Điểm báo điện tử ngày 23/3/2018
23/03/2018
0
Tuyệt đối không nên uống nước ngay sau khi ăn
Nhiều người có thói quen uống nước ngay sau khi ăn, thế nhưng, thói quen này có thể ảnh hưởng đến hoạt động của hệ tiêu hóa và tăng lượng đường trong máu.
Dạ dày tiết axít để tiêu hóa thức ăn, uống nước ngay sau khi ăn làm loãng axít, thức ăn không được phân hủy hoàn toàn, gây hại dạ dày. Theo các chuyên gia dinh dưỡng, uống nước ngay sau khi ăn làm gián đoạn thời gian tiêu hóa thức ăn.
Thời gian tốt nhất để uống nước là vào sáng sớm ngay khi bạn thức dậy. Sau khi ăn, nên để 10-15 phút mới nên uống nước. Ngoài ra, bạn có thể uống nước trong khi ăn để tăng hấp thụ các chất dinh dưỡng từ thức ăn trong suốt quá trình tiêu hóa.
Trong hệ thống tiêu hóa, dạ dày tiết ra các chất dịch tiêu hóa. Chất dịch này giúp quá trình tiêu hóa diễn ra suôn sẻ. Tuy nhiên, khi có nhiều nước đi vào dạ dày sau khi ăn, chức năng của chất dịch này sẽ bị phá vỡ, ảnh hưởng tới quá trình tiêu hóa thức ăn. Dưới đây là một số tác hại có thể xảy ra nếu bạn uống nhiều nước sau khi ăn:
Khó chịu dạ dày
Nước đi vào dạ dày sau khi ăn sẽ tạo ra quá nhiều khí và diễn ra trong một thời gian nhanh. Kết quả là, dạ dày bị căng tức và khó chịu.
Các vấn đề về tiêu hóa
Nước thừa sẽ khiến thức ăn đã tiêu hóa khó đi qua đại tràng. Hậu quả là làm tăng nguy cơ táo bón, đầy hơi...
Đường huyết tăng
Thức ăn không được tiêu hóa hoàn toàn do ảnh hưởng của nước làm tăng chỉ số đường huyết. Sự tăng vọt đường huyết diễn ra khá nhanh đi kèm với thức ăn không được tiêu hóa hết. Sau ăn, mức độ đường huyết có thể tăng nhẹ trong mức an toàn nhưng nó tăng cao khi thức ăn không được tiêu hóa và lưu trong dạ dày lâu.
Dư thừa axít dạ dày
Uống nước ngay sau ăn, axit dạ dày bị loãng và giảm khả năng tiêu hóa. Thức ăn chậm tiêu và lưu lại trong dạ dày lâu sẽ kích thích dạ dày tăng tiết axit để tiêu hóa hết thức ăn. Điều này gây dư thừa axit trong dạ dày.
Đầy bụng
Uống nước ngay sau khi ăn khiến axit dạ dày bị pha loãng và giảm khả năng tiêu hóa. Các thức ăn không tiêu hóa được sinh khí gây ra đầy bụng.
Các vấn đề về đường ruột
Uống nước ngay sau khi ăn, thức ăn không được tiêu hóa hoàn toàn. Các thức ăn không được tiêu hóa đi vào ruột già, không được cơ thể hấp thụ nên gây táo bón, đầy bụng,… lâu dần có thể mắc bệnh đường ruột.
Nên uống nước lúc nào tốt nhất?
Thời điểm lý tưởng để uống nước là 30 phút trước và sau bữa ăn, điều này giúp hệ tiêu hóa hoạt động tốt hơn. Trong bữa ăn nếu muốn uống nước canh thì nên uống trước khi ăn cơm. Nhất là với những người muốn giảm cân thì uống canh trước khi ăn sẽ giúp giảm số lượng tinh bột và thực phẩm ăn vào. Ngoài ra, bạn có thể uống một chút nước trong khi ăn, nhưng tốt nhất là nước ấm để giúp nuốt thức ăn dễ dàng hơn.
http://anninhthudo.vn/doi-song/tuyet-doi-khong-nen-uong-nuoc-ngay-sau-khi-an/761500.antd
Lần đầu tiên phẫu thuật u tuyến giáp qua đường miệng ở Việt Nam
Ca phẫu thuật cho nữ bệnh nhân 19 tuổi được thực hiện thành công, là ca đầu tiên tại Bệnh viện K ứng dụng phương pháp này.
Thông tin từ Bệnh viện K cho biết, bệnh nhân vừa được phẫu thuật cắt bỏ khối u qua đường miệng đầu tiên tại Việt Nam là Nguyễn Thị Q., sinh năm 1999, quê ở Hà Giang, nhập viện vì được chẩn đoán có khối u lành tính ở thuỳ trái tuyến giáp kích thước khoảng 2,5 cm, gây ảnh hưởng đến thẩm mỹ vùng cổ và sức khỏe.
Sau khi hội chẩn, nhận thấy khối u gây mất thẩm mỹ và ảnh hưởng đến sức khỏe của bệnh nhân, các bác sĩ khoa Ngoại đầu cổ của bệnh viện đã chỉ định phẫu thuật để loại bỏ hoàn toàn khối u.
Khi có chỉ định phẫu thuật, có hai phương pháp chủ yếu là mổ mở (phải rạch một đường ở nền cổ khoảng 4-6 cm) và mổ nội soi. Gần đây phát triển thêm kỹ thuật cắt tuyến giáp qua đường miệng. Đây là một phương pháp mới, với các ưu điểm vượt trội đó là an toàn, không để lại sẹo, có thể cắt u tuyến giáp ở cả hai thùy bằng một đường vào, đường tiếp cận ngắn nhất, ít chảy máu, diện bóc tách ít. Bệnh nhân có thể hồi phục nhanh ngay sau mổ, giảm tối đa thời gian nằm viện.
Sau khi cân nhắc, các bác sĩ tại khoa Ngoại đầu cổ đã tư vấn cho bệnh nhân phương pháp mới là cắt bỏ u tuyến giáp qua đường miệng.
Sáng 21/3, ca phẫu thuật do ekip bác sĩ khoa Ngoại đầu cùng với ekip gây mê hồi sức, Bệnh viện K đã tiến hành phẫu thuật cho bệnh nhân. Sau hai ngày phẫu thuật, bệnh nhân đã có thể đi lại, ăn uống bình thường, vùng cổ không để lại sẹo.
PGS.TS Lê Văn Quảng - Phó Giám đốc Bệnh viện K, kiêm Trưởng khoa Ngoại Đầu Cổ cho biết, tuyến giáp là tuyến nội tiết quan trọng của cơ thể. Tuy nhiên, đây là cơ quan hay xuất hiện khối u cả lành và ác tính. Đối với ung thư tuyến giáp, chỉ định mổ gần như bắt buộc, còn đối với u lành tính, chỉ định mổ khi kích thước khối u lớn gây ảnh hưởng đến chức năng nuốt, thẩm mỹ của bệnh nhân.
U tuyến giáp thường gặp ở nữ giới hơn nam giới. Khi có chỉ định phẫu thuật, có hai phương pháp chủ yếu đó là mổ mở và mổ nội soi. Mổ mở là phương pháp mổ truyền thống, cần phải rạch một đường ở nền cổ với đường kính khoảng 4-6 cm. Sau khi phẫu thuật, bệnh nhân sẽ có sẹo ở nền cổ, điều này gây mất thẩm mỹ, đặc biệt với những bệnh nhân nữ trẻ tuổi.
"Đây là ca phẫu thuật loại bỏ u tuyến giáp qua đường miệng đầu tiên được thực hiện tại Bệnh viện K. Đây là một kỹ thuật tiên tiến, có nhiều ưu điểm so với các phương pháp khác. Với ca đầu tiên thành công, sẽ mở ra nhiều cơ hội cho nhiều bệnh nhân u tuyến giáp có thể can thiệp bằng phương pháp qua đường miệng, giảm xâm lấn, hồi phục nhanh cho bệnh nhân", PGS Quảng nói.
"Cuộc chiến" với bệnh lao: Còn nhiều thách thức
Hôm nay (23-3), Bệnh viện Phổi Hà Nội tổ chức mít tinh hưởng ứng Ngày Thế giới phòng chống bệnh lao 24-3. Trong năm 2017, chương trình chống lao của TP Hà Nội đã phát hiện hơn 4.800 bệnh nhân lao các thể. So với nhiều năm trước đây, số người mắc mới và tử vong do lao ở nước ta đến nay đã giảm đáng kể. Thế nhưng, đối với những y bác sĩ chuyên ngành lao phổi, "cuộc chiến" với bệnh lao vẫn còn nhiều thách thức.
Không thể chủ quan
Khi phát hiện mình mắc lao, anh Nguyễn Quốc T. (ở quận Thanh Xuân, Hà Nội) lo lắng nhưng ngại đến bệnh viện vì sợ bị kỳ thị. Thế nhưng, sau khi được điều trị tại Bệnh viện Phổi Hà Nội, sự mặc cảm trong anh dần biến mất. Anh T. tâm sự: “Trước đó cứ thấy người mệt lả đi, ho nhiều và ho ra máu. Sau khi đi khám ở trung tâm y tế quận và được chẩn đoán mắc lao, tôi không đi điều trị ngay vì luôn ám ảnh cảnh chờ đợi, xếp hàng, khi điều trị phải nằm ghép giường. Khi bệnh trở nặng, tôi buộc phải nằm viện điều trị. Thật may mắn, các y bác sĩ rất tận tâm với người bệnh. Ở đây, sự kỳ thị bị xóa bỏ, người bệnh có niềm tin, yên tâm điều trị và hòa nhập với cộng đồng”.
Ông Phạm Hữu Thường, Giám đốc Bệnh viện Phổi Hà Nội, Chủ nhiệm Chương trình chống lao TP Hà Nội cho biết, việc điều trị bệnh lao đang gặp rất nhiều khó khăn, nhất là khi nhận thức của người dân còn hạn chế. Trước đây, ai cũng nghĩ lao là bệnh của người nghèo, nhưng nay thì đó là bệnh của bất kỳ ai nếu chủ quan. Sự chủ quan khiến nhiều người đi khám chậm, khi bệnh đã ở tình trạng rất nặng. Hơn nữa, điều trị lao mất thời gian dài và đòi hỏi tuân thủ theo đúng phác đồ điều trị. Thế nhưng, có những bệnh nhân không kiên trì, không điều trị dứt điểm nên bệnh dễ tái phát, thậm chí chuyển sang giai đoạn lao kháng thuốc.
Theo ông Phạm Hữu Thường, tình hình lao kháng thuốc, lao siêu kháng thuốc rất đáng lo ngại và cũng là thách thức trong "cuộc chiến" với bệnh lao hiện nay. Nếu những bệnh nhân này không được quản lý, vẫn cư trú tại cộng đồng thì bệnh dễ lây lan. Chính vì vậy, điều quan trọng là phải kêu gọi những bệnh nhân mắc lao hay có vi trùng lao trong đờm, trong phổi điều trị sớm. Nếu điều trị quá muộn hoặc bỏ điều trị sẽ dẫn đến nguy cơ kháng thuốc. Hiện nay, Bệnh viện Phổi Hà Nội đã áp dụng kỹ thuật cao GeneXpert để chẩn đoán lao, lao kháng thuốc. Đây là kỹ thuật hiện đại nhất hiện nay, chỉ trong 2 giờ là có thể xác định có vi khuẩn lao hay không, nhiều hay ít và có kháng với thuốc hay không.
Đổi mới để đáp ứng sự hài lòng của người bệnh
Với những người mắc bệnh lao, thời gian điều trị tại bệnh viện thường kéo dài. Vì vậy, bác sĩ Uông Mai Loan, Trưởng phòng Kế hoạch tổng hợp (Bệnh viện Phổi Hà Nội) cho rằng, trong "cuộc chiến" với bệnh lao, Bệnh viện Phổi Hà Nội luôn xác định rõ phải tạo cho bệnh nhân sự gần gũi, thân thiện trong quá trình điều trị. Không chỉ thực hiện có hiệu quả việc đổi mới phong cách phục vụ, tinh thần thái độ, nâng cao trình độ chuyên môn của nhân viên y tế, bệnh viện còn tập trung giảm bớt thủ tục hành chính để người bệnh được hài lòng và góp phần nâng cao chất lượng điều trị. Hiện nay, quy trình khám chữa bệnh tại đây đã rút xuống còn 4 bước, thực hiện theo một chiều từ khâu tiếp đón cho đến khi bệnh nhân thanh toán viện phí, ra về. Nhờ vậy, thời gian chờ đợi của người bệnh đã giảm khoảng 30 phút so với trước. Bên cạnh đó, bệnh viện đã triển khai nhiều kỹ thuật cao, giúp cứu sống nhiều bệnh nhân nặng...
Để tạo môi trường xanh - sạch - đẹp, Ban Giám đốc bệnh viện đã phát động phong trào trồng cây ở các khoa, phòng. Hành lang của các khoa, phòng trong bệnh viện đều được kê các chậu cây xanh, tạo không gian xanh mát, gần gũi với người bệnh. Đặc biệt, do lao, phổi là bệnh truyền nhiễm nên công tác kiểm soát nhiễm khuẩn, phòng chống lây chéo trong bệnh viện được thực hiện sát sao ngay từ Khoa Khám bệnh. Cụ thể, bệnh nhân và người nhà bệnh nhân đến khám và điều trị tại bệnh viện đều được khuyến cáo đeo khẩu trang. Ở các cửa buồng bệnh đều có dung dịch sát khuẩn nhanh. Hằng ngày, điều dưỡng buồng bệnh hướng dẫn cho bệnh nhân cách phòng, chống lây bệnh, nhất là với các bệnh nhân mới. Mỗi tuần, các khoa đều tổ chức họp Hội đồng người bệnh, đích thân điều dưỡng, trưởng khoa sẽ phổ biến cho bệnh nhân, người nhà bệnh nhân biện pháp phòng chống lây nhiễm, hướng dẫn bệnh nhân các bước cần thiết liên quan đến thủ tục hành chính trong thời gian điều trị tại viện. Đặc biệt, mỗi quý một lần, bệnh viện tổ chức khảo sát, đánh giá sự hài lòng của người bệnh. Qua các lần khảo sát, kết quả cho thấy tỷ lệ bệnh nhân hài lòng đều từ 80% trở lên.
Giám đốc bệnh viện Phạm Hữu Thường chia sẻ, thời gian tới, bệnh viện sẽ tích cực vận dụng, triển khai các kỹ thuật cao trong khám và điều trị, tiếp tục cải cách thủ tục hành chính… Bệnh viện nỗ lực nhằm góp phần vào mục tiêu chung của Chương trình Chống lao TP Hà Nội là tiếp tục giảm số người mắc bệnh lao trong cộng đồng xuống dưới 20 người/100.000 người dân, giảm số người chết do bệnh lao xuống dưới 2 người/100.000 người dân, hướng tới mục tiêu cuối cùng là tạo điều kiện cho người dân Thủ đô được sống trong môi trường không còn bệnh lao.
http://hanoimoi.com.vn/Tin-tuc/Suc-khoe/896517/cuoc-chien-voi-benh-lao-con-nhieu-thach-thuc
Trẻ mắc sởi tăng 30%, lo ngại năm 2018 sẽ bùng phát dịch theo "chu kỳ 4 năm"
Từ đầu năm 2018 đến nay, số ca mắc sởi ở miền Bắc đã tăng cao gấp 30% so với cùng kỳ năm trước. Đáng chú ý, Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương cảnh báo, dịch sởi thường có chu kỳ 4 năm quay trở lại 1 lần…
Chỉ trong tuần qua (từ 12-3 đến 18-3), Hà Nội đã ghi nhậm thêm 10 trường hợp mắc bệnh sởi, nâng tổng số mắc sởi từ đầu năm lên 38 ca.
PGS.TS Hoàng Đức Hạnh, Phó Giám đốc Sở Y tế Hà Nội cho rằng, thời tiết giao mùa xuân - hè là điều kiện thuận lợi phát sinh tác nhân gây bệnh về đường hô hấp, đặc biệt là bệnh sởi.
Hiện Trung tâm Y tế dự phòng Hà Nội phối hợp với Trung tâm Y tế các quận, huyện, thị xã thường xuyên cử cán bộ y tế vào các bệnh viện được phân cấp trên địa bàn để chủ động giám sát ca bệnh, kịp thời tham mưu về diễn biến tình hình dịch bệnh và các biện pháp phòng, chống.
Tính trên phạm vi cả nước, thông tin từ Bộ Y tế cho biết, từ đầu năm đến nay đã ghi nhận 141 trường hợp dương tính với sởi (432 trường hợp phát ban nghi sởi). Riêng tại khu vực miền Bắc đã ghi nhận 90 ca mắc sởi, cao gấp 30% so với cùng kỳ năm ngoái.
Đáng chú ý, PGS.TS Trần Như Dương, Phó Viện trưởng Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương cho biết, theo dõi dịch tễ trên thế giới, dịch sởi có chu kỳ 4 năm quay lại một lần.
Tại miền Bắc, năm 2013- 2014 đã xảy ra vụ dịch sởi lớn. Do đó theo chu kỳ, năm nay (sau 4 năm) có thể là một năm dịch sởi sẽ quay trở lại, với 3 tháng đầu năm miền Bắc ghi nhận đến 90 ca mắc sởi.
Đặc biệt, theo Cục Y tế dự phòng - Bộ Y tế, trong số các trường hợp mắc sởi được ghi nhận từ đầu năm 2018 đến nay có 38,3% là trẻ dưới dưới 9 tháng tuổi, tức chưa đến tuổi tiêm chủng vaccine phòng sởi, 55 trường hợp không tiêm chủng, 22 trường hợp không rõ tiền sử tiêm chủng, chỉ 10 trường hợp có tiêm vaccine sởi.
Điều đó cho thấy, tỷ lệ người chưa có miễn dịch với sởi trong cộng đồng rất lớn, trong khi tỷ lệ tiêm chủng vaccine phòng sởi ở một số vùng đạt thấp. Đây là những nguy cơ rất lớn khiến dịch sởi có thể bùng phát.
Trước thực trạng đó, Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thanh Long đề nghị ngành y tế các địa phương, các đơn vị chức năng, cơ quan chuyên môn nghiên cứu đẩy sớm lịch tiêm chủng vaccine phòng sởi cho trẻ.
Theo đó, thay vì bắt đầu tiêm vaccine sởi cho trẻ từ 9 tháng tuổi thì đẩy sớm tiêm từ 6 tháng tuổi. Bộ Y tế kỳ vọng trong năm nay có thể hoàn thành nghiên cứu này để chính thức triển khai tiêm vaccine sởi cho trẻ từ 6 tháng tuổi.
Thứ trưởng Nguyễn Thanh Long cũng chỉ đạo các đơn vị tiêm chủng phải tiến tới mục tiêu đạt 95% tiêm chủng ở quy mô xã phường, tránh xảy ra các “điểm lõm” trong tiêm chủng, hạn chế nguy cơ bùng phát dịch bệnh.
Thứ trưởng Bộ Y tế: "Năm 2018 dịch bệnh vẫn tiếp tục có những diễn biến phức tạp"
Bộ Y tế cho rằng, tình hình dịch bệnh năm 2018 vẫn sẽ tiếp tục có các diễn biến phức tạp, nguy cơ bệnh mới nổi và nguy hiểm phát sinh, tiếp tục gia tăng...
Theo Bộ Y tế, năm 2017, dịch bệnh nguy hiểm và mới nổi trên thế giới vẫn tiềm ẩn nhiều nguy cơ và diễn biến bất thường, đó là tiếp tục ghi nhận các trường hợp mắc bệnh MERS-CoV tại khu vực Trung Đông, bệnh dịch hạch tại Madagascar, bệnh tả, sốt vàng tại một số nước châu Phi, bệnh cúm A(H7N9) tại Trung Quốc, bệnh cúm A(H5N1) tại Indonesia và Ai Cập.Bên cạnh đó là sự lưu hành với số mắc cao của bệnh sốt xuất huyết, tay chân miệng tại nhiều nước khu vực Tây Thái Bình Dương, Đông Nam Á và châu Mỹ La Tinh.
Tại Việt Nam, các bệnh dịch lưu hành trong nước tiếp tục được khống chế, tỷ lệ mắc và tử vong của hầu hết các bệnh dịch truyền nhiễm lưu hành thấp hơn so với trung bình giai đoạn 5 năm qua, thấp hơn nhiều so với các nước trong khu vực, trong đó có bệnh cúm A(H5N1), tay chân miệng, sốt rét, dại. Các dịch bệnh truyền nhiễm gây dịch đặc biệt nguy hiểm như sốt xuất huyết do vi rút Ebola, MERS-CoV, dịch hạch, cúm A(H7N9) đã được ngăn chặn không để lây lan vào nước ta. Chúng ta tiếp tục duy trì giữ vững thành quả thanh toán bại liệt, loại trừ uốn ván sơ sinh, tiến tới loại trừ sốt rét, dại... Nhiều bệnh truyền nhiễm có vắc xin tiêm phòng đã giảm mạnh so với giai đoạn trước nhờ duy trì tốt tỷ lệ tiêm chủng.
Theo Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thanh Long, trong năm 2017, bệnh dịch sốt xuất huyết, tay chân miệng đã có sự gia tăng số mắc cục bộ tại một số địa phương, song đã được khống chế, kiểm soát kịp thời, không để bùng phát kéo dài. Đạt được các kết quả quan trọng trên là nhờ có được sự quan tâm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, Chính phủ, sự phối hợp tích cực của các Bộ, ban, ngành và sự quan tâm chỉ đạo quyết liệt của các cấp chính quyền, và sự hưởng ứng của cộng đồng dân cư, sự hỗ trợ kỹ thuật của các tổ chức quốc tế như WHO, USCDC...
Cùng với đó là sự chủ động của toàn ngành y tế trong triển khai quyết liệt và hiệu quả nhiều biện pháp tích cực nhằm hoàn thiện, củng cố hệ thống, mạng lưới y tế nhằm nâng cao chất lượng giám sát, xử lý ổ dịch, thu dung, điều trị bệnh nhân để giảm tử vong do dịch bệnh; đặc biệt tăng cường công tác áp dụng khoa học công nghệ trong theo dõi, giám sát, ứng phó dịch bệnh và điều trị.
Trong bối cảnh chúng ta đang phải đương đầu với không ít khó khăn như sự thay đổi bất thường về khí hậu, thiên tai diễn ra ngày càng nhiều, quá trình đô thị hoá và toàn cầu hóa nhanh, điều kiện kinh tế xã hội còn nhiều khó khăn; hành vi, lối sống và tập quán người dân tuy đã có chuyển biến tích cực song vẫn còn nhiều hạn chế.
Cũng theo Thứ trưởng Nguyễn Thanh Long, dự báo trong năm 2018, tình hình dịch bệnh vẫn sẽ tiếp tục có các diễn biến phức tạp, nguy cơ bệnh mới nổi và nguy hiểm phát sinh, tiếp tục gia tăng tại nhiều nước trên thế giới xâm nhập vào nước ta như: bệnh Ebola, cúm A(H7N9), bệnh MERS-CoV...
Các bệnh dịch lưu hành trong nước luôn tiềm ẩn bùng phát cục bộ. Bên cạnh đó, các hoạt động phòng chống dịch bệnh vẫn còn khó khăn, thách thức như: khó khăn tiếp cận trong hoạt động tiêm chủng phòng bệnh, giám sát dịch bệnh tại một số địa bàn vùng sâu, vùng xa; kinh phí đầu tư cho phòng chống dịch còn nhiều khó khăn cả Trung ương và địa phương và chưa được cấp kịp thời.
Cùng với đó là sự tác động của toàn cầu và đô thị hóa, với giao lưu đi lại của người dân rất lớn làm gia tăng nguy cơ lây lan bệnh dịch. Do vậy, đòi hỏi phải chủ động triển khai quyết liệt các biện pháp phòng bệnh với sự tham gia tích cực của các cấp, các ngành và sự đầu tư hợp lý để chủ động kiểm soát và ngăn chặn hiệu quả dịch bệnh, giảm thiểu tác hại của bệnh dịch đến sức khỏe người dân.
Vì thế, Bộ Y tế xác định công tác phòng, chống dịch bệnh là một trong các nhiệm vụ trọng tâm. Để chủ động phòng chống dịch bệnh trong mùa hè năm 2018, nhằm thảo luận và đồng thuận triển khai các giải pháp phòng chống dịch bệnh, với quyết tâm không để dịch bệnh xảy ra, giảm số mắc và tử vong, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe cộng đồng.
“Phát huy kết quả năm 2017, với tinh thần quyết tâm khống chế kịp thời, không để dịch bùng phát và lây lan rộng trong năm 2018, Bộ Y tế đề nghị các đơn vị ngành y tế cần có những biện pháp giảm mắc, giảm tử vong do bệnh sốt xuất huyết cũng như một số bệnh dịch khác trong mùa hè và đề xuất những hoạt động phòng chống dịch một cách cụ thể, quyết liệt, hiệu quả nhằm hạn chế thấp nhất những ảnh hưởng tới sức khỏe người dân thời gian tới”, Thứ trưởng Nguyễn Thành Long nhấn mạnh.
Fanpage
Youtube


















