Điểm báo từ ngày 16 đến ngày 23 tháng 4 năm 2019
23/04/2019
0
Điểm báo từ ngày 16 đến ngày 23 tháng 4 năm 2019
Rượu bia là nguyên nhân trực tiếp của hơn 30 loại bệnh không lây nhiễm |
Đây là thông tin được chia sẻ tại Hội thảo xây dựng chính sách về phòng, chống tác hại của rượu bia do Bộ Y tế và tổ chức y tế thế giới WHO tổ chức ngày 22/4/2019.
PGS.TS. Nguyễn Trường Sơn, Thứ trưởng Bộ Y tế, TS. Kidong Park, Trưởng Đại diện Tổ chức Y tế Thế giới tại Việt Nam; Ông Bùi Ngọc Chương, Ủy viên thường trực, Ủy ban các vấn đề xã hội của quốc hội đã tham dự và đồng chủ trì Hội thảo.
Phát biểu tại Hội thảo Thứ trưởng Bộ Y tế, Nguyễn Trường Sơn cho biết: tại Việt Nam, sản lượng rượu, bia và đồ uống có cồn khác được sản xuất gia tăng nhanh qua các năm trong khi thế giới đang giảm dần. Năm 2015, Việt Nam sản xuất 3.4 tỷ lít bia, 70 triệu lít rượu công nghiệp và khoảng 250 triệu lít thủ công. Tỷ lệ sử dụng rượu, bia ở Việt Nam đang ở mức báo động. Bình quân mỗi người Việt Nam tiêu thụ khoảng 6,6 lít cồn/người/năm, tỷ lệ nam giới và thanh thiếu niên sử dụng rượu, bia đều ở mức cao. Trong đó tỷ lệ nam giới sử dụng rượu bia ở mức có hại là vấn đề đáng báo động. Việc sử dụng rượu, bia không phù hợp gây ảnh hưởng đến sức khỏe và xã hội cho cá nhân người uống cũng như những người xung quanh và cộng đồng.
Đồng chí Thứ trưởng Bộ Y tế nhấn mạnh: sử dụng rượu, bia là nguyên nhân trực tiếp của hơn 30 loại bệnh không lây nhiễm và là nguyên nhân của gần 200 loại bệnh tật khác nhau và được xếp vào hàng thứ ba trong số các nguyên nhân dẫn đến tử vong sớm và tàn tật trên thế giới. Sử dụng rượu bia còn tác động nghiêm trọng đến lĩnh vực kinh tế - xã hội như: Bạo lực gia đình, mất trật tự an toàn xã hội, tội phạm, đói nghèo và gánh nặng về kinh tế đối với cá nhân, gia đình và toàn xã hội do liên quan đến các phí tổn về chăm sóc sức khỏe giảm hoặc mất năng suất lao động và giải quyết các hậu quả xã hội khác.
Thứ trưởng Nguyễn Trường Sơn cho rằng: Nghị định số 105/2017/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý sản xuất, kinh doanh rượu và Quyết định số 244/QĐ-TTg ngày 12/4/2014 của Thủ tướng Chính phủ về Chính sách quốc gia phòng, chống tác hại của lạm dụng đồ uống có cồn đến năm 2020. “Tuy nhiên, đây mới là chính sách mang tính định hướng và cần được thể chế hóa thành các quy phạm pháp luật có giá trị pháp lý cao”. Thứ trưởng Bộ Y tế mong muốn rằng thông qua Hội thảo này, các chuyên gia sẽ cùng chia sẻ kinh nghiệm, cung cấp bằng chứng ảnh hưởng của quảng cáo với sự gia tăng sử dụng rượu bia ở giới trẻ và những khó khăn thách thức trong quá trình xây dựng và hoàn thiện dự luật.
Phát biểu tại Hội thảo TS. Kidong Park, Trưởng Đại diện Tổ chức Y tế Thế giới tại Việt Nam cho biết: tác hại của rượu bia gây ra nguy cơ mắc các bệnh tim mạch, tăng huyết áp, phình mạch chủ, bệnh đường miệng, sơ gan, viêm gan, viêm tụy cấp và mãn tính. Bên cạnh đó còn gây ra hệ lụy nghiêm trọng của xã hội như tai nạn giao thông, bạo lực.
TS. Kidong Park, Trưởng Đại diện Tổ chức Y tế Thế giới tại Việt Nam quan ngại về việc sử dụng rượu bia tại Việt Nam. Ông cho biết: theo thống kê năm 2016 một người trưởng thành tiêu thụ 8,3 lít cồn trong khi đó bình quân tiêu thụ dùng rượu bia ở Tây Thái Bình Dương chỉ là 1,3 lít/năm. TS. Kidong Park nhấn mạnh: Nếu uống 6 cốc bia trong một dịp/lần sẽ rất nguy hại - đó là uống rượu bia quá độ. Trong đó 44% người uống rượu bia ở Việt Nam uống quá nhiều; 48% người uống rượu bia trưởng thành là nam giới và tham gia lái xe .. Việc sử dụng rượu bia ở Việt Nam liên quan tới tai nạn và tử vong.
Trưởng Đại diện Tổ chức Y tế Thế giới tại Việt Nam TS Kidong Park cho rằng nhiều người khi sử dụng rượu bia vẫn còn có sự nhầm lẫn khi cho rằng, người uống bia ít nguy hại hơn người uống rượu. “Cách hiểu này hoàn toàn sai lầm. Bởi, các tác hại của rượu bia không phụ thuộc vào loại hình đồ uống mà phụ thuộc vào tổng khối lượng ethanol và hình thức uống. Khi uống 350ml bia hơi với nồng độ 4%, tức là uống 10 gram cồn, tương đương với việc uống 1 ly rượu vang 13,5 độ, hoặc 30ml rượu mạnh. Như vậy, không có ngoại lệ nào quy định về rượu bia trên các loại hình đồ uống”_ TS Kidong Park nhấn mạnh.
TS Kidong Park cũng đưa ra những khuyến nghị của WHO trong việc phòng chống các tác hại rượu bia như: cần phải đưa ra những quy định cho việc tiếp cận quảng cáo về rượu bia. Cùng với đó người dân, những người chọn không uống rượu bia cần được bảo vệ trước việc tiếp cận các quảng cáo về rượu bia. Bên cạnh đó cần tăng thuế về đồ uống có còn, hạn chế quảng cáo đồ uống và thực thi hạn chế giờ bán rượu bia đặc biệt cấm uống rượu bia khi tham gia giao thông.
Tại Hội thảo, các chuyên gia của các tổ chức quốc tế đã đưa ra những khuyến nghị về xây dựng chính sách đối với Việt Nam dựa trên Chiến lược toàn cầu về phòng chống tác hại và lạm dụng rượu, bia; tác động của tiếp thị rượu bia đến việc tiêu dùng của giới trẻ; Một số khó khăn, trở ngại trong việc xây dựng chính sách liên quan đến phòng chống tác hại của rượu, bia; cung cấp các bằng chứng, chia sẻ các bài học kinh nghiệm quốc tế và đưa ra khuyến nghị đối với Việt Nam trong phòng chống tác hại của lạm dụng đồ uống có cồn. Các đại biểu cũng đã thảo luận và thống nhất các hoạt động để triển khai thực hiện Chính sách quốc gia phòng, chống tác hại của lạm dụng đồ uống có cồn đến năm 2020./.
Đến năm 2030 loại trừ hoàn toàn bệnh sốt rét tại Việt Nam
Sáng 18-4, tại TP Buôn Ma Thuột (Đắk Lắk), Bộ Y tế tổ chức Hội thảo “Thách thức, giải pháp và đầu tư bền vững cho loại trừ sốt rét các tỉnh biên giới”. TS Nguyễn Quang Thiều, Phó viện trưởng Viện Sốt rét-Ký sinh trùng-Côn trùng Trung ương, cho biết, mục tiêu chiến lược của Việt Nam trong phòng chống và loại trừ sốt rét là bảo đảm người bị bệnh sốt rét và người có nguy cơ mắc bệnh sốt rét được tiếp cận các dịch vụ chuẩn đoán sớm và điều trị kịp thời. Mục tiêu là đến năm 2030 loại trừ hoàn toàn bệnh sốt rét tại Việt Nam.
Để thực hiện các mục tiêu chiến lược loại trừ bền vững bệnh sốt rét tại Việt Nam, các đại biểu tham dự Hội thảo đã đề ra các giải pháp như: các cấp chính quyền, đoàn thể địa phương và cộng đồng với sự hỗ trợ của các cơ quan chuyên môn cần chủ động đầu tư kinh phí, tích cực tham gia các hoạt động phòng, chống sốt rét tại địa phương; thực hiện thường xuyên công tác giám sát, phát hiện, chẩn đoán sớm và điều trị kịp thời, quản lý ca bệnh, quản lý đối tượng dân di cư, đặc biệt đối với người thường xuyên đi rừng, ngủ rẫy, người trở về từ các nước có sốt rét lưu hành.
Đồng thời, các cơ sở y tế phải điều trị bệnh nhân sốt rét đúng thuốc, đủ liều theo quy định; người dân tuân thủ các biện pháp phòng chống muỗi sốt rét; phối hợp đa ngành trong công tác phòng chống sốt rét, đặc biệt ở các địa phương có sốt rét lưu hành và sốt rét lưu hành nặng; tiếp tục kêu gọi nguồn lực của các tổ chức quốc tế để đảm bảo nguồn đầu tư bền vững cho các hoạt động phòng chống và loại trừ sốt rét (An ninh thủ đô, trang 2).
Từ 2020 mỗi ngày có 90 người mắc ung thư phổi
Theo thông tin từ Hội thảo khoa học “Những tiến bộ về chẩn đoán và điều trị ung thư phổi tại Bệnh viện Phổi Trung ương” do BV này tổ chức, tại Việt Nam, ung thư phổi là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở nam giới và là nguyên nhân thứ hai gây tử vong do ung thư ở phụ nữ. Mỗi năm có hơn 20.000 người mắc bệnh ung thư phổi, trong đó có đến 17.000 người đã tử vong, 56 người mắc mới mỗi ngày. Với tốc độ gia tăng người mắc như hiện nay, con số ấy có thể lên tới 34.000 người mỗi năm. Dự tính đến năm 2020, mỗi ngày sẽ có thêm 90 người mắc ung thư phổi. Nguyên nhân phổ biến chính là do hút thuốc, bao gồm cả chủ động và thụ động. Ung thư phổi 90% do hút thuốc lá. Theo Tổ chức Y tế Thế giới, Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia có tỷ lệ hút thuốc cao nhất thế giới với 56,1% ở nam giới và 1,8% ở nữ giới. Theo đó, tỷ lệ hút thuốc lá thụ động tại Việt Nam rất cao, ước tính 67,6% người không hút thuốc bị phơi nhiễm với khói thuốc tại nhà và 49,0% phơi nhiễm tại nơi làm việc.
Theo thống kê, 30% tỷ lệ mắc khối u phổi đều liên quan tới hút thuốc dài hạn. Ngoài ra, do các chất gây ung thư có thể hấp thụ dễ dàng qua phổi, dẫn đến tổn hại hệ thống, và do đó gây ra ung thư thanh quản, ung thư thực quản, ung thư miệng, ung thư bàng quang, ung thư thận, ung thư tuyến tụy. Nguyên nhân thứ hai dẫn đến căn bệnh ung thư phổi là do ô nhiễm môi trường. Các dữ liệu cho thấy rằng ô nhiễm không khí là một trong những lý do nghiêm trọng gây ra ung thư phổi (Tiền phong, trang 3).
Cung cấp dịch vụ dự phòng cho người có nguy cơ nhiễm HIV
Ngày 17-4, bà Phan Thị Thu Hương, Phó Cục trưởng Cục Phòng, chống HIV/AIDS (Bộ Y tế) cho biết, dự án cung cấp dịch vụ điều trị dự phòng trước phơi nhiễm HIV (PrEP) vừa được khởi động tại Phòng Khám đa khoa số 3, Trung tâm Y tế Đống Đa, Hà Nội.
Đây là dịch vụ giúp cho những người chưa bị nhiễm HIV nhưng có nguy cơ cao, có thể dự phòng lây nhiễm HIV bằng cách uống 1 viên thuốc Truvada mỗi ngày như một phần của chiến lược dự phòng HIV kết hợp. Đối tượng sử dụng PrEP là nam có quan hệ đồng giới, nam nữ quan hệ tình dục hay những người tiêm chích ma túy.
Việc mở rộng PrEP là cơ hội và điều kiện thuận lợi để nhóm có nguy cơ cao lây nhiễm HIV được tiếp cận dịch vụ dự phòng với chi phí thấp và hiệu quả cao. Tuân thủ tốt PrEP có thể giảm nguy cơ lây nhiễm HIV qua quan hệ tình dục hơn 90% và tiêm chích ma túy 70%. PrEP an toàn cho người dùng, cả phụ nữ mang thai và cho con bú.
Năm 2016, PrEP được thí điểm đầu tiên tại TPHCM và Hà Nội. Năm 2018, Bộ Y tế đã phê duyệt kế hoạch triển khai dự phòng trước phơi nhiễm HIV giai đoạn 2018-2020 với thuốc kháng HIV được cung cấp miễn phí. Cục Phòng, chống HIV/AIDS phối hợp với các dự án/tổ chức hiện đã triển khai dịch vụ PrEP tại 11 tỉnh, thành phố với 43 cơ sở y tế tư nhân và nhà nước với hơn 2.000 người sử dụng dịch vụ PrEP. (Sài Gòn giải phóng, trang 9)
Cùng chủ đề Báo Gia đình & Xã hội, trang 7: “Lần đầu tiên, Hà Nội cấp miễn phí thuốc phòng
ngừa HIV”
Nhiều địa phương khan hiếm vaccine dịch vụ, Cục Quản lý dược vào cuộc điều phốiTheo phản ánh, những ngày gần đây, nhiều tỉnh/ thành phố, nhất là khu vực miền Trung như Đà Nẵng, Quảng Nam, Thừa Thiên – Huế đang xảy ra tình trạng thiếu cục bộ vaccine dịch vụ “5 trong 1”, “6 trong 1”, ảnh hưởng đến việc tiêm chủng cho trẻ. Trên thực tế, tình trạng khan hiếm vaccine dịch vụ đã xảy ra cục bộ ở một số địa phương từ vài tháng gần đây, song đến nay vẫn chưa được khắc phục. Tại Đà Nẵng, theo nguồn tin phản ánh trên các phương tiện thông tin đại chúng, Trung tâm Kiểm soát bệnh tật thành phố này đã thông báo trong tháng 4-2019 tạm thời hết vaccine “6 trong 1” và “5 trong 1”….
Trước thực trạng trên, Cục Quản lý Dược - Bộ Y tế yêu cầu Sở Y tế các địa phương; các cơ sở sản xuất, đăng ký, nhập khẩu vaccine… cần thông tin chi tiết về việc đặt hàng mua vaccine (loại vaccine đặt hàng, cơ sở cung ứng vaccine, số lượng vaccine đặt hàng, thời điểm đặt - hàng, số lượng vaccine được cung ứng, thời điểm cung ứng…), báo cáo về Bộ Y tế để có giải pháp chỉ đạo tiếp theo.
Cục Quản lý dược cũng yêu cầu các địa phương, các đơn vị liên quan báo cáo tình hình kiểm định vaccine trước khi lưu hành (số lượng và thời điểm gửi vaccine tới Viện Kiểm định Quốc gia Vaccine và sinh phẩm, thời gian có kết quả kiểm định...) cũng như các giải pháp đã thực hiện khi nhu cầu tiêm chủng tăng đột biến.
Trước mắt, để đảm bảo cung ứng kịp thời vaccine “5 in 1” và vaccine “6 in 1” tại một số địa phương, Cục Quản lý Dược đề nghị các đơn vị cung ứng (công ty nhập khâu, công ty phân phối, chương trình Tiêm chủng mở rộng) ưu tiên cung ứng ngay lượng vaccine còn tồn kho và lượng vaccine sắp nhập kho cho các cơ sở tiêm chủng đang thiếu vaccine đột biến (như Trung tâm kiểm soát bệnh tật Đà Nẵng…), hoặc theo sự điều phối của Cục Quản lý Dược hay Cục Y tế Dự phòng để tránh hiện tượng thừa, thiếu cục bộ vaccine.
Đối với vaccine đã nhập khẩu về và chờ Viện Kiểm định quốc gia vaccine và sinh phẩm y tế (NICVB) kiểm định, Cục Quản lý Dược yêu cầu NICVB tập trung nguồn lực để khẩn trương kiểm định vaccine nhằm sớm cung cấp cho các đơn vị tiêm chủng. (An ninh Thủ đô, trang 3).
Khi kháng sinh trở nên… vô dụng
Kháng sinh được xem là phương thuốc đặc hiệu để điều trị các bệnh nhiễm trùng, nhiễm khuẩn nhưng hiện nay rất nhiều loại kháng sinh đang trở nên… vô dụng do tình trạng sử dụng kháng sinh tràn lan, thiếu kiểm soát, dẫn tới vi khuẩn kháng kháng sinh gia tăng, gây ra những hậu quả nguy hại.
Chữa mãi không khỏi
Gần nửa tháng chăm sóc đứa con 5 tuổi đang điều trị viêm phổi tại Bệnh viện Nhi Trung ương, chị Lê Thị Thúy (30 tuổi, ở Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc) mệt mỏi chia sẻ: “Lúc đầu thấy cháu ho ít, sốt nhẹ nên tôi ra hiệu thuốc ở phố mua ít thuốc hạ sốt và kháng sinh cho cháu uống. Tuy nhiên, dùng cả tuần hết 2 vỉ kháng sinh mà cháu vẫn không khỏi còn sốt cao, khò khè khó thở. Lo quá, gia đình đưa cháu tới bệnh viện và các bác sĩ cho biết cháu bị biến chứng viêm phổi do dùng thuốc không đúng”. Theo các bác sĩ ở Bệnh viện Nhi Trung ương, vào giai đoạn thời tiết chuyển mùa, bệnh viện thường tiếp nhận nhiều trẻ mắc bệnh viêm đường hô hấp nhưng biến chứng viêm phổi nguy hiểm do trước đó cha mẹ đã tự ý cho trẻ sử dụng nhiều loại kháng sinh, dẫn tới vi khuẩn kháng thuốc.
Trong khi đó, tại Khoa Cấp cứu, Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Trung ương, gần như ngày nào ở đây cũng tiếp nhận điều trị 4 - 5 trường hợp bị sốc nhiễm khuẩn nặng do vi khuẩn kháng thuốc gây ra. Bác sĩ Nguyễn Trung Cấp, Trưởng khoa Cấp cứu, nhận xét phần lớn các ca bị sốc nhiễm khuẩn do vi khuẩn kháng thuốc thường rất nặng, nguy hiểm tới tính mạng. Nhiều bệnh nhân phải thở máy kéo dài nhưng vẫn sốt cao liên tục, thể trạng suy kiệt vì vi khuẩn kháng tất cả các loại kháng sinh hiện có, nên nhiều lúc bác sĩ chỉ biết trông chờ vào hệ miễn dịch của chính người bệnh. Bác sĩ Nguyễn Trung Cấp cảnh báo, kháng kháng sinh là tình trạng nguy hiểm, bởi khi người bệnh mang mầm bệnh kháng kháng sinh thông thường, bác sĩ sẽ sử dụng kháng sinh thế hệ mới, kết hợp nhiều loại và sử dụng liều cao để điều trị nhưng khả năng thành công thấp, trong khi tỷ lệ tử vong cao, thời gian nằm viện kéo dài. Với những bệnh nhân mắc các bệnh lý do vi khuẩn kháng kháng sinh, tỷ lệ tử vong cao hơn rất nhiều bệnh nhân bình thường từ 30% - 90%. Đặc biệt, với những bệnh do vi khuẩn đa kháng thuốc thì tỷ lệ tử vong lên tới 99%, thậm chí hết thuốc chữa.
Kháng sinh thế hệ mới cũng bị kháng
Theo nhiều chuyên gia y tế, kháng kháng sinh là tình trạng vi khuẩn, virus, nấm, ký sinh trùng... kháng lại thuốc kháng sinh. Hay nói cách khác, các thuốc kháng sinh dùng chữa bệnh không còn tác dụng trên lâm sàng, không thể tiêu diệt vi khuẩn gây bệnh, ngay cả khi sử dụng với nồng độ cao. Có nhiều nguyên nhân khiến tình trạng kháng kháng sinh ngày càng trầm trọng, trong đó nguyên nhân chính là việc sử dụng kháng sinh tràn lan, kéo dài và thói quen mua thuốc không cần đơn kê toa của bác sĩ. Thống kê của Bộ Y tế cho thấy, có hơn 70% bác sĩ kê đơn kháng sinh không phù hợp, còn phía người sử dụng có trên 80% mua và sử dụng kháng sinh không có đơn của bác sĩ. Hậu quả là vi khuẩn quen dần với kháng sinh, làm vi khuẩn có sức đề kháng với kháng sinh. Bên cạnh đó còn có nguyên nhân do sự tiếp xúc giữa người bị nhiễm trùng - nhiễm trùng chéo, dẫn đến tình trạng bị đề kháng với những kháng sinh mà mình chưa dùng bao giờ, hay còn gọi là đề kháng chéo.
Trước thực trạng trên, Tổ chức Y tế thế giới đã xếp Việt Nam là một trong những quốc gia có tỷ lệ kháng kháng sinh cao nhất thế giới. Về phía Bộ Y tế cũng không ít lần cảnh báo về việc nhiều quốc gia phát triển đang còn sử dụng kháng sinh thế hệ 1 có hiệu quả, thì tại Việt Nam đã phải sử dụng tới các loại kháng sinh thế hệ 3 và 4, thậm chí ở nước ta đã xuất hiện một số loại siêu vi khuẩn kháng lại tất cả các loại kháng sinh. TS Đoàn Mai Phương, nguyên Trưởng khoa Vi sinh, Bệnh viện Bạch Mai, cho biết Việt Nam đã ghi nhận vi khuẩn đa kháng - kháng 2 nhóm kháng sinh trở lên; kháng mở rộng - kháng với toàn bộ kháng sinh thông dụng mà bác sĩ hay sử dụng trong phác đồ điều trị; toàn kháng là kháng tất cả loại kháng sinh cuối cùng để điều trị vi khuẩn này. Trong số này thì vi khuẩn E.coli kháng kháng sinh Carbapenem - loại kháng sinh được coi là “vũ khí” cuối cùng trong điều trị.
Để ngăn ngừa nguy cơ không còn thuốc chữa, các bác sĩ khuyến cáo người dân tuyệt đối không mua kháng sinh mà không có đơn của bác sĩ. Tuyệt đối không sử dụng kháng sinh theo kiểu truyền miệng. Về phía bác sĩ cũng cần thay đổi việc kê đơn tràn lan nhiều loại kháng sinh không phù hợp với người bệnh. Việc khám và kê đơn thuốc cho người bệnh phải tuân thủ nguyên tắc có nhiễm khuẩn mới dùng kháng sinh.
Tăng cường kiểm soát kê đơn và bán thuốc kê đơn
Sở Y tế TPHCM vừa ban hành kế hoạch thực hiện Đề án Tăng cường kiểm soát kê đơn thuốc và bán thuốc kê đơn giai đoạn 2017-2020, nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng về việc sử dụng thuốc an toàn, hợp lý và nâng cao trách nhiệm của cán bộ y tế, đặc biệt là người kê đơn và bán lẻ thuốc, trong việc thực hiện quy định của pháp luật về kê đơn và bán thuốc kê đơn mà trọng tâm là kháng sinh; đồng thời giảm thiểu tình trạng kháng kháng sinh, lạm dụng thuốc, sử dụng thuốc không hợp lý trên địa bàn TPHCM.
Theo đó, ngành y tế TPHCM sẽ rà soát việc thực hiện các quy định của pháp luật liên quan về kê đơn thuốc và bán thuốc kê đơn ở các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và kinh doanh dược trên địa bàn. Phấn đấu đến năm 2020, đạt 100% kê đơn thuốc đủ nội dung theo quy định của Bộ Y tế về kê đơn trong điều trị ngoại trú đối với cơ sở khám, chữa bệnh công lập, bệnh viện ngoài công lập và đạt 80% đối với cơ sở khám, chữa bệnh ngoài công lập khác trên địa bàn. Lộ trình thực hiện từ tháng 4 đến 10-2019 tại quận Phú Nhuận và từ tháng 11-2019 đến 12-2020 trên toàn TPHCM.(THÀNH AN)
PGS-TS NGUYỄN TRƯỜNG SƠN, Thứ trưởng Bộ Y tế: Chấn chỉnh quản lý nhà thuốc và phòng khám tư nhân
Hiện nay khó nhất là việc quản lý mua bán, sử dụng kháng sinh tại các nhà thuốc và phòng khám tư nhân. Theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), 90% nhà thuốc tại Việt Nam bán thuốc kháng sinh không kê đơn và 87% người dân tự ý đến nhà thuốc mua kháng sinh, vẫn chưa quản lý được. Đây chính là nguyên nhân khiến tình trạng kháng thuốc ngày càng tăng cao ở Việt Nam. Trong khi đó, chi phí kháng sinh trong điều trị chiếm tới 17% tổng chi cho phí dịch vụ khám chữa bệnh của người dân.
PGS-TS LƯƠNG NGỌC KHUÊ, Cục trưởng Cục Khám chữa bệnh Bộ Y tế: Kháng sinh có trong thức ăn gia súc, gia cầmNguyên nhân của tình trạng kháng thuốc diễn ra ngày càng trầm trọng, phần lớn xuất phát từ việc chưa quản lý được việc mua - bán kháng sinh tự do hiện nay. Người dân có thói quen tự mua thuốc về nhà điều trị và các cửa hàng thuốc tây thì bán kháng sinh một cách tràn lan. Amoxicilin, Cephalexin, Azithromycin là 3 loại kháng sinh phổ biến trên thị trường được bán mà không cần đơn thuốc của bác sĩ. Bên cạnh đó là việc sử dụng kháng sinh rộng rãi, kéo dài trong chăn nuôi gia súc, gia cầm, thủy sản và trồng trọt để điều trị, phòng chống dịch bệnh đã tạo điều kiện cho nhiều loại vi khuẩn kháng thuốc.
TS-BS DIỆP BẢO TUẤN , Phó giám đốc Bệnh viện Ung bướu TPHCM: Sử dụng kháng sinh hợp lý, trúng chỉ định. Phải kiểm soát chặt chẽ sử dụng kháng sinh một cách hợp lý để hạn chế tối đa tình trạng kháng kháng sinh, nếu không trong thời gian tới sẽ không còn thuốc để trị vi khuẩn. Quản lý kháng sinh hiện nay khó nhất vẫn là thay đổi việc kê đơn, chỉ định kháng sinh, bởi đã trở thành thói quen của các bác sĩ. Nếu chúng ta không kiểm soát, để việc chỉ định một cách vô tội vạ sẽ khiến tỷ lệ kháng thuốc ngày càng tăng. Tại bệnh viện, chúng tôi luôn quán triệt đội ngũ y, bác sĩ sử dụng kháng sinh một cách hợp lý, trúng chỉ định. Khi người bệnh được sử dụng kháng sinh đúng ngay từ đầu, đồng thời được đánh giá lâm sàng với chỉ định lên thang, xuống thang về việc sử dụng thuốc hợp lý sẽ giúp giảm thời gian nằm viện, giảm chi phí điều trị và giảm cả tỷ lệ tử vong do bệnh nhiễm khuẩn. (Sài Gòn giải phóng, trang 1).
Phát triển y tế viễn thông cho thành phố thông minh
TPHCM cần có một hệ thống y tế viễn thông (còn gọi là viễn y - Telemedicine) để bác sĩ có thể chăm sóc, chữa trị bệnh nhân từ xa.
Với kinh nghiệm sẵn có, chúng tôi đề xuất cộng tác với TPHCM thiết lập một Trung tâm Viễn y để đào tạo đội ngũ trẻ, từ đó kết nối với các bệnh viện để thực hiện những sáng kiến giải quyết những vấn đề thực tế, góp phần thực hiện đề án xây dựng TPHCM thành thành phố thông minh.
Đưa dịch vụ y tế tới người bệnh ở xa
Dựa trên công nghệ điện toán đám mây (Cloud Computing) và mạng lưới kết nối vạn vật (Internet of Things), nền y tế viễn thông hiện là lĩnh vực phát triển nhanh nhất của y tế thế giới. Đây là việc ứng dụng công nghệ thông tin nhằm đưa các dịch vụ y tế, y học tới người sử dụng ở xa một cách thuận lợi, nhanh chóng và hiệu quả.
Thị trường viễn y toàn cầu năm 2016 vào khoảng 27 tỷ USD, tăng gấp 3 lần so với năm 2010. Viễn y trở thành điểm nóng của ngành y về mô hình phục vụ và khả năng cải thiện tỷ số hiệu quả/chi phí. Trên thế giới, các tổ chức, bệnh viện, công ty, trường đại học, viện nghiên cứu quan tâm, nghiên cứu và tham gia vào lĩnh vực viễn y ngày càng nhiều.
Các đơn vị này liên kết tạo thành các mạng lưới trong hiệp hội về y tế viễn thông. Các nước có thu nhập thấp và trung bình cũng triển khai hệ thống viễn y để thu thập dữ liệu và theo dõi từ xa các hoạt động của y tế cộng đồng (Peru), giám sát và theo dõi bệnh sốt rét, suy dinh dưỡng (Uganda, Ấn Độ), theo dõi bệnh nhân và lưu trữ dữ liệu quản lý bệnh tật (Nam Phi), xây dựng hình ảnh học quốc tế cho bệnh lao, sản khoa, nhi khoa (Liberia)...
Theo thông tin từ Bộ Y tế, hiện Việt Nam có hơn 13 triệu người có bệnh liên quan đến cao huyết áp và bệnh tim mạch. Những bệnh nhân này chưa được giám sát các thông số về điện tim, huyết áp đầy đủ.
Ngoài ra, theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), Việt Nam là nước có tỷ lệ mắc bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính cao nhất khu vực châu Á - Thái Bình Dương, chiếm khoảng 5% số dân (hơn 4 triệu người). Bệnh tiểu đường cũng phát triển đáng báo động với tỷ lệ người bệnh của cả nước là 4% dân số, tại TPHCM là 11%. Dự báo, năm 2025, tỷ lệ bệnh tăng lên ở các nước phát triển là 42%, nhưng ở các nước đang phát triển (như Việt Nam) sẽ tăng 170%.
Nhìn vào cơ cấu dân số của Việt Nam, chúng ta thấy xuất hiện nhu cầu chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi trong thời gian tới là rất lớn. Đồng thời, nhóm phụ nữ bước vào tuổi sinh con, có nhu cầu sử dụng dịch vụ sức khỏe sinh sản và nhi khoa cũng lớn. Trong khi đó, nhóm lực lượng lao động của Việt Nam (từ 15 đến 59 tuổi) đang là chủ lực, chiếm trên 50%. Đây cũng là cơ hội vàng để làm cho đất nước giàu hơn trước khi già, nếu chúng ta biết sử dụng đúng cách lực lượng này.
Hiện nay, Việt Nam có: 1- Lực lượng trí thức có khả năng hấp thu được các tiến bộ khoa học, kỹ thuật; 2- Nguồn nhân lực lao động có tay nghề tốt và rẻ; 3- Hệ thống phục vụ hiệu quả; 4- Tình trạng xã hội, sinh thái rất thuận lợi với đa số dân chúng ở vùng sâu vùng xa và hiểu giá trị của sức khỏe; 5- Hạ tầng cơ sở viễn thông khá hoàn chỉnh.
Như vậy, Việt Nam có điều kiện rất tốt so với nhiều nước trên thế giới, cũng như nhu cầu và khả năng triển khai công nghệ viễn y. Viễn y giúp tăng hiệu quả việc chẩn đoán và điều trị của bệnh nhân, giúp giảm tải các bệnh viện, cũng như tạo sự liên thông dễ dàng giữa các bệnh viện tuyến trên với bệnh viện tuyến dưới để nâng cao chất lượng điều trị bệnh của nhóm sau.
Phù hợp hoạt động khởi nghiệp
Hệ thống viễn y bao gồm các thiết bị cá nhân mà bệnh nhân có thể tự sử dụng. Cùng đó, các thiết bị chuyển tiếp tín hiệu, phần mềm quản lý bệnh nhân, phần mềm xử lý tín hiệu và ảnh y tế hỗ trợ chẩn đoán từ xa, nhằm giúp bác sĩ và y tá theo dõi tình trạng các bệnh nhân từ xa.
Thiết bị cá nhân là thiết bị đơn thông số, được sử dụng tại tư gia (homecare) phù hợp cho từng loại bệnh nhất định như để đo huyết áp, đường huyết hay chức năng hô hấp... Điểm nổi bật là các thiết bị này được phát triển dựa trên công nghệ chăm sóc tại chỗ (point-of-care technology). Nghĩa là nó có thể sử dụng ở các vùng sâu vùng xa lẫn thành thị, cũng có thể xuất khẩu đến các nước LMI (có thu nhập thấp và trung bình). Với khả năng số lượng tiêu thụ lớn, tạo lợi nhuận kinh tế cao, rất hấp dẫn với các đơn vị sản xuất, đơn vị phân phối và các đơn vị cung cấp dịch vụ (các bệnh viện, các công ty viễn thông).
Việc sản xuất chúng không đòi hỏi kinh nghiệm quá cao hay đầu tư lớn, nên phù hợp với các công ty vừa và nhỏ hay công ty khởi nghiệp. Các thiết bị này là mấu chốt kết nối bác sĩ và bệnh nhân với nhau thông qua công nghệ điện toán đám mây, hệ thống điều khiển vật chất (Cyper Physical System) và mạng lưới kết nối vạn vật. Hệ thống này tạo thành một dịch vụ y tế điện tử (E-Healthcare) hoàn chỉnh, phù hợp với hoàn cảnh cụ thể ở Việt Nam cũng như các nước LMI khác.
Mặc khác, dịch vụ này sẽ thu thập dữ liệu y tế, tạo thành kho tàng khổng lồ (Big Data), được phân tích bằng những công nghệ tiên tiến thuộc nhóm trí tuệ nhân tạo (Neuro Network, Artifical Intelligence, Deep Learning), thực tế ảo (Virtual Reality). Những công nghệ này giúp bác sĩ chăm sóc bệnh nhân nhanh chóng và hữu hiệu hơn, cũng như giúp các bác sĩ trẻ thu thập nhanh chóng những kỹ thuật mới.
Như thế, công nghệ viễn y sẽ bắt đầu bằng công nghệ thiết kế chế tạo thiết bị và phần mềm quản lý kết nối người tiêu thụ với nhau. Hệ thống này sản sinh ra dịch vụ chăm sóc sức khỏe từ xa, cũng như những nhu cầu mới. Trí tuệ nhân tạo sẽ giúp đẩy mạnh những kiến thức y học, khoa học sự sống, kỹ thuật chăm sóc sức khỏe và vạch ra đường hướng phát triển xã hội đúng đắn.
Sự thành công trong việc vận hành này sẽ làm nền tảng cho việc sáng tạo ra những thiết bị mới cùng nằm trong hệ thống quản lý. Sau đó, những dịch vụ khác sẽ cứ như thế tiếp nối và lan tỏa ra như vết dầu loang.
Tóm lại, công nghệ viễn y là một công nghệ xanh tiên tiến, thân thiện với môi trường, phù hợp với hoàn cảnh đất nước và nằm trong tay của những doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng như những công ty khởi nghiệp. Nó tạo sự kết nối tự nhiên giữa người dân và doanh nghiệp. Nó không những giúp giải quyết vấn đề cấp bách trước mắt mà còn chuẩn bị cho các bước phát triển trong tương lai. Nếu TPHCM triển khai thành công, mô hình này có thể áp dụng cho các nước có thu nhập thấp và trung bình khác. (Sài Gòn giải phóng, trang 3)
Coi chừng ung thư phụ khoa ở tuổi thiếu nữ
Trước đây, ung thư phụ khoa thường được phát hiện ở những phụ nữ từ tuổi trung niên, đã qua sinh nở. Nhưng thời gian gần đây, nhiều phụ nữ trẻ, thậm chí tuổi vị thành niên cũng đã mắc phải bệnh này và khi phát hiện đều ở giai đoạn nặng. Nằm li bì tại giường bệnh BV Ung bướu TP.HCM, có lẽ TTBT (14 tuổi, ngụ Kiên Giang) chưa hiểu hết về căn bệnh quái ác mình đang mang. Ngồi bên con, ánh mắt buồn bã, chị Nguyễn Thị N., mẹ bé, cho hay từ Tết 2019 con đã có biểu hiện đau bụng nhưng chị không bao giờ nghĩ đó là dấu hiệu của căn bệnh quái ác.
14 tuổi bị ung thư cổ tử cung giai đoạn cuối
Chị N. chỉ cho con đến bác sĩ tư gần nhà khám và được chẩn đoán viêm bàng quang, cho chích thuốc vài lần. Tuy nhiên, mới đây bé xuất hiện kỳ kinh nguyệt đầu tiên nhưng kéo dài hai tuần bất thường, kèm theo da dẻ xanh xao, đau quặn bụng thì chị mới đưa con đi thăm khám ở TP.HCM. “Hồi đó giờ ở nhà không có ai mắc bệnh này cả nên tôi chỉ nghĩ bé bị bệnh thông thường thôi. Phải chi tôi đưa con đi khám chuyên khoa ngay từ đầu” - chị N. thẫn thờ.
Trực tiếp phẫu thuật cho bệnh nhân T., BS Nguyễn Văn Tiến (Trưởng khoa Ngoại 1, BV Ung bướu TP.HCM) cho hay bé gái là trường hợp nhỏ tuổi nhất mắc ung thư cổ tử cung mà ông từng tiếp nhận. Kết quả CT, MRI ban đầu của bệnh nhân được nghĩ nhiều hơn là bướu vùng chậu hoặc ung thư buồng trứng. Tuy nhiên, kết quả phẫu thuật khiến các bác sĩ hoàn toàn bất ngờ khi phát hiện khối bướu xuất phát từ trong cổ tử cung và đã xâm lấn nhiều cơ quan khác như bàng quang, trực tràng, vách chậu... nên không thể cắt bỏ. “Hầu hết các ca ung thư cổ tử cung đều phát hiện ở phụ nữ lây nhiễm virus HPV qua quan hệ tình dục, do đó bé gái 14 tuổi chưa từng quan hệ tình dục mắc loại ung thư này thì cực kỳ hiếm, y văn Việt Nam chưa từng ghi nhận, y văn thế giới cũng rất ít. Dự kiến bé gái sẽ được xạ trị, hóa trị để đánh giá cắt khối u, tuy nhiên tiên lượng bệnh dè dặt” - BS Tiến chia sẻ.
Trường hợp trẻ tuổi mắc ung thư phụ khoa ở BV không phải là hiếm. BV đang điều trị cho bệnh nhân LTH (19 tuổi, độc thân, ngụ Bến Tre) bị ung thư cổ tử cung, có bệnh sử rong huyết một năm nay, cách đây hai tháng nhập BV với biểu hiện đau bụng, ra máu âm đạo… Bệnh nhân đã trải qua ca phẫu thuật nhưng do khối bướu tử cung to, xâm lấn toàn bộ túi cùng, chu cung vách chậu, xâm lấn bọng đái và hạch chậu nhiều nên không phẫu thuật được. Chăm sóc con tại BV, chị NTL, mẹ bệnh nhân H., chia sẻ H. nghỉ học từ năm lớp 10 để làm công nhân may. Suốt một năm nay H. có biểu hiện rong kinh và có uống thuốc nhưng không bớt, đến khi đau bụng nhiều mới đưa đi BV ở tỉnh khám thì mới phát hiện bất thường. “Cứ nghĩ bệnh phụ khoa đơn giản thôi nhưng không ngờ là ung thư. Giá như một năm trước tôi đưa con đi chữa sớm thì có lẽ bệnh không nặng như bây giờ” - chị L. tâm sự.
Một trường hợp thương tâm khác là bệnh nhân TPT (18 tuổi) bị ung thư buồng trứng. Mới đây, bệnh nhân có biểu hiện bụng to dần và mệt mỏi, tuy nhiên gia đình không nghĩ em mắc bệnh mà la mắng con quan hệ bừa bãi dẫn đến có bầu. Sau đó, em được người dì đưa đến BV khám mới ra căn bệnh này.
Chích ngừa sớm cho các bé gái
BS CKII Nguyễn Văn Tiến (Trưởng khoa Ngoại 1, BV Ung bướu TP.HCM) cho hay mỗi tháng khoa phát hiện 250-300 ca ung thư phụ khoa, trong đó ung thư buồng trứng là nhiều nhất, kế đến là ung thư cổ tử cung. Đặc biệt, 2-3 năm trở lại đây, số ca ung thư cổ tử cung tăng rõ rệt và xuất hiện ở lứa tuổi rất trẻ. So với trước kia, số ca mắc ung thư cổ tử cung ở lứa tuổi này hiếm hơn nhiều. “Trong tuần qua có đến ba trường hợp ung thư cổ tử cung dưới 20 tuổi nhập BV và 4-5 ca dưới 26 tuổi mắc bệnh này. Tỉ lệ tăng thấy rõ” - BS Tiến thông tin. Cũng theo BS Tiến, ung thư phụ khoa ở người trẻ thường phát hiện ở giai đoạn muộn và tình cờ, ngẫu nhiên do tâm lý chủ quan, cha mẹ ít quan tâm đến con cái. Thường ung thư ở người trẻ diễn tiến rầm rộ, tiên lượng nặng hơn so với người lớn tuổi. Ung thư cổ tử cung trên 95% do nhiễm virus HPV do quan hệ tình dục nhưng người chưa quan hệ vẫn nhiễm loại virus này có thể do phơi nhiễm, qua tiếp xúc hoặc từ mẹ sang con.
Do đó để phòng tránh ung thư và bệnh diễn biến nặng, chị em phụ nữ cần có lối sống lành mạnh, cân bằng, bên cạnh đó trang bị cho mình kiến thức để phòng ngừa, chẩn đoán, phát hiện sớm ung thư phụ khoa, đi khám ngay khi có biểu hiện bệnh.
“Các bậc phụ huynh nên quan tâm con cái nhiều hơn, đừng tưởng con còn trẻ sẽ không mắc các bệnh phụ khoa. Nếu con có bất thường trong chu kỳ kinh nguyệt, than đau bụng, tiêu tiểu khó, mệt mỏi, sụt cân, bụng to bất thường... thì nên đưa thăm khám chuyên khoa sớm. Giai đoạn sớm của ung thư phụ khoa, điều trị sẽ dễ dàng và bảo tồn được chức năng sinh sản, thiên chức làm vợ, làm mẹ cho các em hơn so với giai đoạn muộn” - BS Tiến lưu ý. Ngoài ra, hiện nay đã có vaccine ngừa virus HPV gây ung thư cổ tử cung và được chứng minh có hiệu quả nên phụ huynh có thể chích ngừa sớm cho các bé.
Cảnh báo người mang đột biến gen BRCA1 và BRCA2
Tại Trung tâm Chẩn đoán và điều trị ung bướu, BV Quân y 175, BS Phạm Thành Luân cho hay thời gian gần đây số ca người trẻ mắc ung thư phụ khoa có dấu hiệu tăng, trong đó không ít trường hợp dưới 20 tuổi.
Theo BS Luân, một số loại ung thư như ung thư buồng trứng, ung thư vú được ghi nhận có khoảng 10% do thừa hưởng đột biến gen BRCA1 và BRCA2. Do đó, người mang hai gen di truyền này nên tầm soát ung thư “dày” hơn người bình thường.
Chữa một tuần không giảm bệnh, coi chừng ung thư
Người dân nên theo dõi những dấu hiệu mắc bệnh ung thư sớm ở những trang thông tin của BV có uy tín để nhận biết và đi khám chuyên khoa sớm. Khi chữa các bệnh như viêm nhiễm phụ khoa từ một tuần đến 10 ngày không thuyên giảm thì phải nghĩ đến khả năng ung thư để đi khám chuyên khoa. (Pháp luật TP. HCM, trang 12).
Giảm cân cấp tốc - Nhập viện thần tốc
Mặc dù các chuyên gia đã cảnh báo người tiêu dùng không nên tự ý dùng các thuốc, trà được quảng cáo có tác dụng giảm cân rao bán trôi nổi nhưng chỉ vì mặc cảm với cân nặng, vì muốn đẹp cấp tốc, đã có không ít chị em phải đánh đổi sức khỏe, người thì suy thận, người thì suy kiệt cơ thể, có dấu hiệu men gan tăng... để rồi phải nhập viện bất đắc dĩ.
Mới đây nhất, BV Bình Dân - TP.HCM vừa tiếp nhận trường hợp nữ bệnh nhân (22 tuổi, ở Bình Dương) nhập viện trong tình trạng chân tay sưng phù, xuất huyết tiêu hóa, khoang màng phổi có nhiều dịch, suy gan cấp, chức năng thận suy, rối loạn điện giải, đe dọa tính mạng. Ngay sau khi tiếp nhận, bác sĩ Khoa Lọc máu nội thận đã tích cực cấp cứu, bệnh nhân qua cơn nguy kịch, song chức năng thận không còn khả năng phục hồi.
Qua khai thác bệnh sử của bệnh nhân được biết, do mặc cảm với ngoại hình thừa cân đã mua 250 viên thuốc giảm cân không rõ xuất xứ với giá 500.000 đồng từ một người quen giới thiệu và uống trong vòng 1 tháng. Ban đầu sau khi uống thuốc, bệnh nhân đi tiểu nhiều và giảm được 8kg. Sau đó bệnh nhân cảm thấy mệt mỏi, mất ngủ và phải nghỉ việc. Bệnh cảnh tiếp tục tiến triển nặng khi hai mắt bị phù, lan ra cả mặt và tay chân, phải nhập viện điều trị.
BS. Lê Thị Đan Thùy, Trưởng khoa Lọc máu nội thận - BV Bình Dân cho biết, ngoài nữ bệnh nhân trên, từ trước Tết đến nay có 2 trường hợp khác dùng thuốc giảm cân bị tổn thương thận mất khả năng hồi phục. Hiện, họ phải chạy thận lọc máu theo định kỳ.
Trước đó, BV Nội tiết TW cũng đã tiếp nhận điều trị một nữ bệnh nhân P.T.H, 19 tuổi, quê Hà Nam bị suy kiệt cơ thể nặng, có dấu hiệu suy gan, suy thận do uống trà giảm cân không rõ nguồn gốc, xuất xứ, được mua trên mạng.
TS. Nguyễn Trọng Hưng, Phó Trưởng khoa Dinh dưỡng và Tiết chế lâm sàng, BV Nội tiết TW cho biết, qua khai thác được biết, H. được chẩn đoán mắc đái tháo đường typ 1 cách đây 4 năm, đang được điều trị theo đơn thuốc của BV Nội tiết TW. Thời gian gần đây, H. thường bị bạn bè trêu vì tăng cân, bản thân khá tự ti nên đã tự ý tìm hiểu các sản phẩm trà giảm cân trên mạng với lời quảng cáo “thành phần hoàn toàn từ hoa quả thiên nhiên”. Người bán trà qua tài khoản trên Facebook cũng khẳng định loại trà đó có thể dùng cho người bị tiểu đường.
Theo lời kể của H., hộp trà H. mua bên trong có những túi trà ghi thành phần là hoa quả sấy khô, nguồn gốc tự nhiên. Khi pha vào nước, trà nóng có mùi vị thơm, gần giống như mùi của hoa quả sấy khô, sau khi uống chị không còn cảm giác thèm ăn uống nhưng đầu cứ ong ong. Sau khi uống được khoảng 2 tuần, tuy có giảm được 5kg nhưng H. bắt đầu cảm thấy cơ thể mệt mỏi, khát nước, sụt cân, đầy bụng, người lả đi và được người nhà đưa tới BV Nội tiết TW nhập viện gấp.
Tại bệnh viện, qua kết quả xét nghiệm, bác sĩ cho biết, bệnh nhân có lượng đường huyết trong máu tăng, men gan ở mức 1103U/L trong khi chỉ số bình thường là dưới hoặc bằng 31U/L, tăng gấp hơn 30 lần so với mức bình thường, gây tổn thương, hủy hoại tế bào gan, có dấu hiệu của suy gan, suy thận.
TS. Nguyễn Trọng Hưng cho biết thêm, trước đó, BV Nội tiết TW từng tiếp nhận một số bệnh nhân uống trà giảm cân bị tăng men gan. Tuy nhiên, H. là người có men gan cao nhất trong tất cả các bệnh nhân.
Liên quan đến các sản phẩm giảm cân, TS. Nguyễn Thanh Phong, Cục trưởng Cục An toàn thực phẩm, Bộ Y tế cho biết, qua giám sát chủ động, cơ quan chức năng đã phát hiện một số sản phẩm giảm cân chứa sibutramine và đã tiến hành thu hồi, xử lý. Sibutramin là hoạt chất đã bị Cục Quản lý Dược, Bộ Y tế cấm sử dụng do có nhiều tác dụng phụ với sức khỏe. Sibutramin là một loại thuốc làm giảm cảm giác thèm ăn, nhưng đặc biệt nguy hiểm đối với người tiêu dùng, nhất là người có tiền sử bệnh tim mạch và huyết áp do gây ảnh hưởng xấu đến tim mạch.
Do đó, lãnh đạo Cục An toàn thực phẩm khuyến cáo người tiêu dùng cẩn trọng khi mua sản phẩm qua mạng vì rất nhiều sản phẩm được quảng cáo, rao bán trên mạng nhưng khi làm việc với Cục An toàn thực phẩm, đại diện nhà sản xuất lại cho biết họ không thực hiện quảng cáo, không chịu trách nhiệm về sản phẩm trên các trang mạng đó. Trên thực tế theo lãnh đạo Cục An toàn thực phẩm, qua thanh tra, kiểm tra, Cục An toàn thực phẩm cùng các cơ quan chức năng đã xử lý rất nhiều vụ, ngăn chặn nhiều sản phẩm vi phạm, song thực trạng này vẫn diễn biến hết sức phức tạp. Nhiều nội dung quảng cáo hoàn toàn sai sự thật, có nơi còn tổ chức tư vấn qua điện thoại, đặc biệt là các sản phẩm bảo vệ sức khỏe, sản phẩm làm đẹp, giảm cân. Thậm chí cá nhân đồng chí Cục trưởng còn được tư vấn mua chính sản phẩm giảm cân có chứa chất cấm mà Cục An toàn thực phẩm đã thông báo thu hồi (Sức khỏe & Đời sống, trang 3).
Fanpage
Youtube


















