộ y tế cụ thể phù hợp với vị trí công việc. BV cũng cần triển khai ngay đội ngũ tiếp sức người bệnh để hướng dẫn người bệnh/người nhà bệnh nhân, giúp người bệnh thuận tiện hơn khi đến KCB tại cơ sở 1 cũng như tại hai cơ sở còn lại của BV.
Phát biểu tại cuộc họp, Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Xuyên chia sẻ với những khó khăn của BV K trong công tác KCB, đặc biệt là áp lực đông bệnh nhân và mỗi cán bộ y tế phải làm việc với cường độ gấp đôi. Bộ Y tế cũng đã dành nguồn kinh phí cho BV để cải tạo, nâng cấp cơ sở 1, do đó BV cần đẩy nhanh tiến độ thực hiện, thay đổi về hạ tầng, đồng thời tập trung đẩy mạnh việc nâng cao chất lượng KCB, chăm sóc và hướng dẫn bệnh nhân, người nhà bệnh nhân khi đến KCB. Đồng thời, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong KCB, tiếp tục duy trì triển khai Đường dây nóng ngành y tế, hòm thư góp ý tại những nơi thuận tiện, dễ nhìn, phân công rõ trách nhiệm của lãnh đạo khoa, phòng trong thực hiện nâng cao chất lượng KCB và đổi mới phong cách thái độ phục vụ người bệnh. Trong giai đoạn hiện nay, ngành y tế đang tập trung đổi mới giao tiếp ứng xử của nhân viên y tế để người bệnh thực sự cảm thấy an tâm và hài lòng, BV K đã ký cam kết với lãnh đạo Bộ, do đó cần phải quyết tâm thực hiện hiệu quả cam kết. “BV tự đẩy mạnh việc kiểm tra, Bộ Y tế sẽ kiểm tra đột xuất. Trong quá trình thực hiện nếu khó ở chỗ nào, rối ở chỗ nào, BV cần tìm cách giải quyết, nếu vượt thẩm quyền thì báo cáo lãnh đạo Bộ Y tế để làm sao hướng đến đích cuối cùng là làm hài lòng người bệnh và nâng cao chất lượng KCB” - Thứ trưởng Nguyễn Thị Xuyên nhấn mạnh.
http://suckhoedoisong.vn/dien-dan/phai-doi-moi-tu-ca-hai-phia-20150821003044866.htm
Ung thư đại trực tràng: Biết sớm, chữa nhanh
Theo ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới, mỗi năm có 1.360.602 ca mắc mới và gần nửa sẽ tử vong trong thời gian ngắn sau khi được chẩn đoán.
Theo ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới, mỗi năm có 1.360.602 ca mắc mới và gần nửa sẽ tử vong trong thời gian ngắn sau khi được chẩn đoán. Tại Việt Nam hằng năm có hơn 8.768 ca mới mắc. Trong khi đó, bệnh có thể phòng ngừa và điều trị khi được phát hiện sớm. Bài viết giúp bạn cách phòng ngừa và phát hiện sớm căn bệnh này.
Ung thư đại trực tràng (UTĐTT) là loại hay gặp ở các nước phát triển, tỷ lệ mắc đứng hàng thứ hai sau ung thư phổi. Ở các nước đang phát triển, tỷ lệ mắc đứng hàng thứ 8. Ở nước ta, UTĐTT đứng vị trí thứ 5, sau ung thư phổi, dạ dày, vú...
Nguyên nhân gây bệnh
UTĐTT chưa có nguyên nhân rõ rệt nào được chứng minh là yếu tố gây bệnh. Những nghiên cứu gần đây gợi ý một số liên quan tới căn bệnh gồm: yếu tố di truyền, polyp đại tràng, viêm loét đại tràng lâu ngày. Các u thịt của niêm mạc ruột già (hay polyp) từ quá phát lành tính, thoái hóa thành ác tính, đặc biệt ở người trên 45 tuổi. Nếu người có polyp mà sinh trưởng trong một gia đình có nhiều người cùng mắc bệnh polyp thì nguy cơ ung thư cao hơn hàng chục lần người bình thường. Polyp càng to tỷ lệ ung thư hóa càng cao.
Chế độ dinh dưỡng không hợp lí: quá nhiều chất béo, chất đạm động vật, ít ăn hoa quả tươi. Những nước có nền công nghiệp phát triển như Nhật Bản, Singapore... tỉ lệ mắc UTĐTT tăng lên rõ rệt nhất. Những bệnh viêm nhiễm đại trực tràng lâu ngày như: viêm loét đại trực tràng chảy máu. Tình trạng loạn khuẩn do dùng nhiều kháng sinh đường ruột cũng thấy có liên quan đến UTĐTT.
Phát hiện bệnh sớm cách nào?
Hầu hết các UTĐTT đều diễn biến âm thầm một thời gian dài trước khi có các triệu chứng. Vì vậy khi có các triệu chứng sau cần đến các cơ sở y tế khám ngay:
Hội chứng lị: mót rặn, đau quặn bụng, đại tiện phân nhầy mũi hay gặp ở ung thư đại tràng sigma, trực tràng, hậu môn; Hội chứng phân lỏng nhầy mũi, bán tắc ruột trướng bụng, đau quặn, khi bài tiết được hơi thì hết hay gặp ở các khối u đại tràng phải; Hội chứng táo bón, bán tắc ruột dần dần, rồi đi tới tắc ruột hoàn toàn hay gặp ở ung thư đại tràng trái.
Dấu hiệu toàn thân: gầy sút cân, suy nhược và thiếu máu.
Khối u: Khi sờ thấy khối u qua thành bụng thì ung thư đã ở giai đoạn muộn, thực tế hay gặp như vậy. Thăm trực tràng có thể thấy u dễ dàng (50% ung thư ruột già nằm ở trực tràng); Thăm khám cận lâm sàng; Chụp Xquang khung đại tràng có cản quang; Nội soi trực tràng hay đại tràng; Siêu âm ổ bụng hoặc siêu âm trong lòng ruột; Chụp cắt lớp vi tính.
Chẩn đoán xác định: bằng chụp đại tràng có cản quang hay nội soi đại trực tràng kèm sinh thiết giúp chẩn đoán xác định.
Điều trị ung thư đại trực tràng: gồm phẫu thuật (là phương pháp chủ yếu), xạ trị, hóa trị tùy thuộc vào vị trí, kích thước, mức độ lan rộng của ung thư cũng như tuổi tác và sức khỏe chung của người bệnh.
Phẫu thuật là cơ bản nhất. Đoạn đại tràng có khối u phải được cắt bỏ đồng thời với các hạch bạch huyết vùng. Đôi khi ung thư dính xâm lấn vào đoạn ruột bên cạnh, vào dạ dày, hoặc vào thành bụng, phải cắt kèm theo nhiều tạng thành một khối. Đối với những khối u trực tràng ở đoạn giữa và đoạn thấp được cắt cụt trực tràng đường bụng tầng sinh môn với hậu môn nhân tạo, ở hố chậu trái. Ở đoạn cao trực tràng có thể cắt đoạn trực tràng, đại tràng sigma, nối đại tràng xuống với mỏm còn lại của trực tràng.
Điều trị bổ sung: Khi ung thư đã di căn vào hạch hoặc ở những tế bào ít biệt hóa, cần điều trị ngăn ngừa di căn bằng hóa trị liệu. Nếu khối u trực tràng lan rộng, nên dùng tia phóng xạ chiếu trước và mổ sau.
So với các ung thư khác ở đường tiêu hóa (ví dụ: dạ dày, thực quản, gan, tụy...) UTĐTT có tiên lượng tốt hơn cả, UTĐTT được coi là ưu tiên để chữa khỏi bệnh.
Phòng ngừa cách nào?
Có rất nhiều yếu tố gây bệnh UTĐTT có thể kiểm soát được, đặc biệt là trong điều kiện y học phát triển mạnh như bây giờ. Có rất nhiều phương pháp đơn giản để phòng ngừa bênh như: duy trì một thể trọng cơ thể cân đối, khỏe mạnh với chế độ ăn uống khoa học nhiều rau xanh, ngũ cốc, trái cây; hạn chế với các loại thực phẩm nhiều mỡ, chất bảo quản; thường xuyên vận động cơ thể, hạn chế cuộc sống tĩnh tại; thường xuyên theo dõi cơ thể và nên đi khám sức khỏe định kỳ, nếu có các triệu chứng bất thường hãy đi gặp bác sĩ để được tư vấn, khám xét để tầm soát bệnh tốt, phương pháp điều trị phù hợp.
Lời khuyên của thầy thuốc
UTĐTT được coi là ưu tiên để chữa khỏi bệnh nếu được phát hiện sớm, vì vậy các bác sĩ khuyến cáo: Khi có các dấu hiệu đau bụng, khó đi ngoài, phân có nhày, mũi thì nên đi khám bệnh và soi đại trực tràng; Những người có nguy cơ cao bị UTĐTT như bị polyp, viêm đại trực tràng mạn tính nên đi khám bệnh và soi đại trực tràng 1-2 lần trong 1 năm.
http://suckhoedoisong.vn/thoi-su/ung-thu-dai-truc-trang-biet-som-chua-nhanh-20150821004410107.htm
Những loại thuốc gây "hỏng" thận
PGS.TS. Nguyễn Hữu Đức, Bệnh viện Việt Đức cho biết, thận tiếp xúc và bài tiết thuốc ra khỏi cơ thể thì chính nó cũng bị thuốc gây những tổn thương hoặc làm suy giảm chức năng và nói tắt là “thuốc hại thận”.
Có rất nhiều thuốc có thể làm hại thận cấp tính hoặc mạn tính. Nguy hiểm ở chỗ là nhiều khi thuốc làm hại thận từ từ, không dễ gì phát hiện từ lúc đầu và đến khi phát hiện thì thận đã bị thuốc làm suy ở mức độ rất nặng, thậm chí phải chạy thận nhân tạo. Thông thường để phát hiện thận bị suy, người ta làm xét nghiệm đo creatinin máu. Nhiều thuốc chỉ mới ảnh hưởng nhẹ đến chức năng thận đã làm tăng creatinin máu, nhưng có nhiều thuốc gây hại thận dần dần mà chẳng có triệu chứng gì, đến khi làm tăng creatinin máu thì đã làm thận suy rất nặng.
Các thuốc gây hại thận :
Thuốc kháng sinh:
- Aminoglycosid như neomycin, gentamycin, amikacin, tobramycin, streptomycin là nguyên nhân hàng đầu gây creatinin máu tăng, dấu hiệu quan trọng của suy thận.
- Cephalosporin thế hệ 1 như cefadroxyl, cefalexin, cefalotin, cefazolin gây nhiễm độc ống thận.
- Polypeptid như polymixin, colistin có độc tính cao với thận.
- Quinolon: Các fluoroquinolon như ofloxacin, ciprofloxacin, norfloxacin đều gây tăng creatinin máu. Khi sử dụng cần dựa vào mức lọc cầu thận để chọn liều.
- Amphotericin B là thuốc kháng nấm tác động lên lipid ở màng tế bào biểu mô ống thận gây độc thận, nhiễm toan ống thận, đái tháo nhạt do thận.
- Ức chế men chuyển (captopril, ednyt, renitec…) và kháng thụ thể AT1 (aprovel, micardis, cozaar…) gây tăng creatinin máu. Chống chỉ định trong hẹp động mạch thận.
Thuốc hóa trị liệu chống ung thư:
- Cisplatin gây suy thận cấp và hạ magnesi máu.
- Methotrexat gây kết tủa, tắc lòng ống thận.
Sulfamid gây kết tủa các tinh thể trong lòng ống thận.
Thuốc cản quang iod hóa trị 2, hóa trị 3 (urographin, telebrex…) gây sốc phản vệ, tắc mạch vì gây độc trực tiếp lên nhu mô thận hoặc co động mạch thận.
Thuốc ức chế miễn dịch : Cyclosporin A, azathioprin, mycophenolat mofetil… cần chỉ định đúng, theo dõi cẩn thận.
Thuốc giảm đau, thuốc kháng viêm không steroid:
- Indometacin, phenylbutazon, naproxen gây viêm kẽ thận mạn.
- Paracetamol ngoài suy gan có thể gây hoại tử ống thận cấp, suy thận cấp.
Thuốc điều trị bệnh tâm thần Lithium.
Người bệnh đã có tiền sử suy thận thì tuyệt đối không dùng các thuốc độc cho thận khi có thuốc khác thay thế. Ví dụ như: không dùng các aminoglycosid, amphotericin, cisplatin, mesalazin, các NSAID, penicilamin và vancomycin… là các thuốc hại thận rất mạnh.
Theo PGS.TS. Nguyễn Hữu Đức, ngoài gây hại thận và chức năng thận, nhiều thuốc gây những rối loạn liên quan gián tiếp đến thận. Một số thuốc trực tiếp gây giữ nước và do đó có thể gây nặng hơn các biến chứng về tim mạch ở người bị suy thận, như: carbenoxolon, indomethacin. Ở người bệnh suy tim sung huyết, việc tưới máu thận phụ thuộc vào lượng prostaglandin được sản xuất tại thận, dùng thuốc NSAID sẽ ức chế tác dụng tại chỗ của prostaglandin đối với thận gây giảm dòng máu qua thận, giữ nước và làm xấu thêm tình trạng suy tim. Dùng digoxin ở người suy thận nặng sẽ làm tăng canxi huyết và/hoặc giảm kali huyết. Dùng các thuốc lợi tiểu giữ kali như: amilorid, spironolacton có thể gây tăng kali huyết nặng ở người suy thận. Dùng thuốc kháng tiết cholin như: atropin, scopolamin có thể gây rối loạn chức năng bàng quang và đái không tự chủ đối với người có chức năng thận bình thường. Dùng acetazolamid, vitamin D liều cao, vitamin C liều cao dễ gây đọng tạo sỏi thận - tiết niệu.
Thuốc hại thận ở đây còn có thể hiểu là thuốc có thể làm thay đổi kết quả xét nghiệm chức năng thận, như: có thuốc gây dương tính giả xét nghiệm độ đục nước tiểu (turbidimetric test): tolbutamid, kháng sinh penicillin, cephalosporin (liều cao), sulfisoxazol...; có thuốc làm tăng creatinin máu do cạnh tranh bài tiết ở niệu quản: triamteren, amilorid, trimethoprim, cimetidin, hoặc làm tăng creatinin máu trong xét nghiệm theo phương pháp Jaffe: vitamin C, kháng sinh cephalosporin.
Do luôn luôn có nguy cơ “thuốc hại thận”, nên phải xem việc dùng thuốc là rất hệ trọng. Chỉ dùng thuốc khi thật sự cần thiết và có sự hiểu biết tối thiểu về các dùng, liều lượng, tính năng, tác dụng phụ có hại của thuốc (trong đó có tác dụng hại thận). Nếu có gì nghi ngờ về bệnh của mình thì cách tốt nhất đến bác sĩ khám để có cách xử trí đúng đắn, không được tự ý dùng thuốc bừa bãi, tốt nhất nên dùng thuốc theo sự chỉ định và hướng dẫn của thầy thuốc.
http://vnmedia.vn/vn/doi-song/suc-khoe/nhung-loai-thuoc-gay-quot-hong-quot-than-73-4034091.html
Ăn mặn làm tăng nguy cơ đa xơ cứng
Một nghiên cứu mới đây chỉ ra rằng ăn nhiều muối sẽ tăng nguy cơ bị đa xơ cứng hoặc làm trầm trọng thêm những triệu chứng của bệnh nếu đã mắc.
Các nhà nghiên cứu thuộc đại học Vermont (Mỹ) kết luận muối gây ảnh hưởng đến các tế bào miễn dịch và trở thành một tác nhân gây ra đa xơ cứng sau khi tiến hành thí nghiệm trên chuột. Họ cho một nhóm chuột ăn nhiều muối hơn bình thường rồi so sánh với những con chuột khác. Kết quả cho thấy, khi hấp thụ quá nhiều muối, ở chuột xuất hiện những triệu chứng của loại bệnh tương tự như đa xơ cứng ở người.
“Bạn cần phải ăn đủ muối để cơ thể hoạt động bình thường, nhưng nếu ăn quá nhiều, mọi thứ sẽ vượt khỏi tầm kiểm soát”, giáo sư Gerald Weissmann, tổng biên tập tạp chí khoa học FASEB cho biết.
Nghiên cứu trên còn chỉ ra vai trò của gen trong việc hình thành bệnh đa xơ cứng. Một số chuột có biểu hiện bệnh trầm trọng hơn các con khác, chứng tỏ những cá thể này chịu nhiều tác động của muối hơn do cấu trúc gen. Vì vậy, theo giáo sư Weissmann, cần phải tính toán xem lượng muối như thế nào là vừa đủ cho mỗi người để giảm nguy cơ mắc bệnh.
Đa xơ cứng là căn bệnh hệ thần kinh trung ương chủ yếu xảy ra ở thanh niên và người trung niên, thường dẫn đến suy giảm chức năng vận động, chức năng cảm giác và thị giác. Nếu không được chữa trị, các triệu chứng bệnh có thể kéo dài vĩnh viễn và gây tàn phế. Hiện nay, trên thế giới, có khoảng 2,5 triệu người mắc đa xơ cứng.
http://khoe360.tienphong.vn/gia-dinh-suc-khoe/an-man-lam-tang-nguy-co-da-xo-cung-897452.tpo
Fanpage
Youtube


















