Điểm báo từ ngày 21 đến 27 tháng 5 năm 2019
27/05/2019
0
Điểm báo từ ngày 21 đến 27 tháng 5 năm 2019
Phát biểu tại WHO: Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến nhấn mạnh Việt Nam ưu tiên phát triển y tế cơ sở
Phát biểu tại Kỳ họp lần thứ 72 Đại hội đồng Y tế thế giới, Bộ trưởng Y tế Việt Nam, PGS.TS Nguyễn Thị Kim Tiến nhấn mạnh Việt Nam đã ưu tiên trong việc tăng cường hệ thống y tế cơ sở để cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu tốt hơn cho người dân.
Việt Nam đã ưu tiên trong việc tăng cường hệ thống y tế cơ sở
Tại hội nghị, Bộ trưởng Bộ Y tế Việt Nam Nguyễn Thị Kim Tiến đã có bài phát biểu, trong đó nêu rõ “Không để ai bị bỏ lại phía sau” là một nguyên tắc cốt lõi của bao phủ chăm sóc sức khoẻ toàn dân, trong đó mọi người dân - bất kể họ là ai, sống ở đâu, hoặc có điều kiện kinh tế hay không – đều có thể tiếp cập được các dịch vụ y tế có chất lượng khi cần.
Chính phủ Việt Nam đã rất nỗ lực để đảm bảo mọi người dân đều có thể được hưởng lợi từ các chương trình chăm sóc sức khỏe do ngân sách nhà nước và bảo hiểm y tế chi trả. Ngân sách nhà nước chi trả cho các dịch vụ dự phòng và bao phủ 100% các đối tượng thuộc các chương trình y tế, trong khi chương trình bảo hiểm y tế chi trả cho các dịch vụ khám chữa bệnh và đến nay đã bao phủ được 88% dân số.
Để đảm bảo những đối tượng dễ bị tổn thương có thể tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe mà không gặp khó khăn về tài chính, chính phủ trợ cấp 100% phí bảo hiểm y tế cho tất cả người nghèo, người dân tộc thiểu số, trẻ em dưới 6 tuổi và người già từ 85 tuổi trở lên; trợ cấp 70% phí bảo hiểm y tế cho người cận nghèo.
Các mục tiêu Bao phủ chăm sóc sức khỏe toàn dân (UHC) và Phát triển bền vững (SDG3) chỉ có thể đạt được thông qua việc thực hiện chăm sóc sức khỏe ban đầu (CSSKBĐ).
Việt Nam đã ưu tiên trong việc tăng cường hệ thống y tế cơ sở để cung cấp dịch vụ CSSKBĐ tốt hơn cho người dân, xây dựng kế hoạch hành động tổng thể với cam kết cao về mặt chính trị để nâng cao năng lực cho hơn 11.000 trạm y tế xã. Hầu hết các trạm y tế xã đều có bác sĩ, y tá, nữ hộ sinh, cán bộ y học cổ truyền, hoạt động theo nguyên lý y học gia đình; bao gồm tăng cường sức khỏe, phòng bệnh, phát hiện và điều trị bệnh sớm tập trung vào các bệnh không lây nhiễm. Đổi mới cơ chế tài chính, đầu tư cơ sở hạ tầng, đào tạo nguồn nhân lực, đổi mới phương thức hoạt động theo nguyên lý y học gia đình là những nội dung của đổi mới CSSKBĐ hướng tới bao phủ CSSK toàn dân.
Việt Nam cũng đã tích cực huy động các nguồn lực tài chính từ vốn vay ưu đãi và viện trợ của các tổ chức quốc tế như Ngân hàng thế giới, Ngân hàng Phát triển châu Á, WHO, Quỹ Toàn cầu, EU và các đối tác phát triển để tăng cường y tế cơ sở, chăm sóc sức khỏe ban đầu và đổi mới cơ chế tài chính y tế.
Chính phủ Việt Nam đã ban hành nhiều chính sách quan trọng trên cơ sở chuyển hướng từ các dịch vụ chăm sóc dựa vào bệnh viện và chữa bệnh sang chú trọng vào dịch vụ chăm sóc dựa vào cộng đồng và phòng bệnh như Chương trình Sức khỏe Việt Nam được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt năm 2018.
Bộ trưởng Bộ Y tế khẳng định có rất nhiều việc cần làm để đổi mới hệ thống y tế theo định hướng lấy CSSKBĐ làm nền tảng với chất lượng, hiệu quả, công bằng để đạt được mục tiêu bao phủ CSSK toàn dân. Việc chia sẻ kinh nghiệm giữa các quốc gia thành viên là rất quan trọng và Việt Nam tin rằng với sự hỗ trợ từ cộng đồng quốc tế, Việt Nam có thể đảm bảo mọi người dân có sức khỏe và phúc lợi tốt hơn.
Bộ trưởng Nguyễn Thị Kim Tiến và GĐ BV Phổi Trung ương Nguyễn Viết Nhung (ngoài cùng bên phải) có cuộc gặp với GĐ Chương trình Lao toàn cầu của WHO TS. Tereza Kasaeva, GĐ Liên minh PCL toàn cầu TS. Lucica Mardale, GĐ Đối ngoại của Quỹ toàn cầu Bà Francoise Vanni, GĐ khu vực châu Á của Quỹ toàn cầu Urban Weber.
Chương trình nghị sự của Kỳ họp lần thứ 72 Đại Hội đồng Y tế Thế giới (WHA72) bao gồm các nội dung: Các vấn đề ưu tiên chiến lược như Chương trình ngân sách 2020-2021; Ứng phó với các sự kiện y tế công cộng khẩn cấp; Chứng nhận hoàn thành giai đoạn chuyển đổi và sau chuyển đổi bệnh bại liệt; Thực hiện Chương trình phát triển bền vững 2030; Bao phủ chăm sóc sức khỏe toàn dân; Sức khỏe, môi trường và biến đổi khí hậu; Tiếp cận với thuốc và vắc xin; Chuẩn bị cho cuộc họp cấp cao của Đại Hội đồng Liên hợp quốc về các vấn đề liên quan đến sức khỏe (kháng kháng sinh; Phòng chống các bệnh không lây nhiễm; Chấm dứt bệnh Lao).
Ngoài ra các đại biểu còn tập trung thảo luận các vấn đề chuyên môn, các vấn đề liên quan đến Chương trình ngân sách và tài chính...
Việt Nam đã đóng góp tích cực vào chương trình nghị sự của Kỳ họp WHA72
Với hơn 20 bài tham luận thuộc các lĩnh vực chuyên môn khác nhau, đoàn đại biểu Việt Nam đã có những đóng góp tích cực và chủ động vào các chương trình nghị sự của kỳ họp. Các bài tham luận của Việt Nam đều được các thành viên của Hội đồng Chấp hành đánh giá cao, góp tiếng nói của các nước đang phát triển vào việc xây dựng các chính sách y tế trên toàn cầu.
Cũng trong đợt tham dự Đại Hội đồng Y tế Thế giới lần thứ 72, đoàn Bộ Y tế đã tham dự một số cuộc họp bên lề với các đối tác quốc tế như: Cuộc họp bên lề về bệnh AIDS, sốt rét, lao; Thảo luận bàn tròn về Chính sách Bao phủ chăm sóc sức khỏe toàn dân.
Đáng chú ý, Việt Nam đã đồng chủ trì sự kiện bên lề do Hàn Quốc khởi xướng về “Tiếp cận thuốc, vắc xin và các sản phẩm y tế: một cách tiếp cận đa chiều nhằm đảm bảo sự minh bạch của thị trường, các sản phẩm có chất lượng, chi phí hợp lý để đạt được UHC”. Tại sự kiện này, Bộ trưởng Nguyễn Thị Kim Tiến đã chia sẻ về việc tiếp cận thuốc, vắc xin và các sản phẩm y tế tại Việt Nam. Bộ trưởng Bộ Y tế cũng đã tham dự sự kiện bên lề của Diễn đàn Kinh tế Thế giới cấp Bộ trưởng về Bao phủ chăm sóc sức khỏe toàn dân.
Bộ trưởng đã có cuộc họp với TS. Francoise Vanni, Giám đốc Đối ngoại của Quỹ Toàn cầu để trao đổi về tiến triển thực hiện các dự án của Quỹ Toàn cầu của Việt Nam và kế hoạch viện trợ cho Việt Nam giai đoạn 2020-2022, đồng thời mời Lãnh đạo Chính phủ Việt Nam tham dự cuộc họp của Quỹ Toàn cầu lần thứ 6 diễn ra vào tháng 10/2019 tại Lyon, Pháp. (Sức khỏe & Đời sống, trang 16).
http://t5g.org.vn/diem-bao-ngay-2452019
Áp dụng mức lương cơ sở mới thanh toán chi phí khám chữa bệnh BHYT
Bảo hiểm xã hội Việt Nam vừa ban hành công văn hướng dẫn áp dụng mức lương cơ sở theo Nghị định 38/2019/NĐ-CP trong thanh toán chi phí khám chữa bệnh bảo hiểm y tế.Bảo hiểm xã hội Việt Nam cho biết, Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 38/2019/NĐ-CP quy định mức lương cơ sở đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang. Theo đó, mức lương cơ sở từ ngày 01/7/2019 được điều chỉnh là 1.490.000 đồng/tháng. Để thống nhất thực hiện thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế (BHYT) theo đúng quy định, Bảo hiểm xã hội Việt Nam đề nghị bảo hiểm xã hội các tỉnh thông báo để các cơ sở khám chữa bệnh BHYT trên địa bàn thực hiện kể từ ngày 01/7/2019 như sau:1. Xác định mức hưởng BHYT theo quy định tại Khoản 1, Điều 14 Nghị định số 146/2018/NĐ-CP ngày 17/10/2018 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn biện pháp thi hành một số điều của Luật BHYT.Cụ thể: 15% mức lương cơ sở tương đương với 223.500 đồng (hai trăm hai ba nghìn năm trăm đồng); 6 tháng lương cơ sở tương đương với 8.940.000 đồng (tám triệu chín trăm bốn mươi nghìn đồng).2. Xác định mức thanh toán trực tiếp theo quy định tại Điều 30 Nghị định số 146/2018/NĐ-CP. Cụ thể: 0,15 lần mức lương cơ sở tương đương với 223.500 đồng (hai trăm hai ba nghìn năm trăm đồng); 0,5 lần mức lương cơ sở tương đương với 745.000 đồng (bảy trăm bốn mươi lăm nghìn đồng); 1,0 lần mức lương cơ sở tương đương với 1.490.000 đồng (một triệu bốn trăm chín mươi nghìn đồng); 2,5 lần mức lương cơ sở tương đương với 3.725.000 đồng (ba triệu bảy trăm hai mươi lăm nghìn đồng).3. Mức thanh toán chi phí vật tư y tế theo quy định tại Điểm b, Khoản 2, Điều 3 Thông tư số 04/2017/TT-BYT ngày 14/4/2017 của Bộ Y tế ban hành Danh mục và tỷ lệ, điều kiện thanh toán đối với vật tư y tế thuộc phạm vi được hưởng của người tham gia BHYT không vượt quá 45 tháng lương cơ sở tương đương với 67.050.000 đồng (sáu bảy triệu không trăm năm mươi nghìn đồng). Mức thanh toán nêu trên áp dụng kể cả với trường hợp người tham gia BHYT vào viện trước ngày 1/7/2019 nhưng ra viện từ ngày 1/7/2019. Bảo hiểm xã hội Việt Nam yêu cầu Bảo hiểm xã hội các tỉnh khẩn trương triển khai thực hiện, đảm bảo quyền lợi của người bệnh BHYT theo đúng quy định.
Bảo hiểm xã hội Việt Nam cho biết, Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 38/2019/NĐ-CP quy định mức lương cơ sở đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang. Theo đó, mức lương cơ sở từ ngày 01/7/2019 được điều chỉnh là 1.490.000 đồng/tháng.
Để thống nhất thực hiện thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế (BHYT) theo đúng quy định, Bảo hiểm xã hội Việt Nam đề nghị bảo hiểm xã hội các tỉnh thông báo để các cơ sở khám chữa bệnh BHYT trên địa bàn thực hiện kể từ ngày 01/7/2019 như sau:
1. Xác định mức hưởng BHYT theo quy định tại Khoản 1, Điều 14 Nghị định số 146/2018/NĐ-CP ngày 17/10/2018 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn biện pháp thi hành một số điều của Luật BHYT.
Cụ thể: 15% mức lương cơ sở tương đương với 223.500 đồng (hai trăm hai ba nghìn năm trăm đồng); 6 tháng lương cơ sở tương đương với 8.940.000 đồng (tám triệu chín trăm bốn mươi nghìn đồng).
2. Xác định mức thanh toán trực tiếp theo quy định tại Điều 30 Nghị định số 146/2018/NĐ-CP. Cụ thể: 0,15 lần mức lương cơ sở tương đương với 223.500 đồng (hai trăm hai ba nghìn năm trăm đồng); 0,5 lần mức lương cơ sở tương đương với 745.000 đồng (bảy trăm bốn mươi lăm nghìn đồng); 1,0 lần mức lương cơ sở tương đương với 1.490.000 đồng (một triệu bốn trăm chín mươi nghìn đồng); 2,5 lần mức lương cơ sở tương đương với 3.725.000 đồng (ba triệu bảy trăm hai mươi lăm nghìn đồng).
3. Mức thanh toán chi phí vật tư y tế theo quy định tại Điểm b, Khoản 2, Điều 3 Thông tư số 04/2017/TT-BYT ngày 14/4/2017 của Bộ Y tế ban hành Danh mục và tỷ lệ, điều kiện thanh toán đối với vật tư y tế thuộc phạm vi được hưởng của người tham gia BHYT không vượt quá 45 tháng lương cơ sở tương đương với 67.050.000 đồng (sáu bảy triệu không trăm năm mươi nghìn đồng).
Mức thanh toán nêu trên áp dụng kể cả với trường hợp người tham gia BHYT vào viện trước ngày 1/7/2019 nhưng ra viện từ ngày 1/7/2019. Bảo hiểm xã hội Việt Nam yêu cầu Bảo hiểm xã hội các tỉnh khẩn trương triển khai thực hiện, đảm bảo quyền lợi của người bệnh BHYT theo đúng quy định. (An ninh Thủ đô, trang 2).
Uống 1 lon bia/ngày cũng tăng nguy cơ mắc ung thư, vậy mà người Việt "không say, không về"
Suckhoedoisong.vn - PGS.TS Phạm Việt Cường – Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Chính sách và Phòng chống Chấn thương – Trường Đại học Y tế Công cộng cho biết, sử dụng rượu bia dù ít (12,5g cồn nguyên chất/ngày tức là dưới 1 lon bia 330ml) vẫn có mối quan hệ nhân quả với 7 loại ung thư và có mối liên hệ với khoảng 30 loại ung thư khác.
Các bệnh ung thư phải kể đến đó là ung thư vú, vòm họng, tế bào vảy thực quản, gan, dạ dày, đại tràng, trực tràng…; ung thư tụy, máu, tế bào bạch hầu…
Rượu bia – thức uống của bệnh tậtTheo PGS. Cường, chất cồn (ethanol) trong rượu bia là chất gây hại, tác động bất lợi trực tiếp và gián tiếp đến hệ thần kinh và nhiều bộ phận trong cơ thể người uống, làm tổn thương tế bào và các mô dẫn đến mắc các bệnh cấp và mạn tính. Gây nhiễm độc, tác động lên hệ thần kinh trung ương làm rối loạn và mất khả năng điều khiển hành vi, nhận thức. Gây nghiện, gây lệ thuộc dẫn đến rối loạn tâm thần kinh và các rối loạn cơ thể khác.
Sử dụng rượu bia gây rối loạn chuyển hóa là nguyên nhân gây ra các bệnh đái tháo đường, mỡ máu, tăng huyết áp… Uống rượu bia dù ít cũng vẫn làm chậm khả năng xử lý khi điều khiển các phương tiện tham gia giao thông, vận hành máy móc.
Chưa dừng lại ở đó, theo chuyên gia này, sử dụng rượu bia gây hậu quả nghiêm trọng đối với vị thành niên và thanh niên dưới 25 tuổi. Họ dễ mắc các vấn đề như chậm phát triển não bộ, tăng nguy cơ quan hệ tình dục không an toàn, tự tử sát thương, giảm sút kết quả học tập… Các chuyên gia đã chỉ ra rằng, không có ngưỡng uống nào là tốt cho sức khỏe.
“Rượu bia là một trong 4 yếu tố nguy cơ hàng đầu của các bệnh không lây nhiễm do gây tổn thương đến nhiều bộ phận của cơ thể dẫn đến mắc các bệnh tim mạch (nhồi máu cơ tim, đột quỵ); tiêu hóa (tổn thương gan, xơ gan, viêm tụy cấp tính hoặc mạn tính); suy giảm miễn dịch và đặc biệt là ung thư (khoang miệng, họng, thanh quản, thực quản, đại – trực tràng, gan, và thêm ung thư vú ở nữ giới…) – chiếm 46% số ca tử vong do hậu quả của sử dụng rượu bia trên toàn cầu, tiếp theo là chấn thương tai nạn giao thông và bệnh tiêu hóa”- PGS Cường phân tích.
Loại đồ uống này còn là tác nhân gây bệnh duy nhất với một số bệnh như loạn thần do rượu – bệnh có tỉ lệ mắc rất cao (15% giường bệnh tâm thần); Hội chứng rối loạn phát triển bào thai do rượu – bệnh đang có tỉ lệ mắc gia tăng nhanh chóng.
Các nhà khoa học đã chỉ rõ, rượu bia là nguyên nhân gây ra bệnh của 300 mã bện tật, và là nguyên nhân cấu thành của 200 mã bệnh khác nhau.
Thêm vào đó, việc sử dụng rượu bia không rõ nguồn gốc, không bảo đảm chất lượng, rượu pha từ cồn công nghiệp là nguyên nhân gây ra hàng trăm vụ ngộ độc với hàng trăm người mắc và hàng chục người tử vong trong những năm qua.
Người Việt uống rượu bia thế nào?Không khó để biết được "cách" uống rượu bia của người Việt, và hầu như trên mỗi bàn tiệc đều chúc nhau "không say không về"! Điều đó khiến thực trạng sử dụng rượu bia ở Việt Nam đang ở mức báo động, bình quân mỗi người Việt tiêu thụ khoảng 6,6 lít cồn/người/năm.
Số liệu ước tính năm 2016 của Tổ chức Y tế thế giới là 8,3 lít, ở vị trí 64/194 nước trong khi mức tiêu thụ trên toàn cầu tăng không đáng kể. Trong đó, tỉ trọng tiêu thụ cồn nguyên chất từ bia đang tăng nhanh hơn từ rượu.
Điều tra quốc gia STEPS năm 2015 - Cục Y tế dự phòng và Báo cáo toàn cầu về rượu bia và sức khỏe 2014 cho thấy, tỉ lệ nam giới hiện uống rượu bia của Việt Nam cao hơn mặt bằng chung toàn cầu và của khu vực. Xếp thứ 22 thế giới, cao hơn tất cả các nước châu Á.
Gần một nửa nam giới trưởng thành của Việt Nam đã uống rượu bia ở mức nguy hại, cao hơn rất nhiều so với mặt bằng chung của thế giới.
Tỉ lệ nam vị thành niên, thanh niên có sử dụng rượu bia là 79,9% và nữ vị thành niên, thanh niên là 36,5%, trong đó 66,5% nam và 22% nữ đã từng bị say rượu (SAVY). Tỉ lệ sử dụng rượu bia trong độ tuổi pháp luật không cho phép (14-17 tuổi) cao 47,5%.
PGS. Cường cho rằng, sở dĩ việc sử dụng rượu bia gia tăng tại nước ta là do tính sẵn có của rượu bia (về thời gian, địa điểm) bất cứ khi nào cũng có thể mua được loại đồ uống này, giá lại rẻ. Tiếp đó là vấn đề quảng cáo tiếp thị rượu bia khá phổ biến trên các phương tiện thông tin đại chúng; vấn đề kiểm soát kinh doanh và tiêu thụ; thói quen tiêu dùng... Đó là những yếu tố góp phần làm gia tăng sử dụng rượu bia tại Việt Nam.
Để giảm những tác hại do rượu bia gây ra, PGS. Cường kiến nghị 3 chính sách mang lại hiệu quả cao trong giảm tỉ lệ sử dụng rượu bia và tác hại của rượu bia là: Hạn chế tính sẵn có và tính dễ dàng tiếp cận với đồ uống có cồn. Thứ 2 là chính sách thuế và giá nhằm tăng giá đồ uống có cồn và Kiểm soát quảng cáo các sản phẩm.
Do đó, cần sớm ban hành Luật Phòng chống tác hại của rượu bia, tập trung vào các nội dung:
- Kiểm soát quảng cáo rượu bia đặc biệt trong bối cảnh mạng xã hội phát triển và chưa được kiểm soát hiệu quả.
- Kiểm soát tiếp cận với rượu bia (quy định về điểm bán, giờ bán...).
- Kiểm soát sử dụng rượu bia ở trẻ em (Quy định độ tuổi, địa điểm cấm bán, uống; cấm các loại hình quảng cáo với trẻ em).
- Phong chống uống rượu bia và lái xe.
- Quản lý rượu tự nấu, rượu thủ công.
- Tăng thuế tiêu thụ đặc biệt với rượu bia và tăng cường năng lực thi hành pháp luật liên quan đến phòng chống tác hại của rượu bia.
Quy định trong Luật phải đủ mạnh
Là người “theo đuổi” đề án nghiên cứu về những tác động có hại của sử dụng rượu bia đã nhiều năm nay, ThS. Nguyễn Thị Minh Hạnh - Phó Viện trưởng Viện Chiến lược và Chính sách y tế đã nhận thấy những tác động về mặt sức khỏe, xã hội của đồ uống có cồn. Vì vậy, theo bà Hạnh, điều quan trọng không chỉ là ban hành Luật Phòng chống tác hại của rượu bia mà những quy định đưa ra trong Luật phải đủ mạnh và phải được thực thi.
TS. Trần Tuấn - Liên minh Phòng chống các bệnh không lây nhiễm Việt Nam cũng cho rằng, để việc ban hành một dự Luật có những quy định đủ mạnh, Dự thảo Luật hiện hành cần được sửa theo hướng chủ đạo, cần khẳng định: Rượu bia và đồ uống có cồn nói chung là sản phẩm tiêu dùng có nguy cơ gây ngộ độc cấp tính hệ thần kinh và ngộ độc mạn tính dẫn đến tình trạng nghiện, bệnh tật cho người dùng; tác hại nghiêm trọng tới 13 trong tổng số 17 chỉ tiêu phát triển bền vững của đất nước.
Mức thuế đưa lại cho ngân sách của cả rượu bia và các loại đồ uống chỉ khoảng 2,2 tỷ đô la Mỹ/năm nhưng chi phí mà ngân sách quốc gia cùng tiến túi của người dân bỏ ra để khắc phục tác hại của rượu bia ước tính từ 3,5-10,5 tỷ đô la Mỹ. Trong khi đó, Tổ chức Y tế thế giới đã chỉ ra, 1 đô la chi phí vào thực hiện gói chiến lược can thiệp đồng bộ giảm tác hại của rượu bia đưa lại 9,13 đô la lợi ích tổng thể. Một văn bản Luật Phòng chống tác hại của rượu bia tốt chắc chắn sẽ là một phương thức can thiệp giảm nghèo hữu hiệu cho đất nước và đặc biệt chống sự tha hóa nhân lực, hiện đang là nghiêm trọng với giới trẻ.
Ông Tuấn cũng nhấn mạnh, khung pháp luật đưa ra phải được thiết kế trên cơ sở khoa học ngăn ngừa tác hại của chất gây nghiện, gây bệnh cho người sử dụng và cộng đồng nói chung. Đồng thời, cần xác lập nồng độ cồn trong sản phẩm làm cơ sở cho công tác quản lý thương mại, phòng tránh tác hại và thiết lập cơ sở thu thuế, phải dựa trên cơ sở khoa học dự phòng tác hại của ngộ độc cấp do rượu bia gây ra.
Cần đưa vào cụ thể quy định mức thuế cơ bản và đánh thuế tích theo nồng độ cồn có trong sản phẩm. Bắt đầu từ loại sản phẩm có 2,5% độ cồn với mức thuế cơ bản, thiết lập mức thuế lũy tích đi theo chiều tăng nồng độ cồn có trong sản phẩm… Nồng độ cồn càng cao mức thuế càng tăng mạnh rất khác biệt, mới có tác dụng bảo vệ người tiêu dùng tránh rơi vào tình trạng nghiện và nghiện nặng gây hậu quả khôn lường cho bản thân, gia đình và xã hội.
Các bác sĩ Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức vừa thực hiện thành công chín ca phẫu thuật đặt điện cực kích thích não sâu cho người bệnh Parkinson nặng đáp ứng kém với thuốc. Thành công này mở ra hy vọng cho những người mắc bệnh tương tự và những người bị rối loạn vận động. Người đầu tiên ở khu vực phía bắc được áp dụng kỹ thuật này là ông Hoàng Minh P. (sinh năm 1964), chẩn đoán bị Parkinson từ năm 2006. Triệu chứng khởi đầu của người bệnh là run vùng ngọn chi, chủ yếu tay phải, kèm theo co cứng các cơ nửa người phải làm cho nói khó, viết khó. Người bệnh được điều trị khởi đầu với Artan 2 mg x 2 viên/ngày, nhưng đến năm 2007, các triệu chứng bệnh nặng dần lên với các biểu hiện run, đi lại khó khăn, hay vã mồ hôi, táo bón... Các bác sĩ đã phải tăng thêm thuốc và tăng dần liều... Ðến thời điểm đến khám, người bệnh đã dùng tới 6 viên syndopa/ngày. Thuốc chỉ có tác dụng trong khoảng vài giờ, ngoài ra sau khi sử dụng thuốc khoảng 30 phút đến một giờ người bệnh có các biểu hiện loạn động, xoắn vặn... cho nên rất chán nản, bi quan.
Sau khi được khám sàng lọc và làm các bài kiểm tra (test), đánh giá về thần kinh, tâm lý cũng như test UPDRS để đánh giá khả năng phẫu thuật, người bệnh được nhận định có chỉ định phẫu thuật. Ê-kíp phẫu thuật gồm nhiều chuyên ngành: nội thần kinh, ngoại thần kinh, gây mê hồi sức, chẩn đoán hình ảnh. Sau khi hội chẩn xác định đường vào vùng đặt điện cực, TS Nguyễn Anh Tuấn, Trưởng Khoa Nội - Hồi sức Thần kinh (Bệnh viện Hữu nghị Việt Ðức) cho biết: đường vào được xác định dựa trên hình ảnh chụp cắt lớp và cộng hưởng từ, gắn với một khung định vị để xác định chính xác vị trí đặt điện cực với sai số vài mi-li-mét. Người bệnh được khoan hai lỗ trên sọ và luồn điện cực vào vị trí được xác định ban đầu. Ðáng chú ý, hầu hết quá trình phẫu thuật người bệnh vẫn tỉnh và các bác sĩ nội thần kinh thăm khám đánh giá sự cải thiện của triệu chứng cũng như tác dụng phụ xảy ra do quá trình đặt điện cực để điều chỉnh vị trí điện cực. Sau khi đặt điện cực bên trái, người bệnh được tiến hành đặt điện cực bên phải với quy trình như trên và nối dây điện cực ra cục pin đặt dưới da ngực phải. Toàn bộ quá trình phẫu thuật từ lúc gắn khung định vị đến khi kết thúc kéo dài từ bảy đến tám giờ. Người bệnh lưu lại viện ba, bốn ngày để theo dõi các biến chứng chảy máu, nhiễm trùng, sau đó được xuất viện. Trong những tuần đầu, người bệnh sẽ được tái khám hằng tuần và các bác sĩ chuyên khoa nội thần kinh điều chỉnh cường độ, vị trí phát xung thích hợp, kèm theo với việc duy trì sử dụng thuốc hợp lý. Ba tuần sau khi phẫu thuật và duy trì thêm thuốc, kết hợp điều chỉnh cường độ kích thích phù hợp, ông Hoàng Minh P. đã có thể đi lại, tự phục vụ bản thân.
Parkinson là bệnh lý thoái hóa thần kinh có tiến triển từ từ và nặng dần theo thời gian. Bệnh có những biểu hiện lâm sàng là triệu chứng vận động mà biểu hiện điển hình là chứng run và co cứng cơ, chậm chạp, mất ổn định về tư thế, người bệnh đi lại dễ bị ngã và một số triệu chứng liên quan trầm cảm, tiêu hóa, rối loạn thần kinh thực vật... Khi bị mắc chứng bệnh này, những người bệnh ở giai đoạn sớm thường có biểu hiện run ở phần ngọn chi và miệng, kèm theo co cứng các cơ, động tác chậm chạp dẫn đến hạn chế vận động. Ở những giai đoạn sau, triệu chứng nặng dần, run và cứng cơ nhiều hơn khiến người bị mất ổn định về tư thế, dễ bị ngã khi đi lại. Ngay những động tác đơn giản như cài khuy áo, tự mặc quần áo cũng không tự làm được…
Việc điều trị cho người bệnh Parkinson chủ yếu là dùng thuốc. Ở những giai đoạn đầu, thuốc thường đem lại hiệu quả ấn tượng và giai đoạn này được gọi là "thời kỳ trăng mật" (thường là từ bốn đến 5 năm sau khi khởi phát bệnh). Tuy nhiên, ở những giai đoạn sau, khả năng đáp ứng với thuốc ngày càng kém dần, người bệnh có xu hướng phải tăng liều điều trị và đây cũng là giai đoạn xuất hiện nhiều biến chứng do thuốc.
Kỹ thuật "kích thích não sâu" là một trong những kỹ thuật hiện đại nhất hiện nay trong điều trị bệnh Parkinson và một số rối loạn vận động khác. Các nước châu Âu và Mỹ khuyến cáo sử dụng kỹ thuật này để điều trị người bệnh ở giai đoạn đáp ứng kém với thuốc, thường tối thiểu 5 năm kể từ khi chẩn đoán mắc Parkinson. Phẫu thuật kích thích não sâu là một phương pháp phẫu thuật sọ não nhằm đưa một que kim loại (còn gọi là điện cực) vào đúng các cấu trúc sâu trong não. Sau đó, điện cực được nối với một dây dẫn ra khỏi não, luồn dưới da từ vùng đầu đến vùng trước ngực rồi gắn vào máy tạo nhịp được đặt ở đó. Tuổi thọ pin trung bình khoảng 5 năm tùy thuộc vào cường độ điện sử dụng. Giống như máy tạo nhịp tim, khi được kích thích, dòng điện sẽ theo dây dẫn vào điện cực, từ đó tác động vào nhân não giúp cải thiện triệu chứng cho người bệnh.
Từ cuối tháng 4 đến nay, các bác sĩ Bệnh viện Hữu nghị Việt Ðức đã thực hiện thành công chín ca phẫu thuật đặt điện cực kích thích não sâu cho những bệnh nhân Parkinson nặng đáp ứng kém với thuốc. Ðánh giá những ca đầu cho thấy ba tuần sau khi phẫu thuật được duy trì dùng thuốc và điều chỉnh cường độ kích thích phù hợp, người bệnh đã có thể đi lại, tự phục vụ bản thân. Các biểu hiện loạn động được kiểm soát, triệu chứng cứng cơ được cải thiện 80 đến 90%, triệu chứng run được cải thiện 70%... Thành công bước đầu này không chỉ khẳng định tay nghề của các bác sĩ trong nước mà mở ra cơ hội cho những người bệnh Parkinson nặng đáp ứng kém với thuốc có thể điều trị ngay tại cơ sở y tế trong nước, với chi phí chỉ bằng một phần ba so với nước ngoài. (Nhân dân, trang 5).
http://t5g.org.vn/diem-bao-ngay-2352019
Cảnh báo: Trẻ em là đối tượng có nguy cơ nhiễm vi khuẩn HP cao nhất
Suckhoedoisong.vn - Thông tin trên được đưa ra tại Hội nghị Khoa học tiêu hóa, gan mật, kỷ niệm một năm thành lập do Viện Nghiên cứu và đào tạo tiêu hoá, gan mật đã tổ chức.
Tại Hội nghị, GS.TS Đào Văn Long - nguyên Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Y Hà Nội, Chủ tịch Hội đồng sáng lập Viện Nghiên cứu và Đào tại tiêu hóa, gan mật cho biết, vi khuẩn HP (Helicobacter pylori) là một trong những nguyên nhân gây loét dạ dày, hành tá tràng và là yếu tố nguy cơ cao của ung thư dạ dày. Đáng lo ngại, Việt Nam là khu vực có tỷ lệ người nhiễm cao. Vừa qua, Viện nghiên cứu và đào tạo tiêu hóa, gan mật đã thực hiện một nghiên cứu khảo sát tình trạng nhiễm H.p trên 258 gia đình với 696 cá thể đến khám vì triệu chứng của đường tiêu hóa.
Viện Nghiên cứu và đào tạo tiêu hóa, gan mật đã thực hiện nghiên cứu, phân tích số liệu về vi khuẩn H.p dựa trên cá thể của từng bệnh nhân, quan hệ huyết thống của bệnh nhân đó đối với những người thân trong gia đình. Kết quả cho thấy, tỷ lệ nhiễm HP trong quần thể ở nước ta là 85,9%. Đáng chú ý, tỷ lệ nhiễm HP ở trẻ dưới 8 tuổi đạt 96,2%. Điều này hoàn toàn ngược lại so với tỷ lệ nhiễm HP ở các nước phát triển bởi ở các nước này thì tỷ lệ trẻ em nhiễm HP rất thấp (chỉ chiếm khoảng 20% so với 80% của người lớn).
PGS.TS Nguyễn Duy Thắng, Viện trưởng Viện nghiên cứu và đào tạo tiêu hóa, gan mật chia sẻ, ở Việt Nam, trẻ em là đối tượng có nguy cơ nhiễm vi khuẩn Hp cao , có những trẻ bị nhiễm HP từ khi mới… 2 tuổi. Có trường hợp một em bé bị nhiễm khuẩn từ người mẹ (mang khuẩn HP) thông qua đường nếm, mớm thức ăn bón cho con.
Cũng theo PGS Thắng, vi khuẩn HP là một trong những nguyên nhân dẫn đến ung thư dạ dày chứ không phải cứ có khuẩn HP là bị ung thư dạ dày. Khi có các triệu chứng bệnh lâm sàng như đau bụng, ợ hơi, hay nôn, ăn uống không được thì người bệnh nên đi khám sớm để được chẩn đoán, không nên tự điều trị tại nhà.
Vi khuẩn HP có tên đầy đủ là Helicobacter Pylori, là một loại vi khuẩn sống trong dạ dày người, có thể tồn tại trong môi trường của axit dạ dày. Loại vi khuẩn này tiết ra một enzyme có tên là Urease giúp trung hòa độ axit trong dạ dày. Vi khuẩn HP có thể sinh sống và phát triển ở lớp nhầy trên bề mặt niêm mạc dạ dày. Nó có thể gây ra tình trạng viêm dạ dày mãn tính, thường phát triển trong khi không gây ra bất kỳ triệu chứng nổi bật nào.
Để phòng ngừa nhiễm khuẩn HP gây viêm loét dạ dày, các gia đình cần chú ý thực hiện nghiêm túc những hướng dẫn sau: Không dùng chung dụng cụ ăn uống trong gia đình như bát nước chấm, hạn chế gắp thức ăn cho nhau. Cẩn thận khi ăn uống tại các hàng quán ven đường vì các dụng cụ ăn uống thường không được vệ sinh sạch sẽ. Nên diệt trừ ruồi, muỗi, gián, chuột; giữ gìn vệ sinh chén đũa sạch sẽ, ngâm các dụng cụ ăn uống trong gia đình trong nước sôi. Không hôn trẻ, mớm đồ ăn cho trẻ. Không nên trộn đồ ăn cho trẻ nhỏ bằng đũa của mình. Các vật nuôi như chó, mèo cũng là nguồn lây nhiễm vi khuẩn Helicobacter Pylori nên bạn cần vệ sinh sạch sẽ cho thú cưng. Hạn chế ăn đồ sống như rau sống, gỏi hay thức ăn lên men như mắm tôm, mắm ruốc vì các loại thực phẩm này thường không được vệ sinh sạch sẽ, dễ gây các bệnh đường tiêu hóa, trong đó có nhiễm khuẩn HP. Vi khuẩn HP chính là nguyên nhân nghiêm trọng gây viêm loét dạ dày. Vì vậy, nếu muốn phòng bệnh hiệu quả thì chúng ta cần phải kiểm soát con đường lây nhiễm loại vi khuẩn này.
Phát biểu tại Hội nghị, GS.TS Nguyễn Khánh Trạch – Chủ tịch Hội Nội khoa Việt Nam đánh giá những nghiên cứu này của Viện là đáng giá, nhất là chỉ mới sau một năm thành lập. Việc khám, điều trị được thống kê, tổng kết thành báo cáo khoa học để từ đó trao đổi với các đồng nghiệp là điều đáng hoan nghênh. Tuy nhiên, đây mới chỉ là giai đoạn 1 của nghiên cứu khoa học. Giai đoạn tiếp theo là nghiên cứu chỉ định việc dùng thuốc thế nào cho đúng. Bởi điều trị bệnh liên quan đến vi khuẩn H.p dùng đúng thuốc ngay từ đầu khỏi đến khoảng 50%. Nếu không điều trị dứt điểm ngay từ đầu thì các đợt tái phát sau điều trị rất khó khăn.
“Trong thời gian tới, Hội Nội khoa Việt Nam sẽ có hội nghị khoa học toàn quốc và đề nghị Viện trình bày báo cáo khoa học này cụ thể hơn để tìm hướng điều trị hiệu quả nhất”, GS.TS Nguyễn Khánh Trạch chia sẻ.
Hội nghị Khoa học tiêu hóa, gan mật, kỷ niệm một năm thành lập với sự tham gia của gần 400 bác sĩ, điều dưỡng, kĩ thuật viên và các nhà khoa học, chuyên gia đến từ nhiều tỉnh, thành trong cả nước, Hội nghị không chỉ cung cấp những thông tin bổ ích về kết quả các nghiên cứu đã tiến hành tại Viện mà còn là cơ hội để mở rộng giao lưu, hợp tác và phát triển các ý tưởng mới.
Lê Mai https://suckhoedoisong.vn/sos-tre-em-la-doi-tuong-co-nguy-co-nhiem-vi-khuan-hp-cao-nhat-n158041.html
Fanpage
Youtube


















