Điểm báo điện tử ngày 12 tháng 10 năm 2016
13/10/2016
0
WHO kêu gọi tăng giá bán đồ uống có đường
- Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) kêu gọi các quốc gia trên thế giới nên sử dụng chính sách thuế để tăng giá bán những loại đồ uống có đường.
Trong một nỗ lực nhằm chống lại bệnh béo phì, đái tháo đường tuýp 2 và sâu răng, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) kêu gọi các quốc gia trên thế giới nên sử dụng chính sách thuế để tăng giá bán những loại đồ uống có đường như nước ngọt.
Trong bản báo cáo dài 36 trang công bố ngày 11/10, WHO cho biết số người béo phì trên toàn cầu đã tăng gấp đôi từ năm 1980 - 2014. Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là do việc tiêu thụ quá nhiều đồ uống có đường.
WHO cũng khuyến cáo mọi người nên hấp thu lượng đường ít hơn 10% tổng nhu cầu năng lượng. Đối với người lớn không nên vượt quá 50g đường, tương đương với 12 thìa cà phê mỗi ngày và đối với trẻ em không nên vượt quá 25g.
http://vtv.vn/the-gioi/who-keu-goi-tang-gia-ban-do-uong-co-duong-20161012170904417.htm
Khám và tư vấn miễn phí bệnh bướu giáp nhân
Ngày 16-10, Khoa Lồng ngực – Mạch máu Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM sẽ tổ chức “Chương trình khám và tư vấn miễn phí dành cho người bệnh đã biết bị bướu giáp nhân”. Theo thống kê tại Việt Nam, mỗi năm có khoảng 115.000 người đi khám và chữa bệnh bướu giáp nhân. Tỷ lệ phát hiện bướu giáp nhân gần đây tăng nhiều nhờ tầm soát bệnh bằng siêu âm vùng cổ.
Bướu giáp có thể gặp khi mới sinh hoặc xảy ra bất cứ lúc nào trong suốt cuộc đời, lứa tuổi thường gặp từ 30- 55 tuổi. Một số yếu tố nguy cơ phổ biến của bệnh thường gặp nhất là do chế độ ăn uống thiếu iốt. Phụ nữ dễ bị rối loạn tuyến giáp hơn so với nam giới, do đó phụ nữ có khả năng phát triển bướu giáp cao gấp 5 lần nam giới. Các yếu tố gia đình như lịch sử cá nhân hay gia đình của bệnh tự miễn dịch; mang thai, thời kỳ mãn kinh; một số phương pháp điều trị y tế bao gồm ức chế miễn dịch, thuốc kháng virus; phơi nhiễm bức xạ do điều trị phóng xạ cổ hoặc vùng ngực hoặc đã tiếp xúc với bức xạ trong thử nghiệm hạt nhân hay tai nạn… đều là những nguy cơ làm gia tăng tỷ lệ mắc bệnh.
Bướu giáp nhỏ có thể không gây ra vấn đề về thể chất hoặc thẩm mỹ. Nhưng bướu giáp kích thước lớn có thể làm mất thẩm mỹ, khó thở hoặc khó nuốt, gây ho, khàn tiếng… Ngoài ra, bướu giáp có thể gây ra nhiều rối loạn như mệt mỏi, tăng cân (do suy giáp) hoặc giảm cân ngoài ý muốn, dễ cáu gắt, khó ngủ, tim đập nhanh, suy tim (do cường giáp).
Do đó, khi người bệnh xuất hiện các triệu chứng trên nên đến các cơ sở y tế để được tầm soát và điều trị bệnh kịp thời, triệt để.
Để tham gia chương trình, người dân đăng ký tham dự miễn phí qua điện thoại: (08) 3952 5449 – (08) 3952 5350.
http://www.baohaiquan.vn/pages/kham-va-tu-van-mien-phi-benh-buou-giap-nhan.aspx
Bệnh hô hấp ở trẻ em tăng cao, bệnh viện lo quá tải
Số trẻ em mắc bệnh hô hấp đến khám, chữa bệnh ngày càng đông đã khiến số bệnh nhi điều trị nội trú đang ở mức cao nhất.
Từ tháng 9 đến nay, tình hình bệnh hô hấp ở trẻ em có xu hướng tăng cao, liên quan đến thời tiết chuyển mùa và môi trường không khí bị ô nhiễm.
Tại các khoa Nhi và bệnh viện chuyên khoa nhi ở Hà Nội, số trẻ em mắc bệnh hô hấp đến khám, chữa bệnh ngày càng đông đã khiến số bệnh nhi điều trị nội trú đang ở mức cao nhất.
Tại khoa Nhi, Bệnh viện Bạch Mai, số trẻ mắc bệnh hô hấp đến khám trong tháng 8 chỉ chiếm gần 40%, nhưng từ tháng 9 đến nay, đã tăng lên gần gấp đôi, gây nên tình trạng quá tải, bệnh nhi phải nằm ghép 2 đến 3 cháu/1 giường… Tại Bệnh viện Nhi Trung ương, số trẻ mắc bệnh hô hấp đến khám đang là áp lực lớn khi bệnh viện này đã cam kết không để bệnh nhân nằm ghép. Bệnh nhân chủ yếu là trẻ dưới 6 tháng tuổi bị nhiễm trùng đường hô hấp, gây viêm tiểu phế quản hoặc viêm phế quản phổi.
Tuy số trẻ mắc ho gà đến khám ít hơn so với cùng kỳ năm ngoái nhưng số ca viêm phổi nhập viện ngày càng tăng đã khiến lượng bệnh nhân tại khu điều trị nội trú đã ở mức cao nhất. Trong số hơn 1.600 bệnh nhi điều trị nội trú tại Bệnh viện Nhi Trung ương hiện nay, có khoảng 300 bệnh nhi mắc bệnh về hô hấp, trong đó gần một nửa là bệnh nhân nặng phải hỗ trợ thở ô xy hoặc thở máy.
Bác sĩ Trần Minh Điển, Phó Giám đốc Bệnh viện Nhi Trung ương cho biết: “Chúng tôi đã chủ động có phương án, mở thêm 1 đơn vị 40 giường nữa dành riêng cho các bệnh nhi bệnh vừa và nặng để hạn chế nguy cơ lây nhiễm và không để bệnh nhi phải nằm ghép. Các bậc phụ huynh cần chú ý giữ gìn cho con sạch sẽ, nhất là giữ gìn vệ sinh mũi họng, chân tay, vệ sinh nhà cửa gọn gàng, sạch sẽ, tránh đưa trẻ đến các vùng tập trung đông người, nhất là những em bé dưới 1 tuổi… Ở mùa này những bệnh lý về hô hấp dễ tái phát, những bệnh nào có vắc xin phòng bệnh nên cố gắng đưa trẻ đi tiêm phòng đủ mũi, đúng lịch để tránh bị bệnh nặng đáng tiếc”.
http://vov.vn/tin-24h/benh-ho-hap-o-tre-em-tang-cao-benh-vien-lo-qua-tai-559340.vov
Người Việt ăn mặn gấp 2-3 lần khuyến cáo của WHO
Ung thư dạ dày là căn bệnh có tiên lượng điều trị không tốt, chỉ khoảng 15% bệnh nhân sống sau 5 năm. Các nhà khoa học ước tính rằng một trong bảy trường hợp ung thư dạ dày có thể tránh được thông qua giảm lượng muối.
Mọi người thường biết ăn nhiều muối làm tăng nguy cơ cao huyết áp, đột quỵ và bệnh tim, nhưng ít khi chú ý rằng ăn nhiều muối cũng làm tăng nguy cơ mắc ung thư dạ dày.
Đây là một trong những nguyên nhân gây tử vong vì ung thư lớn nhất bởi ung thư dạ dày tiên lượng điều trị không cao, chỉ khoảng 15% bệnh nhân sống sót sau 5 năm.
Theo thống kê của tổ chức ung thư toàn cầu, ở Việt Nam mỗi năm có 16.000 trường hợp mắc mới và hơn 11.000 trường hợp tử vong do ung thư dạ dày. Đây là căn bệnh ung thư thường gặp xếp thứ 2 ở nam giới (sau ung thư phổi) và xếp thứ 5 ở nữ giới.
Các nhà nghiên cứu cho biết, ăn mặn liên quan đến viêm dạ dày tạo điều kiện cho vi khuẩn Helicobacter pylori phát triển. Vi khuẩn này là căn nguyên của 80% trường hợp ung thư dạ dày.
Ngoài ung thư dạ dày, ăn mặn còn được cho là tác nhân gây ra 62% các ca tai biến mạch máu não và 49% các ca nhổi máu cơ tim. Ngoài ra, nó còn là nguyên nhân gây loãng xương, bệnh thận,…
Người Việt ăn mặn gấp 2-3 lần khuyến cáo. Kết quả nghiên cứu về lượng muối có trong khẩu phần ăn của nhóm người trưởng thành ở độ tuổi 25-64 của Viện Dinh dưỡng quốc gia cho thấy lượng muối tiêu thụ trung bình tại Việt Nam dao động từ 12-15 g/người/ngày.
Lượng muối chủ yếu từ thức ăn trong quá trình chế biến, nấu nướng và nước chấm, gia vị trong bữa ăn. Cả trong các thực phẩm chế biến sẵn mà ngày nay đang rất phổ biến cũng chứa rất nhiều muối.
Vì vậy, hãy hạn chế các thực phẩm chế biến sẵn, cũng như dần thay đổi thói quen ăn mặn bằng cách giảm muối trong nấu ăn và hạn chế sử dụng nước chấm.
http://tieudungplus.vn/nhung-loai-hoa-mang-mua-thu-den-co-o-viet-nam-13377.html
Bộ Y tế khuyến cáo phòng chống bệnh tay chân miệng
- Để tích cực phòng chống, giảm thiểu ảnh hưởng của bệnh tay chân miệng đến sức khỏe, đặc biệt là trẻ em, Cục Y tế dự phòng, Bộ Y tế khuyến cáo mạnh mẽ người dân cần chủ động thực hiện các biện pháp phòng bệnh như sau:
1. Vệ sinh cá nhân: Rửa tay thường xuyên bằng xà phòng dưới vòi nước chảy nhiều lần trong ngày (cả người lớn và trẻ em), đặc biệt trước khi chế biến thức ăn, trước khi ăn/cho trẻ ăn, trước khi bế ẵm trẻ, sau khi đi vệ sinh, sau khi thay tã và làm vệ sinh cho trẻ.
2. Vệ sinh ăn uống: Thức ăn cho trẻ cần đảm bảo đủ chất dinh dưỡng; ăn chín, uống chín; vật dụng ăn uống phải đảm bảo được rửa sạch sẽ trước khi sử dụng (tốt nhất là ngâm tráng nước sôi); sử dụng nước sạch trong sinh hoạt hằng ngày; không mớm thức ăn cho trẻ; không cho trẻ ăn bốc, mút tay, ngậm mút đồ chơi; không cho trẻ dùng chung khăn ăn, khăn tay, vật dụng ăn uống như cốc, bát, đĩa, thìa, đồ chơi chưa được khử trùng.
3. Làm sạch đồ chơi, nơi sinh hoạt: Hộ gia đình, nhà trẻ mẫu giáo, các hộ trông trẻ tại nhà cần thường xuyên lau sạch các bề mặt, vật dụng tiếp xúc hằng ngày như đồ chơi, dụng cụ học tập, tay nắm cửa, tay vịn cầu thang, mặt bàn/ghế, sàn nhà bằng xà phòng hoặc các chất tẩy rửa thông thường.
4. Thu gom và xử lý chất thải của trẻ: Sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh, phân, chất thải của trẻ phải được thu gom, xử lý và đổ vào nhà tiêu hợp vệ sinh.
5. Theo dõi phát hiện sớm: Trẻ em phải được thường xuyên theo dõi sức khỏe để kịp thời phát hiện, tổ chức cách ly, điều trị các trường hợp mắc bệnh, tránh lây bệnh cho các trẻ khác.
6. Cách ly, điều trị kịp thời khi phát bệnh: Các nhà trẻ, mẫu giáo, nhóm trẻ tập trung và hộ gia đình có trẻ dưới 6 tuổi cần chủ động theo dõi sức khỏe của trẻ để kịp thời phát hiện và đưa ngay đến các cơ sở y tế để được điều trị kịp thời. Trẻ bị bệnh phải được cách ly ít nhất là 10 ngày kể từ khi khởi bệnh, không cho trẻ có biểu hiện bệnh đến lớp và chơi với các trẻ khác.ly và đưa ngay trẻ đến các cơ sở y tế để được khám và điều trị.
http://phapluatxahoi.vn/doi-song/bo-y-te-khuyen-cao-phong-chong-benh-tay-chan-mieng-120054
Tại sao vi khuẩn kháng thuốc ngày càng gia tăng?
- Cả thế giới đang đối mặt với thực trạng vi khuẩn kháng thuốc kháng sinh ngày một gia tăng. những đối tượng nào có liên quan đang giúp sức cho vi khuẩn kháng thuốc?
Tại sao vi khuẩn đề kháng được thuốc kháng sinh?
Vi khuẩn luôn là mối đe dọa lớn đến tính mạng người bệnh do chúng gây nên các bệnh nhiễm trùng từ đơn giản (mụn, nhọt, viêm họng…) đến những bệnh nguy hiểm như: viêm phổi, lao toàn thể, sốc nhiễm trùng, nhiễm trùng huyết… Trong quá trình tiến triển, con người luôn tìm mọi cách để tiêu diệt vi khuẩn, nhưng chúng ta đang bị động trong việc tiêu diệt chúng. Bởi vì, không biết bao nhiêu nhóm kháng sinh được con người nghiên cứu ra chỉ một thời gian vi khuẩn đã đề kháng, trong đó có những loại vi khuẩn đa đề kháng với các loại kháng sinh. Khi vi khuẩn đề kháng với kháng sinh sẽ gây hết sức khó khăn cho bác sĩ điều trị, gây nguy hiểm cho tính mạng người bệnh và ảnh hưởng lớn đến cả cộng đồng. Vậy, vi khuẩn làm thế nào để đề kháng được kháng sinh?
Vi khuẩn kháng lại kháng sinh là do gen, gen kháng thuốc có thể là tự nhiên (bản thân vi khuẩn đó đã có sẵn) hoặc có thể là do thu được trong quá trình sống. Gen kháng thuốc có được có thể do đột biến, tức là do thuốc kháng sinh làm đột biến chất liệu di truyền của vi khuẩn. Sự đột biến chỉ xảy ra khi thuốc được dùng với liều lượng không đủ hoặc không đủ thời gian để ức chế hoặc tiêu diệt vi khuẩn. Vì vậy, vi khuẩn có thể vẫn sống sót sau đợt điều trị đó, chúng sinh sôi nẩy nở ra hàng loạt vi khuẩn thế hệ con cháu mang tính kháng thuốc như thế hệ sinh ra nó. Ngoài ra vi khuẩn kháng thuốc còn truyền cho nhau (ngay cả vi khuẩn khác loài) gen kháng thuốc nhờ hệ thống di truyền ngoài nhiễm sắc thể, đó là plasmide (vi khuẩn E.coli kháng chloramphenicol có thể truyền gen kháng thuốc này cho Shigella và làm cho vi khuẩn Shigella kháng Chloramphenicol). Chính vì sự lan truyền gen kháng thuốc như vậy cho nên khắp toàn cầu đều gặp vi khuẩn kháng thuốc.
Vi khuẩn cũng có thể kháng thuốc kháng sinh theo cơ chế là gen kháng thuốc giúp vi khuẩn thay đổi chuyển hóa theo hướng không sử dụng kháng sinh trong môi trường chúng sinh sống, vì vậy, khi kháng sinh xuất hiện cũng không tiêu diệt hoặc ức chế được chúng. Do đó, dù có hay không có kháng sinh, vi khuẩn cũng không bị tiêu diệt, đặc biệt là các loại kháng sinh thuộc hóm Sulphonamide, Quinolin, Macrolide. Bên cạnh đó, một số nhà chuyên môn còn cho rằng vi khuẩn còn có khả năng kháng lại kháng sinh bằng cách thải trừ kháng sinh ra khỏi cơ thể chúng (ví dụ P. aeruginosa: trực khuẩn mủ xanh). Ngoài vi khuẩn có khả năng kháng lại kháng sinh còn một số yếu tố khác.
Những đối tượng nào đã và đang giúp sức cho vi khuẩn kháng thuốc?
Đó là chỉ định dùng thuốc kháng sinh không đúng của bác sĩ khám bệnh. Một số không ít bác sĩ kê đơn cho người bệnh điều trị không đúng đối tượng (ví dụ, sốt là cho kháng sinh), thêm vào đó là không tuân theo một trong các quy định sử dụng kháng sinh (dùng kháng sinh phổ hẹp trước, nếu bệnh giảm ít hoặc không thuyên giảm mới chỉ định dùng kháng sinh phổ rộng). Một hiện tượng khác khá phổ biến là dùng kháng sinh điều trị bao vây và kê đơn không đủ liều lượng, không đủ thời gian. Các hiện tượng đó đều có khả năng làm cho vi khuẩn kháng thuốc.
Đối tượng thứ hai tiếp tay cho vi khuẩn kháng thuốc là người bán thuốc, đây là đối tượng cần được bàn luận nhiều nhất vì bán thuốc kháng sinh bừa bãi, vô tội vạ, không có đơn cũng bán một cách vô tư. Đã có nhiều trường hợp bệnh nhân chỉ mua vài ba viên kháng sinh vẫn bán, nghĩa là với người bán thuốc lợi nhuận là trên hết. Nếu cứ bán thuốc tràn lan như vậy, vi khuẩn càng ngày càng kháng thuốc là điều không thể tránh khỏi.
Đối tượng thứ ba là người mua thuốc, hầu hết người tự đến quầy thuốc để mua kháng sinh là không hiểu gì về kháng sinh, bởi vì họ có được tư vấn bao giờ đâu. Nhiều trường hợp coi thuốc kháng sinh là thuốc chữa bách bệnh, nghĩa là bệnh gì cũng dùng kháng sinh.
Mặt khác, các cơ quan có liên quan chưa có quy định chặt chẽ và bắt buộc việc bán thuốc kháng sinh nhất thiết phải có đơn thuốc của bác sĩ khám bệnh (lưu đơn thuốc kháng sinh để đối chiếu với nhập và xuất)
Hậu quả là vi khuẩn kháng thuốc tràn lan trong cộng đồng dân cư, làm cho bác sĩ rất khó điều trị, người bệnh không những bệnh không khỏi mà gây tốn kém, thậm chí gây nguy hiểm chết người (dị ứng thuốc, sốc phản vệ…).
Nên làm gì để ngăn chặn vi khuẩn kháng thuốc trong cộng đồng?
Bộ Y tế cần phải có các đợt tập huấn (đào tạo lại) cho các bác sĩ điều trị về nguyên tắc sử dụng kháng sinh, từ tỉnh đến huyện, quận. Bác sĩ tuyến tỉnh, sau khi được tập huấn, sẽ tổ chức cho tuyến quận, huyện và tuyến quận, huyện, tổ chức tập huấn cho tuyến xã, phường, đặc biệt lưu ý đến đội ngũ bác sĩ ở các bệnh viện, phòng khám tư nhân.
Điều quan trọng nhất là quản lý thuốc. Để không có thuốc kháng sinh bán tràn lan như hiện nay, việc bán thuốc theo đơn cần được thực hiện bắt buộc triệt để (giống như quản lý thuốc gây nghiện). Khi quản lý chặt chẽ việc bán thuốc theo đơn, cho dù người muốn mua (không có đơn thuốc) cũng không thể nào mua được. Đồng thời cần có chế tài kiểm tra việc nhập và bán kháng sinh có phù hợp với số lượng thuốc bán theo đơn thu về hay không.
Nên có các đợt tuyên truyền rộng khắp trong toàn dân với các hình thức khác nhau, tập trung vào “kháng sinh không chữa được bách bệnh mà chỉ chữa các bệnh do vi khuẩn gây ra, không tự mua thuốc kháng sinh để điều trị vì sẽ gây ra nhiều bất lợi cho người bệnh, thậm chí nguy hiểm tính mạng và dùng kháng sinh phải có đơn thuốc của bác sĩ”.
http://suckhoedoisong.vn/tai-sao-vi-khuan-khang-thuoc-ngay-cang-gia-tang-n123606.html
Fanpage
Youtube


















